Tê giác Sumatra hay còn gọi là tê giác hai sừng là loài tê giác hiện còn tồn tại có kích thước nhỏ nhất, cũng như là một trong số các loài có nhiều lông nhất. Giống như các loài châu Phi, chúng có hai sừng. Đã từng có thời chúng phổ biến rộng rãi ở khu vực Đông Nam Á, nhưng ngày nay chỉ còn khoảng 300 cá thể. Chúng là loài đang ở trong tình trạng cực kỳ nguy cấp do săn bắn trộm, và các cố gắng nhằm phục hồi số lượng của chúng bằng cách nhân giống trong tình trạng bị giam cầm đã gặp rất nhiều khó khăn. Tê giác Sumatra là loài sống sót cuối cùng trong cùng một nhóm với loài tê giác lông mịn đã tuyệt chủng.

Tê giác Sumatra
Sumatran Rhino 2.jpg
Tê giác Sumatra Emi và Harapan tại Vườn thú Cincinnati.
Tình trạng bảo tồn
CITES Phụ lục I (CITES)[2]
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Mammalia
Bộ (ordo)Perissodactyla
Họ (familia)Rhinocerotidae
Chi (genus)Dicerorhinus
Loài (species)D. sumatrensis
Danh pháp hai phần
Dicerorhinus sumatrensis
(Fischer, 1814)[3]
Vườn quốc gia Taman NegaraKhu dự trữ hoang dã TabinVườn quốc gia Gunung LeuserVườn quốc gia Kerinci SeblatVườn quốc gia Bukit Barisan SelatanVườn quốc gia Way KambasNơi cư trú của tê giác Sumatra
Nơi cư trú của tê giác Sumatra:
Màu hồng đào: tồn tại trong lịch sử
Màu đỏ đậm: được nuôi trong các khu bảo tồn, nhấp vào để hiển thị tên các khu bảo tồn đó[4]
Phân loài

Dicerorhinus sumatrensis harrissoni
Dicerorhinus sumatrensis sumatrensis

Dicerorhinus sumatrensis lasiotis

Phân loài và đặt tênSửa đổi

 
Bức vẽ đầu tiên của mẫu vật đầu tiên mà giới khoa học phương tây biết đến, vẽ bởi William Bell vào năm 1793

Con tê giác Sumatra được ghi nhận đầu tiên bị bắn 16 km (9,9 mi) bên ngoài Fort Marlborough, gần bờ tây của Sumatra vào năm 1793. Bức vẽ con vật và một đoạn văn mô tả nó được gửi tới nhà tự nhiên học Joseph Banks, vào lúc đó là Chủ tịch của Hội Hoàng gia Luân Đôn, người đã cho xuất bản một bài viết về mẫu vật trên vào năm đó.[5] Vào năm 1814, loài này được Johann Fischer von Waldheim đặt tên khoa học.[6][7]

Tính ngữ xác định loài sumatrensis có nghĩa là "của Sumatra", hòn đảo Indonesia nơi loài tê giác lần đầu được tìm thấy.[8] Carl Linnaeus ban đầu phân loại tất cả tê giác vào một chi Rhinoceros; do đó loài này ban đầu được phân loại là Rhinoceros sumatrensis hoặc sumatranus.[9] Joshua Brookes cho rằng tê giác Sumatra có hai sừng nên là một chi riêng biệt so với chi Rhinoceros có một sừng, và cho nó cái tên Didermocerus vào năm 1828. Constantin Wilhelm Lambert Gloger đã đề xuất cái tên Dicerorhinus vào năm 1841. Vào năm 1868, John Edward Gray đề xuất cái tên Ceratorhinus. Thường thì cái tên lâu đời nhất sẽ được sử dụng, nhưng vào năm 1977 Ủy ban Quốc tế về Danh mục Động vật học đã quyết định đặt tên chi chính thức là Dicerorhinus.[3][10] Dicerorhinus bắt nguồn từ Tiếng Hy Lạp, trong đó di (δι, nghĩa là "hai"), cero (κέρας, nghĩa là "sừng"), và rhinos (ρινος, nghĩa là "mũi").[11]

Có ba phân loài là:

  • Dicerorhinus sumatrensis sumatrensis, được gọi là Tê giác Sumatra miền tây, chỉ còn khoảng 75-85 con, hầu hết trong các Vườn quốc gia Bukit Barisan Selatan, Kerinci SeblatGunung Leuser tại Sumatra, nhưng cũng có một số lượng nhỏ ở Vườn quốc gia Way Kambas.[1] Gần đây chúng đã tuyệt chủng tại Malaysia bán đảo. Mối đe dọa chính với phân loài này là mất môi trường sống và nạn săn bắt trộm. Một sự khác biệt nhẹ về mặt di truyền đã được ghi nhận giữa tê giác Sumatra miền tây và tê giác Bornea.[1] Tê giác trên Malaysia bán đảo từng được gọi là D. s. niger, nhưng sau đó được công nhận là một danh pháp đồng nghĩa với D. s. sumatrensis.[3] Ba con đực và bốn con cái hiện đang sống trong tình trạng nuôi nhốt tại Khu bảo tồn Tê giác Sumatra tại Way Kambas, con đực nhỏ tuổi nhất đã được sinh ra tại đó vào năm 2012.[12] Một con non khác, một con cái, đã được sinh ra tại khu bảo tồn vào Tháng 5 năm 2016.[13] Hai con đực của khu bảo tồn được sinh ra tại Vườn thú và bách thảo Cincinnati.[14]
  • Dicerorhinus sumatrensis harrissoni, được gọi là Tê giác Borneo hay Tê giác Sumatra miền đông. Phân loài tê giác này từng phổ biến khắp Borneo; ước chừng hiện tại chỉ còn khoảng 15 cá thể tồn tại.[15] Quần thể đã biết đến này sống ở East Kalimantan, gần đây chúng đã tuyệt chủng tại Sabah.[16] Các báo cáo về việc có Tê giác Borneo sinh sống ở Sarawak thì vẫn chưa được xác nhận.[1] Phân loại này được đặt tên theo Tom Harrisson, người đã cống hiến nhiều cho lĩnh vực động vật học và nhân loại học Borneo vào thập niên 1960.[17] Phân loài Borneo có đặc trưng là có kích cỡ cơ thể nhỏ hơn so với hai phân loài còn lại.[3] Quần thể đang trong tình trạng nuôi nhốt chỉ bao gồm một con đực và hai con cái tại Khu bảo tồn Tê giác Borneo ở Sabah; con đực chết vào năm 2019 và các con cái chết lần lượt vào năm 2017 và 2019.[18][19]
  • Dicerorhinus sumatrensis lasiotis, được gọi là Tê giác Sumatra phương bắc hay Tê giác Chittagong hay tê giác lông dày phương Bắc. Phân loài này từng lang thang khắp Ấn Độ và Bangladesh nhưng hiện tại đã được tuyên bố tuyệt chủng tại các quốc gia này. Các báo cáo chưa xác nhận cho rằng có một quần thể nhỏ có thể vẫn đang sống tại Myanmar, nhưng tình hình chính trị tại quốc gia này đã ngăn cản việc xác nhận tình trạng của phân loài.[1] Cái tên lasiotis bắt nguồn từ Tiếng Hy Lạp có nghĩa "tai lông lá". Các nghiên cứu sau này cho thấy rằng lông tai của chúng thì không dài hơn so với các phân loài Tê giác Sumatra khác, nhưng D. s. lasiotis vẫn được coi là một phân loài bởi vì nó lớn hơn một cách đáng kể so với các phân loài khác.[3]

Phân bố và môi trường sốngSửa đổi

 
Một con tê giác đang lang thang trong thành phố đổ nát Chiang Saen, miền Bắc Thái Lan, năm 1867

Tê giác Sumatra sống ở cả rừng mưa thứ sinh cao nguyên hay đất thấp, đầm lầy và rừng sương mù. Nó sống ở các vùng đồi núi gần với nguồn nước, đặc biệt là các thung lũng dốc với nguồn cây bụi dồi dào. Tê giác Sumatra đã từng sống trong phạm vi liên tục xa lên phái bắc tận Burma, đông Ấn Độ, và Bangladesh. Các báo cáo chưa xác nhận cũng cho rằng nó sống ở Campuchia, LàoViệt Nam. Tất cả loài biết được đều phát sinh từ đảo Sumatra. Một số nhà bảo tồn hy vọng tê giác Sumatra có thể vẫn còn ở Burma, mặc dù điều này có khả năng không lớn. Các biến động về chính trị ở Burma đã ngăn chặn việc đánh giá hoặc nghiên cứu về khả năng sinh tồn của loài tại đây.[20] Báo cáo cuối cùng về việc nhìn thấy loài tê giác này trong phạm vi Ấn Độ là vào thập niên 1990.[21]

Tê giác Sumatra phân bố rải rác và rộng rãi trong khoảng phân bố của chúng, rộng hơn nhiều so với các loài tê giác châu Á khác, điều này đã gây khó khăn cho các nhà bảo tồn trong việc bảo vệ các cá thể của loài một cách hiệu quả.[20] Chỉ có bốn khu vực được biết là có chứa tê giác Sumatra: Vườn quốc gia Bukit Barisan Selatan, Vườn quốc gia Gunung Leuser, và Vườn quốc gia Way Kambas tại Sumatra; và tại phía tây Borneo Indonesia của Samarindah.[22]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ a ă â b c van Strien, N.J., Manullang, B., Sectionov, Isnan, W., Khan, M.K.M, Sumardja, E., Ellis, S., Han, K.H., Boeadi, Payne, J. & Bradley Martin, E. 2008. Dicerorhinus sumatrensis. In: IUCN 2011. IUCN Red List of Threatened Species. Version 2011.2.
  2. ^ Dicerorhinus sumatrensis Convention on International Trade in Endangered Species
  3. ^ a ă â b c Rookmaaker, L. C. (1984). “The taxonomic history of the recent forms of Sumatran Rhinoceros (Dicerorhinus sumatrensis)”. Journal of the Malayan Branch of the Royal Asiatic Society 57 (1): 12–25. JSTOR 41492969. 
  4. ^ Lấy theo bản đồ phân bố trong:
    • Foose, Thomas J. và van Strien Nico (1997), Asian Rhinos – Status Survey and Conservation Action Plan., IUCN, Gland (Thụy Sĩ) và Cambridge (UK), ISBN 2-8317-0336-0 
    • Dinerstein, Eric (2003). The Return of the Unicorns; The Natural History and Conservation of the Greater One-Horned Rhinoceros. New York: Nhà in Đại học Columbia. ISBN 0-231-08450-1. 
      Bản đồ này chưa có dấu vết các cá thể có thể có tại Lào, Việt Nam hay Miến Điện.
  5. ^ Sir Joseph Banks, Bart. P. R. S. : Bell, W. (10 tháng 1 năm 1793). “Description of the Double Horned Rhinoceros of Sumatra. By Mr. William Bell, Surgeon in the Service of the East India Company, at Bencoolen”. Philosophical Transactions of the Royal Society 83: 3–6. doi:10.1098/rstl.1793.0003 – qua Internet Archive. 
  6. ^ Rookmaaker, Kees (2005). “First sightings of Asian rhinos”. Trong Fulconis, R. Save the rhinos: EAZA Rhino Campaign 2005/6. London: European Association of Zoos and Aquaria. tr. 52. 
  7. ^ Morales, Juan Carlos; Andau, Patrick Mahedi; Supriatna, Jatna; Zainal-Zahari, Zainuddin; Melnick, Don J. (tháng 4 năm 1997). “Mitochondrial DNA Variability and Conservation Genetics of the Sumatran Rhinoceros”. Conservation Biology 11 (2): 539–543. doi:10.1046/j.1523-1739.1997.96171.x. 
  8. ^ van Strien, Nico (2005). “Sumatran rhinoceros”. Trong Fulconis, R. Save the rhinos: EAZA Rhino Campaign 2005/6. London: European Association of Zoos and Aquaria. tr. 70–74. 
  9. ^ Burmah”, Encyclopædia Britannica, 9th ed., Vol. IV, 1876, tr. p. 552 .
  10. ^ International Commission on Zoological Nomenclature (1977). "Opinion 1080. Didermocerus Brookes, 1828 (Mammalia) suppressed under the plenary powers". Bulletin of Zoological Nomenclature, 34:21–24.
  11. ^ Liddell, Henry G.; Scott, Robert (1980). Greek-English Lexicon . Oxford: Oxford University Press. ISBN 0-19-910207-4.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-access= (trợ giúp)
  12. ^ International_Rhino_Foundation#Sumatran_Rhino_Sanctuary
  13. ^ Cota Larson, Rhishja (12 tháng 5 năm 2016). “It's a Girl! Critically Endangered Sumatran Rhino Born at Sanctuary in Indonesia”. annamiticus.com. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2016. 
  14. ^ Sheridan, Kerry (22 tháng 9 năm 2015). “Critically endangered Sumatran rhino pregnant: conservationists”. phys.org. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2016. 
  15. ^ “Sumatran rhino population plunges, down to 100 animals”. News.mongabay.com. 8 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2014. 
  16. ^ Hance, Jeremy (23 tháng 4 năm 2015). “Officials: Sumatran rhino is extinct in the wild in Sabah”. Mongabay. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  17. ^ Groves, C. P. (1965). “Description of a new subspecies of Rhinoceros, from Borneo, Didermocerus sumatrensis harrissoni. Saugetierkundliche Mitteilungen 13 (3): 128–131. 
  18. ^ Jeremy Hance (23 tháng 4 năm 2015), Officials: Sumatran rhino is extinct in the wild in Sabah, Mongabay 
  19. ^ Woodyatt, Amy. “Malaysia's last male Sumatran rhino dies”. CNN. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2019. 
  20. ^ a ă Foose, Thomas J.; van Strien, Nico (1997). Asian Rhinos – Status Survey and Conservation Action Plan. IUCN, Gland, Switzerland, and Cambridge, UK. ISBN 2-8317-0336-0. 
  21. ^ Choudhury, A. U. (1997). “The status of the Sumatran rhinoceros in north-eastern India” (PDF). Oryx 31 (2): 151–152. doi:10.1046/j.1365-3008.1997.d01-9.x. 
  22. ^ Dean, Cathy; Tom Foose (2005). “Habitat loss”. Trong Fulconis, R. Save the rhinos: EAZA Rhino Campaign 2005/6. London: European Association of Zoos and Aquaria. tr. 96–98. 

Liên kết ngoàiSửa đổi