Đồng bằng sông Cửu Long

vùng hành chính ở Tây Nam Việt Nam
(đổi hướng từ Tây Nam Bộ)

Vùng đồng bằng sông Cửu Long (còn được gọi là Vùng đồng bằng sông Mê Kông, Vùng đồng bằng Nam Bộ, Vùng Tây Nam Bộ, Cửu Long hoặc Miền Tây Nam Bộ) là vùng cực nam của Việt Nam, một trong hai phần của Nam Bộ. Khu vực này có 1 thành phố trực thuộc trung ương là thành phố Cần Thơ và 13 tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cần ThơCà Mau. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam năm 2019, Đồng bằng sông Cửu Longđồng bằng có tổng diện tích các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương lớn nhất Việt Nam (40.547,2 km²) và có tổng dân số toàn vùng là 17.367.169 người. Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 13% diện tích cả nước nhưng có gần 18% dân số cả nước, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn cả nước (năm 2015 tăng 7,8% trong khi cả nước tăng 6,8%). Chỉ riêng lúa đã chiếm 47% diện tích và 56% sản lượng lúa cả nước; xuất khẩu gạo từ toàn vùng chiếm tới 90% sản lượng. Chưa kể thủy sản chiếm 70% diện tích, 40% sản lượng và 60% xuất khẩu cả nước,... Tuy nhiên, Đồng bằng sông Cửu Long đứng về phương diện thu nhập vẫn còn thấp hơn cả nước: thu nhập bình quân đầu người với mức 54 triệu đồng (cả nước là 64 triệu đồng/người/năm).

Vị trí vùng Đồng bằng sông Cửu Long trên bản đồ Việt Nam

Giới thiệu sơ lượcSửa đổi

Đồng bằng sông Cửu Long, hoặc gọi tam giác châu sông Mê Kông, ở vào điểm cực nam của Việt Nam, điểm đông nam của Campuchia, là vùng đất màu mỡ nhất và có nhân khẩu tụ tập đông nhất ở Việt Nam, cũng là đồng bằng lớn nhất ở khu vực Đông Nam Á. Ở chỗ này có mạng lưới sông phân bố dày đặc, đi thuyền nhỏ, ngao du tự tại ở các sông ngòi đan chéo lẫn nhau, ruộng lúa bát ngát, vườn trái cây bay hương bốn mùa, hớn hở thưởng thức bài nhạc cải lương, đờn ca tài tử, nếm thử vị ngọt thơm của trái cây nhiệt đới và món ngon dân gian phương nam, cảm thụ phong thổ nhân tình chân chất của người miền nam Việt Nam, thêm nữa ta có thể nghe được rất nhiều truyện kể dân gian của rất nhiều đời tương truyền, gợi lên liên tưởng thích chí.

Sông Mê Kông bắt nguồn ở huyện Zadoi, châu tự trị dân tộc Tạng Ngọc Thụ, tỉnh Thanh Hải, Trung Quốc, ở Trung Quốc gọi là sông Lan Thương. Sau khi qua tỉnh Vân Nam ra khỏi biên giới Trung Quốc, chảy qua Myanmar, Lào, Thái LanCampuchia, sau đó chảy vào biển Đông ở các cửa sông của miền nam Việt Nam.

Đồng bằng sông Cửu Long bao gồm bao gồm 13 tỉnh thành: thành phố Cần Thơ, tỉnh An Giang, tỉnh Đồng Tháp, tỉnh Long An, tỉnh Tiền Giang, tỉnh Vĩnh Long, tỉnh Bến Tre, tỉnh Trà Vinh, tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Hậu Giang, tỉnh Bạc Liêu, tỉnh Cà Mautỉnh Kiên Giang.

Vào khoảng thời gian chiến tranh Việt Nam, Bộ tư lệnh Quân sự Hoa Kì viện trợ Việt Nam (MACV) và đội du kích Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đều sai cử đội tàu tuần tra tốc độ nhanh đến vùng này, nhằm tác chiến ven sông ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, là thí dụ mẫu mực điển hình cho lịch sử tác chiến của hải quân nước nâu.

Vùng đất này có sẵn cánh đồng lúa lớn, các ruộng đất trồng trọt ở sát gần chỗ đó cực kì màu mỡ, lúa nước ở chỗ này được thu hoạch bảy lần trong hai năm.

Cư dân ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long bây giờ chủ yếu là người Việt, người bản địa người Khmer sinh sống chủ yếu ở tỉnh Trà Vinh, tỉnh Sóc Trăng và tỉnh An Giang. Vẫn có người Hoa quy mô tương đương ở tỉnh Kiên Giang và tỉnh Trà Vinh, một phần có thể truy nguyên đến khoảng thời gian cuối nhà Minh đầu nhà Thanh do Mạc Cửu tuyển mộ di cư.

Địa lýSửa đổi

 
Vị trí vùng Đồng bằng sông Cửu Long trên bản đồ Việt Nam (Màu xanh lá cây nhạt).

Đồng bằng sông Cửu Long là bộ phận của châu thổ sông Mê Kông có diện tích 40,6 nghìn km². Có vị trí nằm liền kề vùng Đông Nam Bộ, phía Bắc giáp Campuchia, phía Tây Namvịnh Thái Lan, phía Đông NamBiển Đông.

Các điểm cực của đồng bằng trên đất liền gồm điểm cực Tây ở phường Mỹ Đức, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang; cực Đông ở xã Thừa Đức, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre; cực Bắc ở xã Hưng Điền A, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An; cực Nam ở xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau. Ngoài ra, còn có các đảo xa bờ của Việt Nam như đảo Phú Quốc, quần đảo Thổ Chu, quần đảo Hòn Khoai.

Đồng bằng sông Cửu Long gồm ba tiểu vùng. Vùng cao ở phía tây gồm các tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long là Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, phần phía tây các tỉnh Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Hậu Giang và phần phía đông Kiên Giang. Đây là vùng thường bị ngập vào mùa mưa bởi nước sông Cửu Long dâng lên. Vùng thấp ở duyên hải phía đông gồm các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau, phần phía đông Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Hậu Giang và phần ven biển Kiên Giang. Đây là vùng thường bị mặn xâm nhập vào mùa khô.

Địa mạo địa hìnhSửa đổi

Tam giác châu sông Mê Kông là đồng bằng bồi tích do hạ lưu sông Mê Kông và chín đường rẽ của nó chảy vào biển Đông mà hình thành nên, là đồng bằng lớn nhất Việt Nam, diện tích chừng 40 ngàn kilômét vuông. Chiều cao trung bình so với mực nước biển không đến 2 mét, nhiều dòng sôngao đầm. 60-70% dân số làm nông nghiệp ở miền nam Việt Nam tập trung ở chỗ đó, là chỗ sản xuất lúa gạo chủ yếu ở Việt Nam, cũng là một trong những khu sản xuất gạo nổi tiếng ở Đông Nam Á. Sông Mê Kông về phía dưới Phnôm Pênh chia thành hai nhánh, ở trong nước Việt Nam gọi là sông Tiềnsông Hậu, hai sông này đem tam giác châu chia thành ba phần, về phía nam sông Hậu là bán đảo Cà Mau, bởi vì ứ tích bùncát của sông Mê Kông cho nên bán đảo mỗi năm kéo dài 60 - 80 mét hướng về ven biển phía tây nam. Bãi biển ở phía tây bán đảo đủ dài tạo thành rừng ngập mặn đặc biệt chỉ có ở miền nhiệt đới, bên trong vùng đất có nhiều ruộng lúa nước và rừng rậm nhiệt đới. Ở giữa sông Tiền và sông Hậu là đồng bằng màu mỡ và bằng phẳng, kênh mương dày đặc như mạng nhện. Bộ phận về phía bắc sông Tiền chia ra, phía tây là Đồng Tháp Mười, thực tế là vùng ao đầm, mùa mưa tạo thành một bãi nước rộng lớn bao la, chiều sâu của nước là từ 3 mét trở xuống, mùa khô cạn nước cũng đến đầu gối, sản xuất nhiều củ sen và lúa nước nổi, phía đông là đồng bằng Đồng Nai.

Vùng đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam được hình thành từ những trầm tích phù sa và bồi dần qua những kỷ nguyên thay đổi mực nước biển; qua từng giai đoạn kéo theo sự hình thành những giồng cát (đất bằng) dọc theo bờ biển. Những hoạt động hỗn hợp của sông và biển đã hình thành những vạt đất phù sa phì nhiêu dọc theo đê ven sông lẫn dọc theo một số giồng cát ven biển và đất phèn trên trầm tích đầm mặn trũng thấp như vùng Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên – Hà Tiên, tây nam sông Hậu (khu vực ngã ba Hậu Giang, Bạc Liêu và Cà Mau) ở bán đảo Cà Mau.

Cách đây khoảng 8.000 năm, vùng ven biển cũ trải rộng dọc theo triền phù sa cổ thuộc trầm tích Pleistocen từ Hà Tiên đến thềm bình nguyên Đông Nam Bộ. Sự hạ thấp của mực nước biển một cách đồng thời với việc lộ ra từng phần vùng đồng bằng vào giai đoạn cuối của thời kỳ trầm tích Pleistocen. Một mẫu than ở tầng mặt đất này được xác định tuổi bằng C14 cho thấy nó có tuổi tuyệt đối là 8.000 năm (Ngộ, 1988). Sau thời kỳ băng hà cuối cùng, mực mước biển dâng cao tương đối nhanh chóng vào khoảng 3–4 m trong suốt giai đoạn khoảng 1.000 năm,[1] gây ra sự lắng tụ của các vật liệu trầm tích biển ở những chỗ trũng thấp của châu thổ; tại đây những sinh vật biển như hàu (Ostrea) được tìm thấy và việc xác định tuổi tuyệt đối của chúng bằng C14 cho thấy trầm tích này được hình thành cách đây khoảng 5.680 năm (Ngộ, 1988).

Dưới những ảnh hưởng của môi trường biển và nước lợ, thực vật rừng ngập mặn dày đặc đã bao phủ toàn vùng này, chủ yếu là những cây đước (Rhizophora sp.) và mắm (Avicennia sp.). Những thực vật chịu mặn này đã tạo thuận lợi cho việc giữ lại các vật liệu lắng tụ, làm giảm sự xói mòn do nước hoặc gió, và cung cấp sinh khối cho trầm tích châu thổ (Morisawa M., 1985), và rồi những đầm lầy biển được hình thành. Tại vùng này, cách đây 5.500 năm trước công nguyên, trầm tích lắng tụ theo chiều dọc dưới điều kiện mực nước biển dâng cao đã hình thành những cánh đồng rộng lớn mang vật liệu sét. Sự lắng tụ kéo dài của các vật liệu trầm tích bên dưới những cánh rừng Đước dày đặc đã tích lũy dần để hình thành một địa tầng chứa nhiều vật liệu sinh phèn (pyrit).

Mực nước biển dâng cao, bao phủ cả vùng như thế hầu như hơi không ổn định và bắt đầu có sự giảm xuống cách đây vào khoảng 5.000 năm (Pons L. J. và những người khác, 1982). Sự hạ thấp mực nước biển dẫn đến việc hình thành một mực nước biển mới, sau mỗi giai đoạn như thế thì có một bờ biển mới được hình thành, và cuối cùng hình thành nên những vạt cồn cát chạy song song với bờ biển hiện tại mà người ta thấy ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Một cồn cát chia cắt vùng Đồng Tháp Mười và vùng trầm tích phù sa được xác định tuổi bằng C14 cho thấy có tuổi tuyệt đối vào khoảng 4.500 năm (Ngộ, 1988).

Sự hạ dần của mực nước kèm theo những thay đổi về môi trường trong vùng đầm lầy biển, mà ở đây những thực vật chịu mặn mọc dày đặc (Rhizophora sp., Avicinnia sp.) được thay thế bởi những loài thực vật khác của môi trường nước ngọt như tràm (Melaleuca sp.) và những loài thực thực vật hoang dại khác (Fimbristylis sp.,Cyperus sp.). Sự ổn định của mực nước biển dẫn đến một sự bồi lắng trầm tích ven biển khá nhanh với vật liệu sinh phèn thấp hơn (Pons L. J. và những người khác, 1989).

Sự tham gia của sông Cửu Long đóng vai trò rất quan trọng trong suốt quá trình hình thành vùng châu thổ. Lượng nước trung bình hàng năm của sông này cung cấp vào khoảng 4.000 tỷ m³ nước và vào khoảng 100 triệu tấn vật liệu phù sa (Morgan F. R., 1961), những mảnh vỡ bị bào mòn từ lưu vực sông, mặc dù một phần có thể dừng lại tạm thời dọc theo hướng chảy, cuối cùng được mang đến cửa sông và được lắng tụ như một châu thổ (Morisawa, 1985). Những vật liệu sông được lắng tụ dọc theo sông để hình thành những đê tự nhiên có chiều cao 3–4 m, và một phần của những vật liệu phù sa phủ lên trên những trầm tích pyrit thời kỳ Holocen với sự biến thiên khá rộng về độ dày tầng đất vùng và không gian vùng (Pons L. J. và csv., 1982). Các con sông nằm được chia cắt với trầm tích đê phù sa nhưng những vùng rộng lớn mang vật liệu trầm tích biển chứa phèn tiềm tàng vẫn còn lộ ra trong vùng đầm lầy biển (Moormann, 1961). Tuy nhiên, độ chua tiềm tàng không xuất hiện trong vùng phụ cận của những nhánh sông gần cửa sông mà tại đây ảnh hưởng rửa bởi thủy triều khá mạnh. Ngược lại, vùng châu thổ sông Sài Gòn, nằm kế bên hạ lưu châu thổ sông Mekong, được biểu thị bởi một tốc độ bồi lắng ven biển khá chậm do lượng vật liệu phù du trong nước sông khá thấp và châu thổ này bị chia cắt bởi nhiều nhánh sông thủy triều và do bởi những vành đai thực vật chịu mặn thì rộng lớn hơn vành đai này ở vùng châu thổ sông Mekong, và kết quả là trầm tích của chúng chứa nhiều axít tiềm tàng (Moormann và Pons, 1974).

Khí hậuSửa đổi

Lưu vực tam giác châu sông Mê Kông ở vào trung tâm miền gió mùa nhiệt đới của châu Á, từ tháng 5 đến cuối tháng 9 bị ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam đến từ biển cả, ẩm ướt nhiều mưa, từ tháng 5 đến tháng 10 là mùa mưa; từ tháng 11 đến trung tuần tháng 3 năm liền sau bị ảnh hưởng gió mùa Đông Bắc đến từ đất liền, khô khan ít mưa, từ tháng 10 đến tháng 11 là mùa khô, từ tháng 9 đến tháng 3 năm liền sau có thuỷ triều sáng và tối.

Mưa dông có cường độ rất lớn, thời gian xảy ra khá ngắn, phạm vi ảnh hưởng khá nhỏ đều rất thường xuyên trong suốt mùa mưa; mưa xuống có thời gian xảy ra khá dài, phạm vi rất lớn thường xuyên nhất vào tháng 9, có thể dẫn đến nước lũ dâng lên tràn ngập một cách nghiêm trọng, nhưng mà sự ảnh hưởng của nó phần nhiều chỉ giới hạn ở khu vực tam giác châu và vùng đất phía tây lưu vực, đôi khi xuyên qua đất liền khiến phạm vi lớn hơn bị mưa lớn đánh bất ngờ trong khoảng thời gian dài. Bởi vì mùa tiết của mưa phân bố không đồng đều, các nơi ở lưu vực mỗi năm đều phải trải qua một đợt hạn hán có cường độ và thời gian xảy ra khác nhau.

 
Đồng bằng sông Cửu Long nhìn từ không gian, tháng 2 năm 1996

Đây là vùng có khí hậu cận xích đạo nên thuận lợi phát triển ngành nông nghiệp (mưa nhiều, nắng nóng) đặc biệt là phát triển trồng lúa nước và cây lương thực.

Thuỷ vănSửa đổi

Tam giác châu sông Mê Kông có lượng nước chảy vào biển trung bình nhiều năm là 475 tỉ mét khối. Trữ lượng lí thuyết thuỷ năng ở lưu vực sông Mê Kông là 58 triệu kilowatt, thuỷ năng được khai phát ước tính là 37 triệu kilowatt, lượng phát điện hằng năm là 180 tỉ kilowatt giờ, trong đó 33% ở Campuchia và 51% ở Lào. Thuỷ năng chưa khai phát không đến 1%.

Dòng chảy ở lưu vực tam giác châu sông Mê Kông đến từ mưa, bởi vì ảnh hưởng gió mùa không thay đổi hằng năm, cho nên đường tiến trình mức nước chủ yếu từ một năm thuỷ văn trước đến một năm thuỷ văn sau hầu như không thay đổi, chênh lệch giữa mức nước cao và mức nước thấp không lớn. Nếu quy định lưu lượng mức nước cao hằng năm là trên 110% lưu lượng trung bình nhiều năm, lưu lượng mức nước thấp hằng năm là dưới 90% lưu lượng trung bình nhiều năm, như vậy xác suất xuất hiện năm nước cao, năm nước bằng, năm nước thấp khoảng chừng là 25%, 50%, 25% đo ở trạm Viêng Chăn, Lào, là 20%, 60%, 20% đo ở trạm Kratié, Campuchia.

 
Đồng cỏ ở Đồng Tháp Mười
 
Ghe chở chôm chôm
trên sông Cửu Long
 
Thuyền ghe ở Đồng bằng
châu thổ sông Cửu Long

Về phía tây, Đồng bằng sông Cửu Long được giới hạn bởi sông Châu Đốckênh Vĩnh Tế một dòng kênh nhân tạo chảy dọc theo biên giới Việt Nam-Campuchia, nhận nước sông Hậu Giang qua sông Châu Đốc tại Thành phố Châu Đốc đổ nước ra Vịnh Thái Lan, giới hạn một vùng đất thấp ngập nước theo mùa gọi là Tứ giác Long Xuyên.

Ở khu vực giữa hai dòng sông Hậu và sông Tiền, Đồng bằng sông Cửu Long được giới hạn đầu nguồn bởi các dòng kênh nối ngang tại 2 huyện thị đầu nguồn Tân ChâuAn Phú của tỉnh An Giang như kênh Vĩnh An,...

Về phía đông bắc và đông, Đồng bằng sông Cửu Long được giới hạn bằng hàng loạt các dòng sông kênh rạch liên thông với nhau, chảy dọc theo biên giới Việt Nam-Campuchia, (giới hạn vùng đất trũng khác ngập nước theo mùa là vùng Đồng Tháp Mười), và đều là phân lưu của sông Mekong: hoặc trực tiếp của dòng chính sông Tiền Giang, hay nhận nước gián tiếp qua một phân lưu chính của Mekong là Preak Banam đổ ra biển Đông qua sông Vàm Cỏ Tây (sông Vàm Cỏ) và các cửa của sông Cửu Long. Giới hạn phía đông bắc và đông của Đồng bắng sông Cửu Long là các dòng sông kênh rạch sau: sông Sở Thượng (chảy trên biên giới Việt Nam-Campuchia, nhận nước sông Mekong qua Preak Banam), sông Sở Hạ (chảy trên biên giới Việt Nam-Campuchia, nhận nước sông Mekong qua Preak Trabeak phân lưu của Preak Banam), rạch Cái Cỏ (chảy trên biên giới Việt Nam-Campuchia,[2] là ranh giới phía bắc của Đồng Tháp Mười,[3] nhận nước sông Mekong qua Preak Trabeak một thượng lưu của sông Sở Hạ và rạch Long Khốt), rạch Long Khốt (nhận nước sông Mekong qua Preak Trabeak và Cái Cỏ, thượng nguồn của sông Vàm Cỏ Tây), sông Vàm Cỏ Tây (nhận nước sông Mekong qua rạch Long Khốt và các kênh rạch nối thông với sông Tiền Giang), sông Vàm Cỏ (nhận nước sông Mekong qua sông Vàm Cỏ Tây và các kênh rạch nối thông với sông Tiền Giang), và cuối cùng là sông Soài Rạp (nhận nước sông Mekong qua sông Vàm Cỏ). Các sông Vàm Cỏ Tây, Vàm Cỏ, Soài Rạp mặc dù thuộc hệ thống sông Sài Gòn-Đồng Nai, là hệ thống sông thuộc địa bàn Miền Đông Nam Bộ, nhưng chúng là những dòng sông cuối cùng nhận nước từ sông Mekong về phía đông, đồng thời một trong số chúng (sông Soài Rạp) là ranh giới tự nhiên của 2 tỉnh phía đông Đồng bằng sông Cửu Long là Long AnTiền Giang với tỉnh thành phía tây của Miền Đông Nam BộThành phố Hồ Chí Minh, nên lưu vực các sông rạch này (chính là địa bàn tỉnh Long An) cũng là địa bàn ranh giới tận cùng phía đông của Đồng bằng sông Cửu Long với Miền Đồng Nam Bộ.

Biến đổi khí hậu và thiên taiSửa đổi

Theo công bố của Bộ Tài nguyên và Môi trường (Việt Nam), khoảng 40% vùng đồng bằng sông Cửu Long có thể bị ngập trong nước biển do biến đổi khí hậu.[4] Bên cạnh đó do ảnh hưởng của hiện tượng Elnino, nhiều vùng ven biển của Đồng bằng sông Cửu Long gặp tình trạng hạn hán và nước mặn xâm nhập sâu vào nội địa. Mặt khác trong khi nước biển dâng lên, thì "tình trạng khai thác nước ngầm quá mức là một trong những nguyên nhân gây sụt lún đất ở khu vực TP.HCM và vùng đồng bằng sông Cửu Long".[5][6] Những đề xuất về "bơm bù nước ngầm" để giảm sụt lún thì không được quan tâm thực hiện.[7]

Ngoài ra tác động ở thượng nguồn như nạn phá rừng và một loạt các đập nước đang đưa vào kế hoạch ở Hoa lục, Lào, và Campuchia đã giảm thiểu lượng phù sa bồi đắp ở các cửa sông, khiến vùng ven biển bị ngập dần. So với năm 1990 khi sông Cửu Long đưa 160 triệu tấn phù sa ra biển thì số lượng vào năm 2015 chỉ còn 75 triệu tấn, giảm hơn phân nửa. Lượng phù sa dù ra đến gần biển cũng bị trút bớt vì con người dùng sỏi cát vào các công trình xây cất, gây thiệt hại trầm trọng đến viễn cảnh sống còn của vùng đồng bằng.

Theo nghiên cứu của Trường Đại học Cần Thơ thì biến đổi khí hậu và hiện tượng ấm lên toàn cầu sẽ làm mực nước biển dâng lên. Nếu dâng 1 mét thì 20% đồng bằng châu thổ sẽ bị đe dọa. Dâng 2 mét diện tích đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị xóa còn phân nửa, ảnh hưởng trầm trọng đến đời sống 15 triệu dân.

Năm 2016, Đồng bằng sông Cửu Long hứng chịu đợt hạn hánxâm nhập mặn nặng nề nhất trong vòng 100 năm, gây thiệt hại hơn 160.000ha lúa, tương đương 800.000 tấn lúa bị mất trắng, với mỗi gia đình có diện tích sản xuất khoảng 0,5ha, thì xâm nhập mặn đã làm khoảng 300.000 hộ gia đình (khoảng 1,5 triệu người) trong những tháng qua không có thu nhập. Các tỉnh bị thiệt hại nặng nhất là Kiên Giang (hơn 54.000 ha), Cà Mau (gần 50.000 ha), Bến Tre (gần 14.000 ha), Bạc Liêu (gần 12.000 ha),... Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã phải công bố tình trạng thiên tai đặc biệt nghiêm trọng.[8] Theo Thứ trưởng Bộ Tài nguyên - môi trường Trần Hồng Hà, ngoài những nguyên nhân như mùa mưa năm 2015 đến muộn và kết thúc sớm, nguyên nhân chính là các vấn đề ở thượng nguồn dòng chảy. Theo Bộ Tài nguyên - môi trường, các hồ chứa trên dòng chính ở phía Trung Quốc có dung tích khoảng 23 tỉ m3, các hồ chứa trên những sông nhánh khoảng 20 tỉ m3. Tổng dung tích này tác động rất lớn đến việc điều tiết nước và lưu lượng dòng chảy về phía hạ lưu. Trong dịp Tết Nguyên đán ở Trung Quốc, nhu cầu năng lượng giảm nên họ tích nước, do vậy vào thời điểm này lượng nước giảm đáng kể, sau đó dòng chảy tăng lên (khi các hồ xả nước để chạy thủy điện). “Tôi khẳng định đây là nguyên nhân cơ bản” - ông Hà nói.[9]

Hành chínhSửa đổi

  • Mục diện tích và dân số ghi theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam.
 
Bản đồ khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (Tây Nam Bộ)
STT Tên tỉnh Tỉnh lỵ[a] Thành phố Thị xã Quận Huyện Diện tích năm 2020
(km²)
Dân số năm 2020
(người)
Mật độ
dân số
(người/km²)
Biển số xe Mã vùng điện thoại
1
Cần Thơ
Quận Ninh Kiều
5
4
1.438,96
1.243.125
864
65
0292
2
An Giang
TP. Long Xuyên
2
1
8
3.536,83
1.904.532
539
67
0296
3
Bạc Liêu
TP. Bạc Liêu
1
1
5
2.669,00
913.481
342
94
0291
4
Bến Tre
TP. Bến Tre
1
8
2.394,00
1.288.463
538
71
0275
5
Long An
TP. Tân An
1
1
13
4.495,00
1.713.658
381
62
0272
6
Cà Mau
TP. Cà Mau
1
8
5.221,19
1.193.894
228
69
0290
7
Sóc Trăng
TP. Sóc Trăng
1
2
8
3.311,87
1.195.741
360
83
0299
8
Hậu Giang
TP. Vị Thanh
2
1
5
1.621,70
726.792
448
95
0293
9
Trà Vinh
TP. Trà Vinh
1
1
7
2.391,00
1.009.940
422
84
0294
10
Đồng Tháp
TP. Cao Lãnh
3
9
3.384,00
1.600.014
473
66
0277
11
Vĩnh Long
TP. Vĩnh Long
1
1
6
1.525,73
1.022.619
670
64
0270
12
Kiên Giang
TP. Rạch Giá
3
12
6.348,78
1.728.869
272
68
0297
13
Tiền Giang
TP. Mỹ Tho
1
2
8
2.510,60
1.772.785
706
63
0273
Tổng 18 10 5 101 40.848,66 17.313.913 424
Nguồn: Dân số và diện tích ngày 31 tháng 12 năm 2020[10]

Hiện tại, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích tự nhiên là 4,661 triệu ha (Tỷ lệ 12,25% so với Tổng diện tích cả nước) với dân số gần 18 triệu người (Tỷ lệ 18,5% so với tổng dân số cả nước), bình quân 440 người trên 1 cây số vuông.

Hiện nay, hầu hết các đô thị vốn trước đây là thị xã tỉnh lỵ của một tỉnh ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đều đã trở thành các thành phố trực thuộc tỉnh (ngoại trừ thành phố Cần Thơ trực thuộc trung ương từ đầu năm 2004). Trong đó, tỉnh Đồng Tháp có ba thành phố là Cao Lãnh, Hồng NgựSa Đéc, tỉnh Kiên Giang có ba thành phố là Rạch Giá, Hà TiênPhú Quốc, tỉnh An Giang có hai thành phố là Long XuyênChâu Đốc, tỉnh Hậu Giang có hai thành phố là Vị ThanhNgã Bảy. Các tỉnh còn lại đều có một thành phố trực thuộc tỉnh.

Trong suốt thời kỳ từ đầu năm 1976 cho đến năm 1999, toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long chỉ có hai thành phố (lúc bấy giờ đều là thành phố trực thuộc tỉnh) là Cần ThơMỹ Tho. Từ năm 1999 đến nay, lần lượt các thị xã được nâng cấp trở thành các thành phố trực thuộc tỉnh.

Các thành phố lập trước năm 1975:

Các thành phố lập từ năm 1999 đến nay:

Xếp loại đô thịSửa đổi

Tính đến ngày 23 tháng 12 năm 2020, vùng Đồng bằng sông Cửu Long có:

Dân cưSửa đổi

Dân cư ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long đa số là người Kinh. Khu vực này trước đây từng là một phần của Đế quốc Khmer, do đó là vùng tập trung người Khmer nhiều nhất bên ngoài nước Campuchia.

Người Khmer sống chủ yếu ở Trà Vinh, Sóc Trăngngười Chăm theo đạo Hồi sống ở Tân Châu, An Giang. Người Hoa sống ở Sóc Trăng 64.910 người, tỉnh Kiên Giang 29.850 người, tỉnh Bạc Liêu 20.082 người (2009). Dân số vùng Đồng bằng sông Cửu Long là 17,33 triệu người vào năm 2011.

Dân số vùng Đồng bằng sông Cửu Long tăng chậm trong những năm gần đây, chủ yếu do di cư đi nơi khác. Dân số vùng tăng 471.600 người từ năm 2005 đến 2011, trong khi đó 166.400 người di cư chỉ trong năm 2011. Tương tự như vùng duyên hải miền Trung, đây là một trong những nơi tăng dân số chậm nhất nước. Tỷ lệ tăng dân số trong khoảng 0,3% đến 0,5% từ năm 2008 đến 2011, trong khi đó tỷ lệ tăng dân số vùng Đông Nam Bộ lân cận là 2%. Tỷ lệ tăng dân số cơ học trong vùng là âm trong những năm này. Tỷ lệ sinh của vùng cũng khá thấp, ở mức 1,8 trẻ em trên mỗi người phụ nữ vào năm 2010 và 2011, giảm từ 2,0 năm 2005.

Kinh tếSửa đổi

Tài nguyênSửa đổi

Đồng bằng sông Cửu Long không giàu khoáng sản. Khoáng sản chủ yếu là than bùn và đá vôi. Ngoài ra đồng bằng còn có các khoáng sản vật liệu xây dựng như sét gạch ngói, cát sỏi....

Tài nguyên rừng cũng giữ những vai trò quan trọng, đặc biệt là hệ thống rừng ngập mặn ven biển lớn nhất Việt Nam, trong đó hệ thống rừng ngập mặn Mũi Cà Mau được công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới, bên cạnh đó là những cánh rừng tràm ở U Minh Cà Mau, Đồng Tháp với một hệ thống sinh học vô cùng đa dạng.

Nông nghiệpSửa đổi

 
Phong cảnh làng quê tại vùng đồng bằng sông Cửu Long với mái nhà rơm làm chuồng bò.
 
Cau được trồng bên đường ở phường Thường Thạnh, thuộc quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ
 
Một cánh đồng ở xã Phú Thuận (Thoại Sơn, An Giang, Việt Nam) vào mùa nước nổi.
 
Triển khai nghị quyết 120, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phân định đồng bằng sông Cửu Long thành ba vùng sản xuất:
  Vùng thượng: Trồng lúa, rau màu, nuôi trồng thủy sản nước ngọt.
  Vùng giữa: Trồng cây ăn quả.
  Vùng ven biển: Thâm canh, luân canh tôm – lúa, nuôi trồng thủy sản nước mặn, nước lợ.

Mặc dù diện tích canh tác nông nghiệp và thủy sản chưa tới 30% của cả nước nhưng miền Tây đóng góp hơn 50% diện tích lúa, 71% diện tích nuôi trồng thủy sản, 30% giá trị sản xuất nông nghiệp và 54% sản lượng thủy sản của cả nước.[27] Lúa trồng nhiều nhất ở các tỉnh An Giang, Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang. Diện tích và sản lượng thu hoạch chiếm hơn 50% so với cả nước. Bình quân lương thực đầu người gấp 2,3 lần so với lương thực trung bình cả nước. Nhờ vậy nên Đồng bằng sông Cửu Long là nơi xuất khẩu gạo chủ lực của cả đất nước. Ngoài ra cây ăn quả còn là đặc sản nổi tiếng của vùng, với sự đa dạng về số lượng, cũng như chất lượng ngày càng được nâng cao

Nghề nuôi vịt đàn phát triển mạnh, nuôi nhiều ở Đồng Tháp, Hậu Giang, Bạc Liêu, Cà MauSóc Trăng.

Thủy sảnSửa đổi

Sản lượng thủy sản chiếm 50% cả nước, nhiều nhất ở các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên GiangAn Giang. Kiên Giang là tỉnh có sản lượng thủy sản săn bắt nhiều nhất, 239.219 tấn thủy sản (năm 2000). An Giang là tỉnh nuôi trồng thủy sản lớn nhất vùng với sản lượng 80.000 tấn thủy sản (năm 2000). Nghề nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản đang phát triển mạnh, theo quy mô công nghiệp.

Công nghiệpSửa đổi

Ngành công nghiệp phát triển rất thấp, chủ yếu là ngành chế biến lượng thực. Cần Thơ là trung tâm công nghiệp của cả vùng bao gồm các ngành nhiệt điện, chế biến lương thực, luyện kim đen, cơ khí, hóa chất, dệt mayvật liệu xây dựng.

Dịch vụSửa đổi

 
Chèo thuyền trên sông.

Khu vực dịch vụ của vùng Đồng bằng sông Cửu Long bao gồm các ngành chủ yếu: xuất nhập khẩu, vận tải thủy và du lịch. Xuất khẩu gạo chiếm 80% của cả nước. Giao thông đường thủy giữ vai trò quan trọng nhất.

Du lịch biển chủ yếu ở Kiên Giang với thắng cảnh đẹp ở Hà Tiên, Phú Quốc.

Du lịch tâm linh với nhiều chùa đẹp ở Châu Đốc, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Trà Vinh.

Du lịch sinh thái bắt đầu khởi sắc như du lịch trên sông nước, vườn, khám phá các cù lao. Du lịch bền vững bước đầu hình thành với sự thành công của khu nghỉ dưỡng bền vững Mekong Lodge tại Tiền Giang và nhiều địa phương khác như Bến Tre, Vĩnh Long, Cà Mau, Đồng Tháp. Tuy nhiên chất lượng và sức cạnh tranh của các khu du lịch không đồng đều và còn nhiều hạn chế.

Vùng đô thị Kinh tế trọng điểm Đồng bằng sông Cửu LongSửa đổi

Vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long là tên gọi khu vực phát triển kinh tế động lực ở miền Tây Nam Bộ Việt Nam, gồm các thành phố: Cần Thơ, Long Xuyên, Rạch Giá và Cà Mau. Đề án thành lập vùng kinh tế trọng điểm này đã được Thủ tướng Chính phủ Việt Nam phê duyệt ngày 16 tháng 4 năm 2009 bằng Quyết định số 492/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009.[28]

Theo Quyết định này, đến năm 2020, vùng kinh tế trọng điểm này sẽ là trung tâm lớn về sản xuất lúa gạo, nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản, đóng góp lớn vào xuất khẩu nông thủy sản của cả nước. Ngoài ra, vùng kinh tế này còn đóng vai trò quan trọng trong chuyển giao công nghệ sinh học, cung cấp giống, các dịch vụ kỹ thuật, chế biến và xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp cho cả vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Giao thôngSửa đổi

Mạng lưới đường bộ từng bước được quy hoạch, nâng cấp, xây mới theo dạng "ô bàn cờ", bao gồm các trục dọc, ngang và hệ thống đường vành đai liên kết với nhau một cách hợp lý. Nhiều trục quốc lộ đã và đang được nâng cấp, xây mới, trong đó đáng kể có dự án mở rộng Quốc lộ 1A đoạn Trung Lương – Cần Thơ; xây dựng đường cao tốc TP Hồ Chí Minh – Trung Lương; tuyến đường nam sông Hậu, tuyến Quản Lộ – Phụng Hiệp... Nhiều cầu lớn vượt sông trên Quốc lộ 1A đã được đầu tư, xây mới như cầu Mỹ Thuận vượt sông Tiền, cầu Cần Thơ vượt sông Hậu, cầu Rạch Miễu nối Tiền Giang với tỉnh Bến Tre,... Những cây cầu này xóa đi cảnh chen chúc lộn xộn, mất thời gian, thiếu an toàn tại các bến phà vốn tồn tại hàng thế kỷ nay, đồng thời trở thành điểm tham quan thu hút khách du lịch bởi quy mô và kiến trúc đẹp, hiện đại. Ðến nay những "anh hai lúa" có thể thỏa mãn ước mơ được đi trên những máy bay hiện đại, ngắm nhìn những cánh đồng thẳng cánh cò bay. Ðó cũng là nhờ việc quan tâm đầu tư, quy hoạch các sân bay trong vùng trên nguyên tắc bảo đảm kết nối vùng với các sân bay quốc tế và phân bố đều trong khu vực, nhất là các tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Đồng bằng sông Cửu Long. Cùng với việc nâng cấp một số hạng mục các cảng hàng không Rạch Giá, Cà Mau, Phú Quốc,... sân bay quốc tế Cần Thơ đã hoàn thành với sức chứa 2,5 triệu hành khách/năm và có thể khai thác được các loại máy bay lớn như B747, B777. Hiện Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc mới giai đoạn I đang được thi công, sau khi hoàn thành sẽ thuận lợi hơn cho người dân trên đảo gần với đất liền và thu hút nhiều khách trong và ngoài nước đến với đảo xa. Cùng với đường bộ, đường hàng không, hệ thống đường sông Đồng bằng sông Cửu Long đã và đang được đầu tư nâng cấp một cách đáng kể, nhất là các tuyến sông chính, kết hợp với hệ thống đường thủy do các địa phương quản lý đã góp phần nâng cao khả năng kết nối khu vực với các cảng sông, biển. Từ TP Hồ Chí Minh, bằng phương tiện thủy, hàng hóa và hành khách có thể đi qua Đồng Tháp MườiTứ giác Long Xuyên đến Hà Tiên, Cà Mau... Nông sản hàng hóa vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ đến nhanh hơn với các trung tâm kinh tế lớn của cả nước.

Cầu Cần Thơcầu dây văng bắc ngang qua sông Hậu, được hoàn thành vào ngày 12 tháng 4 năm 2010. Trước đó 3 năm, một tai nạn lúc xây dựng làm 55 người chết và làm bị thương hơn 100 người. Cầu được xây dựng để thay thế cho phà và kết nối Quốc lộ 1A. Cầu Cần Thơ bắt ngang qua tỉnh Vĩnh Longthành phố Cần Thơ. Chi phí xây dựng ước tính là 4.842 tỷ đồng (khoảng 342,6 triệu đô la Mỹ), và là cây cầu đắt nhất Việt Nam lúc mới hoàn thành.[29][30]

Ngoài ra, còn có các cầu lớn như cầu Hàm Luông, cầu Cổ Chiên, cầu Cao Lãnh, cầu Vàm Cống,...

Văn hóaSửa đổi

Âm nhạcSửa đổi

Vùng này là cái nôi của nghệ thuật đờn ca tài tử, nghệ thuật sân khấu cải lương. Với các nghệ sĩ nổi tiếng như: Phùng Há, Lệ Thủy, Bạch Tuyết, Thanh Sang, Minh Phụng,...

Là nguồn cảm hứng cho rất nhiều ca khúc âm hưởng dân ca Nam Bộ với nhiều nhạc sĩ nổi tiếng như: Bắc Sơn, Thanh Sơn, Trúc Phương,...

Một số bài hát
Tên bài hát Tác giả
Anh về miền tây Minh Vy
Áo mới Cà Mau Thanh Sơn
Bỏ quê Sơn Hạ
Bông bí vàng Bắc Sơn
Bông điên điển Hà Phương
Chiếc áo bà ba Trần Thiện Thanh
Hồn quê Thanh Sơn
Trà Vinh trong những tình mật ngọt Trúc Phương
Về An Quảng Hữu Trúc Phương
Về miền Tây Tô Thanh Tùng

Và nhiều bài khác khác

Văn học và phim ảnhSửa đổi

Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu là tác phẩm nổi tiếng về con người hào khí, nghĩa hiệp; từ đó trở thành nghệ thuật đọc thơ Lục Vân Tiên.

Nhiều bộ phim được sản xuất ở vùng này để miêu tả nền văn minh của Đồng bằng sông Cửu Long. Một số phim nổi tiếng có thể kể ra như Mùa len trâu, Cánh đồng bất tận, Hương phù sa, Đất phương Nam,...

Sơn Nam, Vương Hồng Sển, Lê Vĩnh Hòa, Đoàn Giỏi, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Ngọc Tư, Trang Thế Hy,... đã viết nhiều quyển sách nổi tiếng về cuộc sống ở vùng Đồng bằng.

Xem thêmSửa đổi

Ghi chúSửa đổi

  1. ^ Tỉnh lỵ là thành phố trung tâm hành chính của tỉnh hoặc quận trung tâm hành chính của thành phố trực thuộc trung ương.

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Blackwelder và nhiều tác giả, 1979.
  2. ^ Mạnh Chiến (ngày 28 tháng 12 năm 2009). “Hiện trạng Công trình thủy lợi Biên giới Việt Nam - Cam Pu Chia”. pctt.longan.gov.vn. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2021.
  3. ^ Ks. Trần Đức Đông. “Nghiên cứu đánh giá tác động của việc khai thác, phát triển vùng ngập đến dòng chảy lũ ở Đồng bằng sông Cửu Long”. siwrp.org.vn. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2021.
  4. ^ Hương Thu (ngày 9 tháng 3 năm 2012). “Mất 40% đồng bằng Cửu long nếu nước biển dâng một mét”. vnexpress.net. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2021.
  5. ^ Minh Thuận (ngày 27 tháng 9 năm 2018). “Sụt lún ở ĐBSCL: Chọn nước ngầm hay đất ?”. tiasang.com.vn. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2021.
  6. ^ Xuân Long (ngày 18 tháng 6 năm 2019). “Sụt lún ĐBSCL vì khai thác nước ngầm quá sức chịu đựng”. báo Tuổi Trẻ. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2021.
  7. ^ Đình Tuyển (ngày 3 tháng 10 năm 2019). “Đồng bằng sông Cửu Long đang 'chìm'. báo Thanh Niên. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2021.
  8. ^ “Đồng bằng sông Cửu Long khô cằn trong hạn mặn trăm năm”. báo Tuổi Trẻ. ngày 21 tháng 3 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2021.
  9. ^ Quốc Thanh (ngày 20 tháng 3 năm 2016). "Số phận" đồng bằng sông Cửu Long”. báo Tuổi Trẻ. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2021.
  10. ^ “Niên giám tổ chức ngành Thống kê năm 2021/ Cục thống kê, dân số và diện tích các tỉnh, thành đến ngày 31/12/2020: Long An (51, tr.364), Tiền Giang (52, tr.370), Bến Tre (53, tr.376), Trà Vinh (54, tr.381), Vĩnh Long (55, tr.386), Đồng Tháp (56, tr.391), An Giang (57, tr.397), Kiên Giang (58, tr.402), TP. Cần Thơ (59, tr.408), Hậu Giang (60, tr.413), Sóc Trăng (61, tr.417), Bạc Liêu (62, tr.422), Cà Mau (63, tr.426)” (PDF). Tổng cục Thống kê. 5 tháng 5 năm 2021.
  11. ^ “Nghị định 09/1999/NĐ”. thuvienphapluat.vn. Truy cập 30 tháng 9 năm 2021.
  12. ^ “Nghị định 21/1999/NĐ”. thuvienphapluat.vn. Truy cập 30 tháng 9 năm 2021.
  13. ^ “Nghị định 97/2005/NĐ-CP”. thuvienphapluat.vn. Truy cập 30 tháng 9 năm 2021.
  14. ^ “Nghị định 10/2007/NĐ-CP”. thuvienphapluat.vn. Truy cập 30 tháng 9 năm 2021.
  15. ^ “Nghị định 22/2007/NĐ-CP”. thuvienphapluat.vn. Truy cập 30 tháng 9 năm 2021.
  16. ^ “Nghị quyết 34/NQ”. thuvienphapluat.vn. Truy cập 30 tháng 9 năm 2021.
  17. ^ “Nghị quyết 38/NQ”. thuvienphapluat.vn. Truy cập 30 tháng 9 năm 2021.
  18. ^ “Nghị quyết 11/NQ”. thuvienphapluat.vn. Truy cập 30 tháng 9 năm 2021.
  19. ^ “Nghị quyết 32/NQ”. thuvienphapluat.vn. Truy cập 30 tháng 9 năm 2021.
  20. ^ “Nghị định 34/NQ-CP”. thuvienphapluat.vn. Truy cập 30 tháng 9 năm 2021.
  21. ^ “Nghị quyết 86/NQ”. thuvienphapluat.vn. Truy cập 30 tháng 9 năm 2021.
  22. ^ “Nghị quyết 113/NQ”. thuvienphapluat.vn. Truy cập 30 tháng 9 năm 2021.
  23. ^ “Nghị quyết 573/NQ”. thuvienphapluat.vn. Truy cập 30 tháng 9 năm 2021.
  24. ^ “Nghị quyết 869/NQ”. thuvienphapluat.vn. Truy cập 30 tháng 9 năm 2021.
  25. ^ “Nghị quyết số 1003/NQ-UBTVQH14”. thuvienphapluat.vn. Truy cập 30 tháng 9 năm 2021.
  26. ^ “Nghị quyết số 1109/NQ-UBTVQH14”. thuvienphapluat.vn. Truy cập 30 tháng 9 năm 2021.
  27. ^ Thu Hà (ngày 11 tháng 7 năm 2011). “Đồng bằng sông Cửu Long kêu cứu”. tuanvietnam.vietnamnet.vn. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2021.
  28. ^ “QUYẾT ĐỊNH 1581/QĐ-TTg: PHÊ DUYỆT QUY HOẠCH XÂY DỰNG VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ĐẾN NĂM 2020 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2050”. thuvienphapluat.vn. ngày 9 tháng 10 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2021.
  29. ^ “SE Asia's longest cable-stayed bridge underway in Can Tho”. vietnamnews.vnanet.vn (bằng tiếng Anh). ngày 28 tháng 9 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2021.
  30. ^ Thế Đạt (ngày 13 tháng 12 năm 2012). “Cơ bản hoàn thành cơ sở hạ tầng giao thông ĐBSCL”. vietnamplus.vn. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2021.

Thư mụcSửa đổi

Tiếng AnhSửa đổi

  • Steffen Gebhardt, Juliane Huth, Nguyen Lam Dao, Achim Roth, Claudia Kuenzer: A comparison of TerraSAR-X Quadpol backscattering with RapidEye multispectral vegetation indices over rice fields in the Mekong Delta, Vietnam. In: International Journal of Remote Sensing. 33(24) 2012, 7644-7661.
  • Claudia Kuenzer, Huadong Guo, Patrick Leinenkugel, Juliane Huth, Xinwu Li, Stefan Dech: Flood and inundation dynamics in the Mekong Delta: an ENVISAT ASAR based time series analyses. In print at: Remote Sensing. 2012.
  • Patrick Leinenkugel, Thomas Esch, Claudia Kuenzer: Settlement detection and impervious surface estimation in the Mekong delta using optical and SAR data. In: Remote Sensing of Environment. 115(12) 2011, 3007-3019.

Tiếng ViệtSửa đổi

  • Lê Phát Quới, Formation of Acid Sulphate Soils in the Lower Mekong Delta, Vietnam. Viện Địa chất, Đại học Ghent, Bỉ, 1995.
  • Lê Phát Quới, Study on Degarded Grey Soil (Plinthosols) in the Plain of Reeds, Lower Mekong Delta, Vietnam. Luận văn Thạc sĩ, Đại học Ghent, Bỉ, 1995.

Liên kết ngoàiSửa đổi