Tái Trác (chữ Hán: 載卓; 2 tháng 11 năm 1849 - 11 tháng 6 năm 1907), Ái Tân Giác La, là một Tông thất của nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc.

Cuộc đờiSửa đổi

Tái Trác sinh vào giờ Sửu, ngày 18 tháng 9 (âm lịch) năm Đạo Quang thứ 29 (1849), trong gia tộc Ái Tân Giác La. Ông là con trai thứ ba của Phụng ân Trấn quốc Khác Thận công Dịch Tương, mẹ ông là Thứ thiếp Từ thị (徐氏).

Năm Đồng Trị thứ 12 (1874), tháng 6, ông nhậm chức Bút thiếp thức (筆帖式).

Năm Quang Tự thứ 4 (1878), tháng 2, thụ Ủy thự Chủ sự (委署主事).

Năm thứ 7 (1881), tháng 7, phụ thân ông qua đời, ông được tập tước Quả Thân vương đời thứ 8, nhưng Quả vương phủ không phải thừa kế võng thế, nên ông chỉ được phong làm Phụng ân Phụ quốc công (奉恩輔國公).

Năm thứ 8 (1882), tháng 2, ông nhận mệnh trông coi Thanh Tây lăng.

Năm thứ 11 (1885), tháng 6, ông trở thành Tộc trưởng của Hữu dực cận chi Đệ nhị tộc (右翼近支第二族族長) [1].

Năm thứ 15 (1889), tháng giêng, nhậm Tán trật đại thần.

Năm thứ 24 (1898), tháng 3, nhậm Tả dực Tiên phong Thống lĩnh (左翼前鋒統領). Tháng 5 cùng năm, lại nhậm Lưỡng dực Tiên phong Hộ quân Luyện binh đại thần (兩翼前鋒護軍練兵大臣). Tháng 6, quản lý sự vụ Chính Bạch kỳ Hán quân Tân Cựu doanh trại (正白旗漢軍新舊營房). Tháng 9, thụ Tương Hồng kỳ Hộ quân Thống lĩnh.

Năm thứ 25 (1899), nhậm Phó Đô thống Hán quân Chính Hồng kỳ (正紅旗漢軍副都統).

Năm thứ 26 (1900), tháng 2, lại điều làm Phó Đô thống Hán quân Tương Hồng kỳ, trở thành Tổng tộc trưởng của Chính Hồng kỳ (正紅旗總族長) [2]. Tháng 6 điều bổ Tương Hoàng kỳ Hộ quân Thống lĩnh.

Năm thứ 27 (1901), tháng 12, nhậm Quản yến đại thần (管宴大臣).

Năm thứ 28 (1902), tháng 4, thụ Hữu dực Tra thành đại thần (右翼查城大臣), Nội đại thần (內大臣), quản lý sự vụ Kiện duệ doanh (健銳營事務). Tháng 12 cùng năm, điều làm Đô thống Hán quân Chính Lam kỳ.

Năm thứ 29 (1903), tháng 3, thụ Duyệt binh đại thần (值年大臣).

Năm thứ 30 (1904), tháng 12, quản lý sử vụ Tổng tộc trưởng của Chính Hồng kỳ (正紅旗總族長) [2].

Năm thứ 32 (1906), tháng giêng, thụ Tướng quân của Kinh Châu (荆州將軍).

Năm thứ 33 (1907), ngày 1 tháng 5 (âm lịch), giờ Hợi, ông qua đời, thọ 59 tuổi.

Gia quyếnSửa đổi

  • Đích Phu nhân: Qua Nhĩ Giai thị (瓜爾佳氏), con gái của Viên ngoại lang Tung Tụ (嵩岫).
  • Con trai: Phổ Diêm (溥䦒; 1884 - 1918), mẹ là Đích Phu nhân Qua Nhĩ Giai thị. Năm 1907 được tập tước Quả Thân vương (果親王) và được phong Phụng ân Trấn quốc công (奉恩鎭國公). Vô tự.

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Những năm Ung Chính, kỳ tịch của Tông thất (Cận chi) được chia theo "Tả dực" (gồm Tương Hoàng, Chính Bạch, Tương Bạch, Chính Lam) cùng "Hữu dực". Mỗi "dực" sẽ được chia làm 20 "Tộc" (như Tả dực có Tương Hoàng 1 tộc, Chính Bạch 3 tộc, Tương Bạch 3 tộc, Chính Lam 13 tộc). Ở mỗi "Tộc" như vậy sẽ thiếp lập 1 "Tộc trưởng", 1-3 "Học trưởng" tùy theo nhân khẩu của Kỳ. Đến những năm Càn Long đã quy định lại: 40 tộc "Cận chi" được chia trước đây trở thành "Viễn chi Tông thất", lại thiết lập vài cái "Cận chi" mới. Sau tiếp tục quy định, Cận chi chia làm 6 tộc, Tả dực 2 tộc, Hữu dực 4 tộc. Mỗi tộc thiết lập 1 Tộc trưởng, 2 Học trưởng.
  2. ^ a ă Những năm Ung Chính, kỳ tịch của Tông thất (Cận chi) được chia theo "Tả dực" (gồm Tương Hoàng, Chính Bạch, Tương Bạch, Chính Lam) cùng "Hữu dực". Mỗi "dực" sẽ được chia làm 20 "Tộc" (như Tả dực có Tương Hoàng 1 tộc, Chính Bạch 3 tộc, Tương Bạch 3 tộc, Chính Lam 13 tộc). Vậy tổng cộng là 40 tộc với 40 Tộc trưởng. Đến những năm Càn Long, tất cả 40 tộc này được xếp vào "Viễn chi", thiết lập 16 "Tổng tộc trưởng". Mỗi Tổng tộc trưởng đều do đích thân Hoàng Đế bổ nhiệm, có thể không thuộc kỳ mình quản lý.

Tham khảoSửa đổi