Thiền Sư Tính Chúc Đạo Chu (1698- 1775), cao tăng thời nhà Lê trung hưng, thuộc đời pháp thứ 34 Tông Tào Động, và đời thứ 4 tại Việt Nam. Sư là pháp tử của Thiền Sư Từ Sơn Hạnh Nhất và có đệ tử nối pháp là Thiền sư Hải Điện Mật Đa.

Hành trạngSửa đổi

Sư sinh năm Mậu Dần (1698) ở làng Đa Cốc, Vũ Tiên, Kiến Xương (nay thuộc xã Nam Bình, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình).

Năm 17 tuổi, sư xuất gia tu hành với Thiền Sư Như Trương thuộc Tông Lâm Tế. Như Trương dạy sư tham thiền, giao cho sư công án Vô Tình Thuyết Pháp của Quốc Sư Huệ Trung để tu hành. Sư tham thiền nhiều năm nhưng không ngộ.

Sau đó, sư đến phương trượng chùa Hòe Nhai- Hồng Phúc đỉnh lễ Thiền Sư Từ Sơn Hành Nhất làm thầy. Tại đây sư tiếp tục tham công án này. Một hôm sư đem công án Vô Tình Thuyết Pháp nêu lại hỏi Thiền Sư Từ Sơn. Từ Sơn nêu lại nhân duyên ngộ đạo của Sơ Tổ Động Sơn Lương Giới lúc tham vấn ngài Vân Nham Đàm Thạnh, đến chổ: "Đâu không thấy kinh A-di-đà nói: nước, chim, cây rừng thảy đều niệm Phật, niệm pháp?" và bài kệ ngộ đạo của tổ Động Sơn :

也大奇!也大奇!

無情說法不思議

若將耳聽終難會

眼處聞時方得知

Dã đại kì, Dã đại kì

Vô tình thuyết pháp bất tư nghì

Nhược tương nhĩ thính chung nan hội

Nhãn xứ văn thì phương đắc tri.

Cũng rất kì! Cũng rất kì!

Vô tình thuyết pháp chẳng nghĩ nghì

Nếu lấy tai nghe trọn khó hội

Phải đem mắt thấy mới liễu tri.

Sư nghe xong đại ngộ, bèn sụp xuống lễ bái thầy. Thiền sư Từ Sơn biết sư đã ngộ, bèn phó chúc dặn dò: "Thay ta nối tông Tào Động, xiển dương thiền giáo”

Sư từng làm sa di cùng phụ giúp Thiền Sư Từ Sơn khắc ván gỗ biên soạn Thiền Uyển Kế Đăng Lục, một tác phẩm Thiền Học ghi lại lịch sử chư tổ Ấn Độ, Trung Hoa và hành Trạng các Tổ truyền thừa Tông Lâm Tế, Tào Động từ Trung Quốc truyền pháp sang Việt Nam ở tại chùa Hồng Phúc- Hòe Nhai.

Năm Quý Mão (1723) đủ duyên lành sư bèn xây dựng Chùa Báo Quốc- nay là chùa Bằng để tiếp dẫn môn chúng tu hành.

Sư từng tham gia kỳ khảo hạch Phật Pháp của Triều đình, tên đứng đầu bảng, được vua kính trọng mời sư làm tăng chính lãnh đạo Phật giáo, được ban danh hiệu Bản Lai Hòa Thượng. Tăng tục kính ngưỡng, người đến tham học ngày càng đông

Năm 1737, Tổ Hạnh Nhất khi ấy đang trụ trì chùa Vạn Phúc, Phật Tích, Bắc Ninh, biết duyên trần của ngài sắp hết, bèn viết thư phó chúc cho sư dặn dò phật sự, sư kế đăng trụ trì chùa Hòe Nhai, xiển dương tiếp nối Tông môn[1] Thiền phái Tào Động.

Tháng 3 năm Vĩnh Hựu thứ 4 (1738), sư soạn bài văn và lập tháp Viên Minh cho Thiền Sư Hạnh Nhất tại chùa Vạn Đức, Kinh Môn, Hải Dương.

Năm Cảnh Hưng thứ 5 (1744), sư in khắc Tam giáo nhất nguyên thuyết của Trịnh Huệ và mời Trịnh Huệ soạn bia Trùng tu Báo Quốc tự bi.

Năm Tân Mùi (1757), Sư được mời hộ kinh cho bản in Thủy Lục chư khoa.

Năm 1775, vào ngày 25 tháng 5, vào giữa đêm sư thâu thần nhập diệt, sư thọ 78 tuổi, 20 tuổi hạ. Đệ tử đem Nhục Thân sư nhập Tháp ở Báo Quốc Tự- Chùa Bằng. Vua phong tặng danh hiệu Phổ Hóa Độ Sinh Bồ Tát.

Tham khảoSửa đổi

  • Hồng Phúc Phổ Hệ, Khoa Cúng Tổ các đời
  • Tháp Bia Báo Quốc Tự- Chùa Bằng
  • Hành Trạng Thiền Sư Tỉnh Chúc Đạo Chu- Thích Đồng Dưỡng
  1. ^ (宗門) Cửa ra vào của giáo chỉ được tôn sùng. Từ đời Tống về sau, từ Tông môn được dùng để chỉ cho Thiền tông, còn các tông khác thì được gọi là Giáo tông. Các vị Thiền tăng soạn sách phần nhiều đặt 2 chữ Tông môn ở đầu, như Tông môn thập qui luận của ngài Pháp nhãn Văn ích, Đại tuệ tông môn vũ khố của ngài Đạo khiêm, Tông môn thống yếu của ngài Tông vĩnh, Tông môn hoặc vấn của ngài Viên trừng... Tổ đình sự uyển quyển 8 (Vạn tục 113,117 thượng) nói: Tông môn nghĩa là Tam học đều y cứ vào môn này nên gọi là Tông môn. Khảo tín lục quyển 4 của ngài Huyền trí, người Nhật bản, cho rằng danh từ Tông môn có xuất xứ từ Thiền lâm, y cứ vào câu Phật nói tâm là tông, vô môn là pháp môn nói trong kinh Lăng già mà lập Phật tâm tông và tự xưng là Tông môn. Tông môn, có khi gọi là Tông thừa, hoặc gọi tắt là Tông, tuy nhiên, danh xưng này không phải chỉ để gọi Thiền tông, mà trong Thiên thai có Kinh bộ tông, Tát bà đa tông, ngoài ra cũng có các danh mục như Chân tông, Viên tông... [X.kinh Lăng già Q.1 (bản 4 quyển); luận Truyền pháp chính tông Q.hạ].