Tây Ninh (thành phố)

Thành phố tỉnh lỵ trực thuộc tỉnh Tây Ninh

Tây Ninhthành phố tỉnh lỵ của tỉnh Tây Ninh, Việt Nam.

Tây Ninh

Thành phố thuộc tỉnh
TPTN.jpg
Thành phố Tây Ninh từ trên cao
Hành chính
VùngĐông Nam Bộ
TỉnhTây Ninh
Phân chia hành chính7 phường, 3 xã
Thành lập2013
Loại đô thịLoại III
Năm công nhận2012
Tổ chức lãnh đạo
Chủ tịch UBNDPhạm Trung Chánh
Chủ tịch HĐNDKhuyết
Bí thư Thành ủyNguyễn Hồng Thanh
Địa lý
Tọa độ: 11°22′4″B 106°7′8″Đ / 11,36778°B 106,11889°Đ / 11.36778; 106.11889Tọa độ: 11°22′4″B 106°7′8″Đ / 11,36778°B 106,11889°Đ / 11.36778; 106.11889
Diện tích140 km²[1]
Dân số (2017)
Tổng cộng132.592 người[1]
Mật độ947 người/km²
Dân tộcKinh
Khác
Mã hành chính703[1]
Biển số xe70-B1
WebsiteTỉnh Tây Ninh

Thành phố Tây Ninh cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh 100 km về phía Tây Bắc, có vị trí chiến lược quan trọng, là nơi giao nhau giữa các quốc lộ 22B, đường đi đến cửa khẩu Mộc BàiXa Mát.

Địa lýSửa đổi

Thành phố Tây Ninh có vị trí địa lý:

Khí hậuSửa đổi

Thành phố Tây Ninh có khí hậu đặc trưng vùng Đông nam bộ, thời tiết tương đối ôn hoà có 2 mùa gió chính đông bắc và tây nam đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo ẩm. Mùa khô bắt đầu tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 năm sau, tháng 12 nhiệt độ có thể giảm dưới 20 °C và thường duy trì ở mức 17 đến 23 °C vào ban đêm nhưng vào ban ngày có thể lên 30 đến 33 °C làm cho biên độ nhiệt ngày và đêm cao và nhiệt độ cao nhất tháng 4 lên đến 39 °C .

Nhiệt độ thấp kỉ lục ở Thành phố Tây Ninh 11,3 °C năm 1976 và gần đây nhất là 2013 là 16,4 °C. Cao kỉ lục là 39 °C ngày 26/03/2019.

Thời tiết se lạnh và khô hanh đầu mùa và giữa mùa khô thường duy trì từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau đến tháng 3 đến tháng 5 thời tiết rất nóng khô và khó chịu rất dễ xảy ra hỏa hoạn .

Mùa mưa thời tiết nóng ẩm mưa nhiều ngoài ra có nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan như:mưa đá,dông,lốc xoáy, bão....

Dữ liệu khí hậu của Tây Ninh
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao kỉ lục °C (°F) 36.2 36.4 38.5 39.9 39.0 37.6 37.3 35.2 35.6 34.0 34.3 34.8 39,9
Trung bình cao °C (°F) 32.1 33.4 34.8 35.2 34.0 32.5 31.9 31.6 31.3 31.0 31.2 31.0 32,5
Trung bình ngày, °C (°F) 25.6 26.6 27.9 28.8 28.3 27.4 27.0 27.0 26.7 26.4 26.0 25.2 26,9
Trung bình thấp, °C (°F) 20.9 21.9 23.3 24.8 25.0 24.4 24.1 24.2 24.0 23.6 22.7 21.0 23,3
Thấp kỉ lục, °C (°F) 15.3 17.9 16.8 21.4 21.9 19.3 20.8 21.2 20.3 18.5 16.9 13.9 13,9
Giáng thủy mm (inch) 13
(0.51)
11
(0.43)
24
(0.94)
104
(4.09)
203
(7.99)
265
(10.43)
257
(10.12)
234
(9.21)
353
(13.9)
317
(12.48)
139
(5.47)
48
(1.89)
1.967
(77,44)
độ ẩm 70.5 70.8 70.2 73.2 79.7 83.5 84.1 84.5 85.9 85.0 79.4 72.8 78,3
Số ngày giáng thủy TB 1.7 1.6 2.8 7.4 16.0 20.5 21.8 21.6 23.6 21.9 11.6 3.8 154,4
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 257 244 277 250 238 192 201 186 181 194 215 235 2.672
Nguồn: Vietnam Institute for Building Science and Technology[2]

Hành chínhSửa đổi

Thành phố Tây Ninh có 10 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm 7 phường: 1, 2, 3, 4, Hiệp Ninh, Ninh Sơn, Ninh Thạnh và 3 xã: Bình Minh, Tân Bình, Thạnh Tân.

 
Cáp treo lên núi Bà Đen

Lịch sửSửa đổi

Với Hoà ước Giáp Tuất ngày 15 tháng 3 năm 1874, Nam Kỳ Lục tỉnh trở thành thuộc địa của Pháp.

Ngày 5 tháng 6 năm 1876, Thống đốc Nam kỳ là Đuyprê ra Nghị định chia Nam kỳ thành 4 khu vực hành chính là Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bassac, thời điểm này Tây Ninh thuộc Sài Gòn.

Ngày 19 tháng 5 năm 1942, Tỉnh trưởng của tỉnh Tây Ninh có Tờ trình số 2206/A01 gửi Thống đốc Nam kỳ đề nghị thành lập tại xã Thái Hiệp Thạnh khu thị tứ (thị xã) Tây Ninh. Dân số vào thập niên 1930 là 3.700 người.[3]

Ngày 9 tháng 12 năm 1942, Thống đốc Nam kỳ ban hành Nghị định số 8345 ấn định ranh giới Tây Ninh.

Sau Cách mạng Tháng Tám tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên ranh giới cũ.

Năm 1950, cắt một phần đất của xã Thái Hiệp Thạnh cũ thành lập thị xã Tây Ninh, nhưng do chưa đủ điều kiện hoạt động nên sau đó giải thể.

Sau hiệp định Giơnevơ năm 1954, thành lập lại thị xã Tây Ninh trên địa bàn cũ, do Võ Văn Truyện làm Bí thư Đảng kiêm Chủ tịch Uỷ ban hành chính. Thị xã chỉ giới hạn trong phạm vi xã Thái Hiệp Thạnh, quận Phú Khương và bao gồm phần thị tứ nhất của ba xã Thái Bình, Hiệp NinhNinh Thạnh.

Sau năm 1975, thị xã Tây Ninh có 3 phường: phường 1, phường 2, phường 3.

Ngày 26 tháng 9 năm 1983, thành lập xã Bình Minh.[4]

Thực hiện Nghị định số 46/2001/NĐ-CP ngày 10 tháng 8 năm 2001 của Chính phủ[5], thị xã Tây Ninh được mở rộng địa giới hành chính trên cơ sở sáp nhập 5 xã: Hiệp Ninh, Ninh Sơn, Ninh Thạnh, Tân Bình, Thạnh Tân và 139 ha diện tích tự nhiên với 7.815 nhân khẩu của xã Hiệp Tân thuộc huyện Hòa Thành. Đồng thời, thành lập phường 4 và chuyển xã Hiệp Ninh thành phường Hiệp Ninh.

Ngày 12 tháng 12 năm 2012, Bộ Xây dựng ban hành Quyết định số 1112/QĐ-BXD, công nhận thị xã Tây Ninh là đô thị loại III.[6]

Ngày 29 tháng 12 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ thông qua Nghị quyết số 135/NQ-CP. Theo đó, chuyển 2 xã Ninh Sơn, Ninh Thạnh thành 2 phường có tên tương ứng và chuyển thị xã Tây Ninh thành thành phố Tây Ninh thuộc tỉnh Tây Ninh.[7]

Kinh tế - xã hộiSửa đổi

Kinh tếSửa đổi

 
Một góc thành phố Tây Ninh

Là tỉnh lỵ của tỉnh Tây Ninh, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và vùng lân cận.

Giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2011, giá trị sản xuất của thị xã Tây Ninh luôn ở mức cao, đạt bình quân 15,3%/năm, thu ngân sách năm 2011 là 297 tỷ đồng,trong đó khu vực thương mại, dịch vụ đạt bình quân 16,8%/năm; công nghiệp, xây dựng đạt 13,8%/năm, nông lâm, ngư nghiệp đạt 8,5%/năm[8] Theo báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2017 và kế hoạch năm 2018 của UBND tỉnh Tây Ninh, tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) (giá so sánh 2010) ước thực hiện 45.600 tỷ đồng, tăng 8% so với cùng kỳ. Trong đó: công nghiệp - xây dựng đóng góp 4,6 điểm %; dịch vụ 2,4 điểm %; nông - lâm - thủy sản 0,9 điểm %, riêng thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm 0,1 điểm %.

Cụ thể, đối với sản xuất công nghiệp, giá trị sản xuất ước thực hiện 65.302 tỷ đồng, tăng 16,1% so với cùng kỳ. Đóng góp cho tăng trưởng chủ yếu ở các ngành công nghiệp thu hút nhiều dự án FDI có quy mô lớn và phương thức sản xuất, gia công xuất khẩu là chính như dệt may, sản phẩm từ cao su (vỏ ruột xe), sản xuất da và sản phẩm có liên quan.Về nông – lâm – thủy sản, giá trị sản xuất ước thực hiện 25.717 tỷ đồng, tăng 3,1% so với cùng kỳ. Tổng diện tích gieo trồng các cây hàng năm ước đạt 381.679 ha, tăng 0,7% so với kế hoạch, bằng 99,1% so với cùng kỳ.

Chăn nuôi vẫn tiếp tục chuyển dịch từ chăn nuôi nhỏ lẻ, không đảm bảo an toàn sinh học, hiệu quả thấp sang chăn nuôi quy mô trang trại, tập trung, đảm bảo an toàn sinh học. Giá trị ngành chăn nuôi ước đạt 3.541 tỷ đồng, chiếm 14,2% trong cơ cấu ngành nông nghiệp. Diện tích nuôi trồng ước đạt 785 ha, đạt 100% so với kế hoạch và bằng với cùng kỳ. Tổng sản lượng nuôi trồng đạt 14.763 tấn, sản lượng thủy sản khai thác đạt 3.600 tấn.

Đối với các ngành dịch vụ, giá trị sản xuất ước thực hiện 24.252 tỷ đồng, tăng 7,5% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu du lịch đạt 770 tỷ đồng, bằng so với cùng kỳ; khách lưu trú tăng 11,2%, khách lữ hành tăng 3% so với cùng kỳ, khách tham quan tại các khu điểm du lịch 2,5 triệu lượt, đạt 100% so với kế hoạch, bằng so với  cùng kỳ.

Cũng trong năm nhờ tích cực cải thiện môi trường kinh doanh mà tình hình thu hút đầu tư nước ngoài của tỉnh đạt 966,46 triệu USD, tăng 30% so với cùng kỳ. Lũy kế, trên địa bàn tỉnh có 270 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký 5.088 triệu USD, đã có 207 dự án đã hoạt động với số vốn 3.523 triệu USD; 17 dự án đang xây dựng với số vốn 744 triệu USD; 34 dự án chưa triển khai với số vốn 787 triệu USD; 12 dự án dừng hoạt động với số vốn 34 triệu USD.

Về thu hút đầu tư trong nước, năm 2017, tỉnh đạt 3.363 tỷ đồng, giảm 39,2% so với cùng kỳ. Lũy kế, trên địa bàn Tỉnh có 448 dự án đầu tư còn hiệu lực với vốn đăng ký 45.553 tỷ đồng; trong đó có 264 dự án đi vào hoạt động với số vốn 24.883 tỷ đồng, 54 dự án đang triển khai xây dựng với số vốn 8.560 tỷ đồng, 124 dự án chưa xây dựng với số vốn 11.069 tỷ đồng, 06 dự án dừng hoạt động với tổng vốn đầu tư 1.041 tỷ đồng.

Theo định hướng phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050, thành phố Tây Ninh là đô thị quan trọng nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, một cực tăng trưởng chủ đạo trong hệ thống đô thị Việt Nam với Thành phố Hồ Chí Minh, là đô thị động lực chính. Đô thị này còn nằm trong vùng đối trọng phát triển kinh tế phía Bắc, định hướng đến năm 2025 sẽ nâng lên đô thị loại II[8].

Xã hộiSửa đổi

Giáo dụcSửa đổi

Trong năm học 2016 - 2017, Sở Giáo dục & Đào tạo tỉnh Tây Ninh đã tập trung chỉ đạo các đơn vị rà soát lại toàn bộ chương trình dạy nghề phổ thông để chọn lựa, bổ sung các chương trình phù hợp với yêu cầu, điều kiện kinh tế xã hội của địa phương và điều kiện dạy học của nhà trường. Bên cạnh đó, chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục nghề phổ thông tại các trường trung học, khuyến khích việc dạy nghề truyền thống của địa phương, đa dạng các hình thức tư vấn, hướng nghiệp cho học sinh, nhất là học sinh cuối cấp.

Một trong những điểm nhấn quan trọng trong công tác giáo dục đào tạo tại Tây Ninh thời gian qua đó là việc xã hội hoá giáo dục đã được các địa phương thực hiện có hiệu quả. Chỉ tính riêng trong năm học 2016 - 2017, toàn ngành giáo dục Tây Ninh đã huy động nguồn lực xã hội hoá đầu tư cho giáo dục được hơn 25 tỷ đồng. Xã hội hoá giáo dục thực sự mang lại nhiều tác động tích cực đối với môi trường giáo dục, giảm nhẹ gánh nặng ngân sách Nhà nước. Toàn tỉnh hiện có 14 trường tư thục mầm non và 1 trường dân lập nhiều cấp học (tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông). Cùng với đó, ngành giáo dục Tây Ninh cũng đã triển khai lắp đặt 22 hồ bơi ở 11 điểm trường THCS và tiểu học, tổng giá trị thực hiện theo kế hoạch 3,3 tỷ đồng. Bước vào năm học mới, các địa phương sẽ triển khai lắp đặt thêm 12 hồ bơi đã được duyệt. Tiếp tục thực hiện đề án xây dựng trường chuẩn quốc gia giai đoạn 2016 - 2020 theo kế hoạch trung hạn và xây dựng nông thôn mới. Đến nay, tỉnh Tây Ninh đã có 155 trường học.


Một số trường đứng top đầu về thành tích của tỉnh là:

  • THPT Chuyên Hoàng Lê Kha
  • THPT Tây Ninh
  • THPT Lý Thường Kiệt
  • THPT Trần Đại Nghĩa
  • THPT Nguyễn Chí Thanh.

Văn hóa - Du lịchSửa đổi

 
Một ngôi chùa trên núi Bà Đen
 
Nơi thờ cúng Bà Đen

Giao thôngSửa đổi

Thành phố Tây Ninh sở hữu nhiều rạch từ con sông Vàm Cỏ Đông nên đường thủy khá thông dụng trong các dịp lễ để vận chuyển hàng hóa khi nhu cầu đường bộ không đáp ứng đủ.

Tên đường của Tây Ninh trước 1975Sửa đổi

  • Đường Gia Long, Võ Duy Dương và Phan Thanh Giản nay là đường Cách Mạng Tháng 8
  • Đường Huyện Vĩnh nay là đường Trần Quốc Toản
  • Đường Trưng Nữ Vương nay là đường 30 tháng 4
  • Đường Lãnh Binh Định nay là đường Trương Định
  • Đường Yết Ma Lượng nay là đường Nguyễn Văn Cừ
  • Đường Tự Đức nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai
  • Đường Nguyễn Trãi nay là đường Lê Văn Tám
  • Đường Võ Tánh nay là đường Lê Lợi
  • Đường Hồ Huân Nghiệp và công trường Duy Tân nay là đường Nguyễn Đình Chiểu
  • Đường Trương Huệ nay là đường Võ Văn Truyện
  • Đường Huỳnh Văn Lai nay là đường Ngô Gia Tự
  • Đường Nguyễn Văn Buôn nay là đường Yết Kiêu.

Chú thíchSửa đổi

Xem thêmSửa đổi