Mở trình đơn chính
Toà án Hiến pháp Tây Ban Nha ở Madrid.

Toà án Hiến pháp Tây Ban Nha (tiếng Tây Ban Nha: Tribunal Constitucional de España) là cơ quan cao nhất có thẩm quyền xác định tính hợp hiến của các luật và đạo luật của Chính phủ Tây Ban Nha. Tòa này được định nghĩa trong phần IX (tức là các phần từ 159 đến 165) của Hiến pháp Tây Ban Nha và tiếp tục được điều chỉnh bởi Luật Hữu cơ 2/1979 (hay còn gọi là Luật của Toà án Hiến pháp vào ngày 3 tháng 10 năm 1979),[1] 8/1984, 4/1985, 6/1988, 7/1999 và 1/2000.[2] Toà án là "cơ quan giải thích tối cao" của Hiến pháp, nhưng vì tòa án không phải là một phần của Toà án Tư pháp Tây Ban Nha, Tòa án Tối cao là tòa án cao nhất cho tất cả các vấn đề pháp lý.[3]

Quyền hạnSửa đổi

Toà án Hiến pháp có quyền quyết định về tính hợp hiến của luật pháp, hành vi, hoặc các quy định do các nghị viện quốc gia hoặc khu vực quy định. Nó cũng có thể quy định về hiến pháp của các điều ước quốc tế trước khi được phê chuẩn, nếu được yêu cầu của Chính phủ, Đại hội đồng, hoặc Thượng viện. Hiến pháp tuyên bố thêm rằng mỗi cá nhân công dân có thể kháng cáo lên Toà án Hiến pháp để bảo vệ chống lại hành vi vi phạm các quyền cơ bản hoặc tự do của họ. Chỉ những cá nhân trực tiếp bị ảnh hưởng mới có thể thực hiện kháng cáo này, gọi là recurso de amparo, và họ chỉ có thể thực hiện việc này sau khi đã hết thời gian kháng cáo.[4] Các viên chức chính phủ, cụ thể là "Tổng thống của Chính phủ, Hậu vệ của Nhân dân, 50 Quốc hội, 50 Nghị sĩ, Cơ quan điều hành Cộng đồng Tự trị và, nếu thích hợp, Hội đồng", cũng có thể yêu cầu tòa án xác định tính hợp hiến của một luật. Luật Bầu cử Tổng Quát vào tháng 6 năm 1985 cho phép kháng cáo lên tòa án này trong trường hợp các ủy ban bầu cử loại trừ các ứng cử viên khỏi cuộc bỏ phiếu.

Ngoài ra, tòa án này có quyền xem xét tính hợp hiến của các văn bản quy định về quyền tự trị và giải quyết xung đột về thẩm quyền giữa chính quyền cộng đồng trung ương và các chính phủ tự trị, hoặc giữa các chính phủ của hai hoặc nhiều cộng đồng tự trị. Bởi vì nhiều điều khoản hiến pháp liên quan đến các vấn đề về quyền tự trị là mơ hồ và đôi khi mâu thuẫn, tòa án này có thể đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển chính trị và xã hội của Tây Ban Nha.

Các quyết định của Toà án Hiến pháp không thể bị kháng cáo bởi bất cứ ai.[1][5] Thành phần Tòa án này bao gồm mười hai quan tòa (thẩm phán) phục vụ trong nhiệm kỳ chín năm. Bốn trong số này được Đại hội đồng bổ nhiệm, bốn bởi Thượng viện, hai bởi các chi nhánh hành chính của chính phủ, và hai bởi Hội đồng chung của Tư pháp, tất cả đều chính thức bổ nhiệm của nhà vua Tây Ban Nha. Hiến pháp đưa ra tiêu chuẩn tối thiểu là mười lăm năm kinh nghiệm trong các lĩnh vực liên quan đến luật pháp, bao gồm "thẩm phán và công tố viên, giáo sư đại học, cán bộ công chức và luật sư" [6] và không được giữ vị trí có thể làm giảm sự độc lập của họ, như là một bài trong một đảng chính trị hoặc một vị trí đại diện.[7] Trong số các thẩm phán của Toà án, một vị tổng thống được bầu vào nhiệm kỳ ba năm, được trợ giúp bởi một phó chủ tịch, cũng là quan tòa, và một thư ký chung, chịu trách nhiệm giám sát các nhân viên của tòa án.

Các quyết định đáng chú ýSửa đổi

Năm 2005, tòa án phán quyết rằng hệ thống tư pháp Tây Ban Nha có thể xử lý các vụ án liên quan đến tội ác chống lại nhân loại, như diệt chủng, bất kể công dân Tây Ban Nha có tham gia hay trực tiếp bị ảnh hưởng. Trong trường hợp này, nó đã đảo ngược quyết định của Tòa án Tối cao trong cùng một vụ án, trong đó cho rằng các vụ án như vậy có thể được đưa ra trước tòa án Tây Ban Nha chỉ khi một nạn nhân Tây Ban Nha tham gia.[8]

Một quyết định gây tranh cãi trong năm 2010 để giảm quyền tự trị của Catalonia đã là một nguồn gây nhiều tranh cãi và xung đột kể từ đó, với một số cho rằng phán quyết đó là bất hợp pháp do việc loại bỏ một thẩm phán và thêm ba thẩm phán có thời hạn của họ hết hạn.[9]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ a ă Newton, Michael T.; Peter J. Donaghy (1997). Institutions of modern Spain: a political and economic guide. Cambridge University Press. ISBN 0-521-57348-3. 
  2. ^ Olga Cabrero. “A Guide to the Spanish Legal System”. Law Library Resource Xchange, LLC. 
  3. ^ § 123, clause 1, Spanish Constitution of 1978
  4. ^ Solsten, Eric; Sandra W. Meditz (biên tập). Spain: a country study . Federal Research Division, Library of Congress. 
  5. ^ § 164, clause 1, Spanish Constitution of 1978
  6. ^ § 159, clause 2, Spanish Constitution of 1978
  7. ^ § 159, clauses 4 and 5, Spanish Constitution of 1978
  8. ^ “Constitutional Court of Spain rules that its courts may hear genocide cases even if they do not involve Spanish citizens, and holds that principle of universal jurisdiction takes precedence over alleged national interests”. International Law Update 11 (10). Tháng 10 năm 2005. 
  9. ^ “Claves de la renovación del Tribunal Constitucional” [The Keys to the Renewal of the Constitutional Court] (bằng tiếng Tây Ban Nha). El Mundo. Ngày 27 tháng 5 năm 2010. 

Liên kết ngoàiSửa đổi