Tăng trương lực cơ / hypertonia là một thuật ngữ đôi khi được sử dụng đồng nghĩa với sự co cứng và cứng cơ trong các tài liệu nói về chấn thương của hệ thần kinh trung ương, cụ thể là tổn thương tế bào thần kinh vận động trên.[1] Khả năng suy yếu của các tế bào thần kinh vận động bị tổn thương để điều chỉnh các con đường giảm dần dẫn đến các phản xạ cột sống bị rối loạn, tăng tính dễ bị kích thích của các trục cơ và giảm ức chế synaptic.[2] Những hậu quả này dẫn đến tăng trương lực cơ bất thường của các cơ có triệu chứng.[3] Một số tác giả cho rằng định nghĩa hiện tại về độ co cứng, hoạt động quá mức phụ thuộc vào vận tốc của phản xạ căng cơ, là không đủ vì nó không tính đến các bệnh nhân biểu hiện tăng trương lực cơ khi không có phản xạ căng quá mức. Thay vào đó, họ cho rằng " tăng trương lực đảo ngược " là phù hợp hơn và đại diện cho một tình trạng có thể điều trị đáp ứng với các phương thức trị liệu khác nhau như thuốc và/hoặc vật lý trị liệu.[4]

Triệu chứngSửa đổi

Các triệu chứng liên quan đến rối loạn hệ thống thần kinh trung ương được phân loại thành các loại tích cực và tiêu cực. Các triệu chứng tích cực bao gồm những triệu chứng làm tăng hoạt động của cơ thông qua sự kích thích quá mức của phản xạ căng (tức là cứng và co cứng) trong đó các triệu chứng tiêu cực bao gồm những hoạt động không đủ của cơ bắp (tức là yếu cơ) và giảm chức năng vận động.[5] Thông thường hai phân loại được cho là các thực thể riêng biệt của một loại rối loạn; tuy nhiên, một số tác giả đề xuất rằng chúng có thể liên quan chặt chẽ với nhau.[6]

Sinh lý bệnhSửa đổi

Tăng trương lực cơ được gây ra bởi các tổn thương tế bào thần kinh vận động trên có thể do chấn thương, bệnh hoặc các điều kiện liên quan đến tổn thương hệ thống thần kinh trung ương. Việc thiếu hoặc giảm chức năng tế bào thần kinh vận động trên dẫn đến mất sự ức chế với sự tăng động của các tế bào thần kinh vận động thấp hơn. Các dạng khác nhau của yếu cơ hoặc tăng động có thể xảy ra dựa trên vị trí của tổn thương, gây ra vô số các triệu chứng thần kinh, bao gồm co cứng, cứng cơ hoặc dystonia.[3]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ http://www.ninds.nih.gov/disorders/hypertonia/hmypertonia.htm[cần chú thích đầy đủ]
  2. ^ O'Sullivan, Susan (2007). Physical Rehabilitation. Philadelphia, PA: F.A Davis Company. tr. 234. 
  3. ^ a ă Sheean, Geoffrey; McGuire, John R. (2009). “Spastic Hypertonia and Movement Disorders: Pathophysiology, Clinical Presentation, and Quantification”. PM&R 1 (9): 827–33. PMID 19769916. doi:10.1016/j.pmrj.2009.08.002. 
  4. ^ Bakheit, AM; Fheodoroff, K; Molteni, F (2011). “Spasticity or reversible muscle hypertonia?”. Journal of Rehabilitation Medicine 43 (6): 556–7. PMID 21491075. doi:10.2340/16501977-0817. 
  5. ^ Sanger, T. D.; Chen, D.; Delgado, M. R.; Gaebler-Spira, D.; Hallett, M.; Mink, J. W. (2006). “Definition and Classification of Negative Motor Signs in Childhood”. Pediatrics 118 (5): 2159–67. PMID 17079590. doi:10.1542/peds.2005-3016. 
  6. ^ Damiano, Diane L; Dodd, Karen (2002). “Should we be testing and training muscle strength in cerebral palsy?”. Developmental Medicine & Child Neurology 44 (1): 68–72. PMID 11811654. doi:10.1111/j.1469-8749.2002.tb00262.x.