Tái Phục (chữ Hán: 載茯; 1 tháng 11 năm 1809 - 30 tháng 10 năm 1862), Ái Tân Giác La, là một Tông thất của nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc.

Cuộc đờiSửa đổi

Tái Phục sinh vào ngày 24 tháng 9 (âm lịch) năm Gia Khánh thứ 14 (1809), trong gia tộc Ái Tân Giác La (爱新觉罗). Ông là con trai trưởng của Phụng ân Phụ quốc công Dịch Lễ (奕禮), mẹ ông là Đích Phu nhân Phú Sát thị (富察氏).[1]

Năm Đạo Quang thứ 8 (1828), tháng 6, ông nhậm chức Tứ đẳng Thị vệ (四等侍衛).

Năm thứ 18 (1838), tháng 12, ông được phong tước Nhị đẳng Phụ quốc Tướng quân (二等輔國將軍).

Năm thứ 22 (1842), được thăng làm Nhị đẳng Thị vệ (二等侍衛).

Năm thứ 29 (1849), tháng 7, phụ thân ông qua đời, ông được tập tước Hằng Thân vương (恆親王) đời thứ 10, nhưng Hằng vương phủ không phải thừa kế võng thế, nên ông chỉ được phong làm Phụng ân Phụ quốc công (奉恩輔國公).

Năm Hàm Phong nguyên niên (1851), tháng 3, ông nhận mệnh trông coi Thanh Đông lăng.

Năm thứ 4 (1854), tháng 2, ông trở thành Tương Bạch kỳ Tổng tộc trưởng (鑲白旗總族長).

Năm thứ 6 (1856), tháng 9, ông nhận mệnh trông coi Thanh Tây lăng.

Năm thứ 11 (1861), tháng 10, trở thành Chính Lam kỳ Tổng tộc trưởng (正藍旗總族長).

Năm Đồng Trị nguyên niên (1862), ngày 8 tháng 9 (âm lịch), ông qua đời, thọ 54 tuổi.

Gia quyếnSửa đổi

Đích Phu nhânSửa đổi

  • Hoàn Nhan thị (完顏氏), con gái của Quý Lân (貴麟).

Thứ thiếpSửa đổi

  • Hàn thị (韓氏), con gái của Đức Phúc (德福).

Hậu duệSửa đổi

Con traiSửa đổi

  1. Phổ Tuyền (溥泉; 1836 - 1864), mẹ là Thứ thiếp Hàn thị. Năm 1863 được tập tước Hằng Thân vương (恆親王) và được phong Bất nhập Bát phân Phụ quốc công (不入八分輔國公). Có một con trai.

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ “Ái Tân Giác La Tông phổ”.