Tĩnh Hải quân

Tên gọi Việt Nam trước thời kỳ tự chủ

Tĩnh Hải quân (Hán văn : 靜海軍, Quảng thoại : Zing-hoi gwan, An Nam trung đại ngữ : Tịnh-hải quôn[1]) là khu vực hành chính Trung Hoa tồn tại giai đoạn 866 - 968.

Địa vực Tĩnh Hải quân về cực Nam Trung Châu.

Hành chínhSửa đổi

Cương vựcSửa đổi

Quân (軍) là cấp hành chính địa phương cao nhất thời Đường, thể hiện tính xung yếu và cần được quan phòng mức cao. Nhưng thực tế, thời kì này Đường triều chỉ đủ khả năng ki mi.

Địa giới Tĩnh Hải quân (靜海軍) trải từ mạn Nam Ngũ Lĩnh tới Hoành Sơn quan ngày nay, phía Tây tiếp giáp Nam Chiếu và một phần ngoại vực đế quốc Khmer. Đương thời, vùng này được hiểu gồm Lĩnh Nam (嶺南 ; một phần tỉnh Quảng TâyVân Nam, một phần Đông Bắc Bộ hiện đại) và Lĩnh Ngoại (嶺外), nhìn chung ở khá xa Trung Châu. Cũng do vậy, khi có loạn Nam Chiếu, triều Đường tỏ ra rất bị động ứng phó, rốt cuộc để mất ảnh hưởng ở ngoại biên.

Châu trị ban đầu tại Đại La thành, tới Ngô vương dời ra Cổ Loa (cổ âm : k'La, kẻ La ; Bạch Kê thành).

 
Dư đồ Tĩnh Hải quân.
1. Trực trị
  • Giao châu
  • Lục châu
  • Phúc Lộc châu
  • Phong châu
  • Thang châu
  • Tràng châu
  • Chi châu
  • Võ Nga châu
  • Võ An châu
  • Ái châu
  • Hoan châu
  • Diễn châu
2. Ki mi
  • Nam châu
  • Tích châu
  • Đông châu
  1. Tư Nông châu
  2. Lâm Tây châu
  3. Long châu
  4. Môn châu
  5. An Đức châu
  6. Quy Hóa châu
  7. Võ Văn châu
  8. Đô Kim châu
  9. Lộc châu
  10. Kim Long châu
  11. Kim Quách châu
  12. Cam Đường châu
  13. Lạng châu
  14. Nam Bình châu
  15. Kha Phú châu
  16. Đề Thượng châu
  17. Vi châu
  18. Võ Lục châu
  19. Tây Bình châu
  20. Thượng Tư châu
  21. Long Võ châu
  22. Tân An châu
  23. Võ Định châu
  24. Tư Lăng châu
  25. Phàn Đức châu
  26. Nam Đăng châu
  27. Tây Nguyên châu
  28. Tư Quách châu
  29. Thử châu
  30. Dư châu
  31. Đức Hóa châu
  32. Quận châu
  33. Quy châu
  34. Bình Nguyên châu
  35. La Phục châu
  36. Lang Mang châu
  37. Vạn Kim châu
  38. Kim Bưu châu
  39. Tín châu
  40. Thiêm Lăng châu

Quốc chủSửa đổi

Húy Tước hiệu Thụy hiệu Thời gian
Cao Biền Tĩnh Hải quân tiết độ sứ Cao vương[2] 864 - 868
Cao Tầm Tĩnh Hải quân tiết độ sứ
·
868 - 878
Tăng Cổn Tĩnh Hải quân tiết độ sứ
·
878 - 880
(chưa bổ nhậm)
·
·
880 - 882
Cao Mậu Khanh Tĩnh Hải quân tiết độ sứ
·
882 - 883
(chưa bổ nhậm)
·
·
883 - 884
Tạ Triệu Tĩnh Hải quân tiết độ sứ
·
884 - (khuyết sử)
An Hữu Quyền Tĩnh Hải quân tiết độ sứ
·
897 - 900
Chu Toàn Dục Tĩnh Hải quân tiết độ sứ
·
900 - 905
Độc Cô Tổn Tĩnh Hải quân tiết độ sứ
·
905
Khúc Thừa Hạo Tĩnh Hải quân tiết độ sứ Khúc tiên chủ 907 - 917
Khúc Thừa Mĩ Tĩnh Hải quân tiết độ sứ Khúc hậu chủ 917 - 923
Lưu Nghiễm Quảng châu tiết độ sứ
Tĩnh Hải quân tiết độ sứ
Thiên Hoàng đại đế 923 - 931
Dương Diên Nghệ Ái châu thứ sử
Tĩnh Hải quân tiết độ sứ[3]
Dương chính công 931 - 937
Kiểu Công Tiễn Phong châu thứ sử
Tĩnh Hải quân tiết độ sứ[4]
·
937 - 938
Lưu Hoằng Tháo Tĩnh Hải quân tiết độ sứ[5] Vạn vương 938
Ngô Quyền Tĩnh Hải quân tiết độ sứ
Ngô vương
Tiền Ngô vương
Ngô tiên chủ
938 - 944
Dương Thiệu Hồng Tĩnh Hải quân tiết độ sứ[6]
Dương Bình vương
Trương Dương công
Dương chủ tướng 944 - 950
Ngô Xương Văn[7] Tĩnh Hải quân tiết độ sứ
Nam Tấn vương
Hậu Ngô vương
Ngô hậu chủ
950 - 965
Ngô Xương Ngập[8] Tĩnh Hải quân tiết độ sứ
Thiên Sách vương
·
950 - 954
Đinh bộ lĩnh[9] Tĩnh Hải quân tiết độ sứ[10]
Vạn Thắng vương[11]
Tiên hoàng đế 965 - 968

Lịch sửSửa đổi

Tên gọi Việt Nam  
2879–2524 TCN Xích Quỷ
2524–258 TCN Văn Lang
257–179 TCN Âu Lạc
204–111 TCN Nam Việt
111 TCN–40 CN Giao Chỉ
40–43 Lĩnh Nam
43–203 Giao Chỉ
203–544 Giao Châu
544–602 Vạn Xuân
602–679 Giao Châu
679–757 An Nam
757–766 Trấn Nam
766–866 An Nam
866–967 Tĩnh Hải quân
968–1054 Đại Cồ Việt
1054–1400 Đại Việt
1400–1407 Đại Ngu
1407–1427 Giao Chỉ
1428–1804 Đại Việt
1804–1839 Việt Nam
1839–1945 Đại Nam
1887–1954 Đông Dương
(Bắc/Trung/Nam Kỳ)
từ 1945 Việt Nam
Bản mẫu chính
Lịch sử Việt Nam

Niên hiệu Hàm Thông thứ 7 (866), hoàng đế Đường Ý Tông thuận thỉnh tấu của quan kinh lược Cao Biền mà nâng An Nam đô hộ phủ thành Tĩnh Hải quân[12]. Nhờ công dẹp loạn Nam Chiếu, đại thần Cao Biền được trọng nhậm tiết độ sứ[13], tùy nghi hành sự tại đất Lĩnh Nam[14].

Tĩnh Hải quân ở giai đoạn đầu (866 - 931) tương đối ổn định nhờ hậu thuẫn của triều đình Trung Châu, giai đoạn sau (931 - 9658) càng lúc càng biến động do chính quyền trung ương không kiềm chế được thế lực địa phương, mà bản thể hình thái chính trị này cũng thường biến và càng không đủ chính danh.

Đại Đường triều (866 - 907)Sửa đổi

Theo chuyên khảo của tiến sĩ Li Tana, sau loạn An Sử, Đường triều nhìn chung đã suy không kiểm soát được biên viễn. Do mức trù phú và ổn định suốt nhiều thế kỉ, vùng Lĩnh Nam trở thành mục tiêu của nhiều thế lực mới nổi xung quanh, mà cuộc xâm lăng tàn khốc của Đại Lễ quốc chỉ là tất yếu.

Trong thời kì 858 - 865, quân Nam Chiếu liên tục tràn xuống An Nam, đặc biệt hạ lưu Hồng hà, các quan trấn thủ và tướng lĩnh Đường triều cự không nổi phải triệt thoái. Mãi tới năm 866, triều đình trung ương mới cử một văn thần là Cao Biền đẩy lui được. Tuy nhiên, từ vị thế có mật độ dân số lớn nhất Trung Châu, Lĩnh Nam lúc này neo người do bị bách hại hoặc bỏ chạy. Cũng từ vị thế độc tôn hải thương Trung Hoa, An Nam phải nhượng quyền cho lưu vực Quảng Châu. Tuy vậy, cho tới đầu thế kỉ XX, Tĩnh Hải quân tạm duy trì ổn định.

Khúc chủ (907 - 923)Sửa đổi

Năm 907, nhân Hậu Lương Thái Tổ truất quyền tiết độ sứ Độc Cô Tổn, chưa kịp bổ chức dịch mới, một hào trưởng Hồng châu là Khúc Thừa Hạo đem võ sĩ vào chiếm châu trị Đại La, xưng tiết độ sứ. Triều Lương ở quá xa, quyền bính còn bất ổn nên tạm để họ Khúc yên vị. Tuy nhiên, qua năm sau, Thái Tổ đế phong quan thị trung Lưu Ẩn chức Quảng châu tiết độ sứ kiêm Tĩnh Hải quân tiết độ sứ, tước Nam Bình vương. Họ Lưu viện cớ này để đòi họ Khúc trao quyền bính Lĩnh Nam.

Năm 911, tiết độ sứ Lưu Ẩn mất, em là Lưu Nghiễm kế nghiệp và bắt đầu dựng tự chủ. Khúc chủ bèn phong con/em là Thừa Mĩ làm khuyến hảo sứ/hoan hảo sứ, sang Phiên Ngung thông hiếu và dò la binh tình. Năm 917, Lưu Yểm cải danh thành Lưu Trắc, xưng đế và li khai triều Lương. Cũng năm ấy, Khúc chủ Hạo mất, sứ thần Thừa Mĩ phải về chịu tang và kế vị. Họ Lưu đặt quốc danh Đại Việt, rồi Đại Hán, mà sử gọi Nam Hán, tiến hành thu phục Tĩnh Hải quân bằng võ lực. Khúc chủ Thừa Mĩ viện cớ họ Lưu tạo phản mà xin triều Lương công nhận, sai sứ sang Biện Lương cầu thân với ý định dựa thế lực lớn hơn giữ lộc vị.

Nam Hán triều (923 - 938)Sửa đổi

Năm 923, khi Hậu Lương triều đổ, Nam Hán đế dấy binh công kích, Khúc chủ thua và bị điệu về Phiên Ngung. Triều Nam Hán bãi Tĩnh Hải quân, nhập lĩnh thổ vào cương vực Đại Hán quốc, lại cho liêu thuộc Lý Tiến làm thứ sử, tì tướng Lý Khắc Chính trấn thủ Đại La thành. Tình thế trung thổ An Nam tạm yên thêm mấy năm.

Năm 931, nhân Khúc chủ Thừa Mĩ mất tại Phiên Ngung, một bộ tướng cũ người Ái châuDương Diên Nghệ (vốn được Nam Hán đế phong Ái châu thứ sử) đem dũng sĩ ra Đại La đoạt quyền thứ sử Lý Tiến, tự xưng Tĩnh Hải quân tiết độ sứ và bất phục triều Nam Hán.

Năm 937, nha tướng Kiểu Công Tiễn tạo phản, hạ sát tiết độ sứ họ Dương và chiếm quyền. Năm 938, một người rể Dương Diên NghệNgô Quyền lại đem quân vào Đại La diệt Kiểu tiếm chủ, cũng xưng tiết độ sứ, kết thúc nội biến.

Ngô vương (938 - 965/8)Sửa đổi

Vì Giao châu biến động, Nam Hán đế sai hoàng trưởng tử Lưu Hoằng Tháo đem binh thuyền sang phục vị. Tuy nhiên, quân Nam Hán thua ở Bạch Đằng, chủ soái Lưu Hoằng Tháo cũng vong trận, Nam Hán phải bỏ hẳn miền Lĩnh Ngoại, chỉ giữ lại Lĩnh Nam.

Tiền Ngô vương / Dương Bình vương

Năm 939, tiết độ sứ Ngô Quyền xưng vương. Do Trung Châu bấy giờ đại loạn, Ngô vương Quyền thực tế là Tĩnh Hải quân tối cao thống trị giả. Ông cho định đô tại Cổ Loa thành.

Năm 944, Ngô vương Quyền mất. Thê đệ Dương Thiệu Hồng tiếm vị, đích tử Ngô Xương Ngập phải trốn, tuy nhiên họ Dương đem người kế tử Ngô Xương Văn về nuôi. Nhân cơ hội này, sứ quân trỗi dậy khắp nơi, không thần phục triều đình trung ương. Sử gọi Thập nhị sứ quân chi loạn[15].

Hậu Ngô vương / Thập nhị sứ quân

Theo chuyên khảo của tiến sĩ Trần Trọng Dương, cả nhân vật Ngô Quyền cho tới các sứ quân đều từng là giả tử của thứ sử Ái châu Dương Diên Nghệ hoặc ít nhiều liên đới từ lâu. Vì thế, nội biến do người con Dương Diên Nghệ là nguyên cớ để sứ quân bất phục. Cũng theo tiến sĩ Trần Trọng Dương, trái quan niệm trong học giới thế kỉ XX, thực tế Đinh bộ lĩnh hầu như là sứ quân quật khởi ban đầu[16][17]. Các sứ quân vừa tranh đấu vừa đổi con tin để thủ thế, đa số sứ quân thuần biện pháp cầu thân chứ không động binh.

Năm 950, vương tử Ngô Xương Văn truất tiếm chủ Dương Thiệu Hồng, giáng làm Trương Dương công. Bản thân xưng Nam Tấn vương, đón bào huynh Ngô Xương Ngập về phong Nam Sách vương, tước thái thượng vương, cùng trị quốc. Nhiều tài liệu hậu hiện đại thường gọi nhị vương.

Năm 954, Nam Sách vương mất. Năm 965, Nam Tấn vương cũng vong trận. Triều Ngô không người trực hệ kế nghiệp, tới đây [dường như] cáo chung.

Đinh bộ lĩnh

Trong 3 năm cuối cùng, sứ quân Đinh thị lần lượt thu phục các thế lực lớn nhất trung thổ, căn bản thống nhất bờ cõi Tĩnh Hải quân. Tới năm 968, ông xưng Đại Thắng Minh hoàng đế, đổi Tĩnh Hải quân thành Đại Cồ-việt quốc, dựng kinh thành Tràng An ở bản quán Hoa Lư, coi như kết thúc gần thế kỉ tương tàn[18].

Văn hóaSửa đổi

Thực tế từ thời điểm kết thúc loạn sứ quân, khu vực Lĩnh Nam không chịu sự kiểm soát trực tiếp của các triều đình Trung Châu nữa, căn bản tiến tới tự chủ hoàn toàn ở thế kỉ XI[19]. Tuy vậy, cho tới gần hết Tống triều, quân vương An Nam khi dâng biểu cầu phong đều được hoàng đế Tống ban tước Tĩnh Hải quân tiết độ sứ. Năm 1262 cải «Tĩnh Hải quân tiết độ quan sát xử trí sứ, Kiểm hiệu thái úy kiêm Ngự sử đại phu, Thượng trụ quốc, An Nam quốc vương hiệu trung thuận hóa công thần». Trong khoảng 3 thế kỉ, việc được triều đình Trung Châu công nhận chức Tĩnh Hải quân tiết độ sứ là điều kiện tiên quyết để quân chủ An Nam được nội bộ thừa nhận tính chính thống.

Do đặc thù xã hội An Nam thế kỉ IX sang giữa thế kỉ X thường động loạn nên sử liệu không nhiều và lắm tồn nghi. Cho nên, trong quá trình phát triển văn bản họckhảo cổ học ở hậu kì hiện đại đã phát sinh một số nghi vấn về thời kì này.

1. Hư thực nhân vật Khúc Thừa Dụ

Cứ liệu sớm nhất nhắc đến nhân vật Khúc Thừa Dụ (曲承裕) là Tục tư trị thông giám của tác giả Tất Nguyên triều Càn Long (giữa thế kỉ XVIII), sau được Nguyễn triều Quốc Sử quán Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép nguyên văn : "Năm Đinh Mão [907], (Đường Thiên Hựu thứ 4, Lương Thái Tổ hiệu Khai Bình thứ 1). Khúc Thừa Dụ mất, con là Hạo giữ Giao châu, tự xưng tiết độ sứ. Khúc Hạo nhờ vào cơ nghiệp cũ, giữ lấy La thành, cũng xưng tiết độ sứ. [Ông] chia lộ phủ châu xã các xứ ; đặt chính lệnh trưởng và tá lệnh trưởng, bình quân thuế ruộng, tha bỏ lực dịch ; lập sổ khai hộ khẩu, kê rõ họ tên quê quán, giao cho giáp trưởng trông coi. Chính trị cốt chuộng khoan dung giản dị, nhân dân đều được yên vui. Khi đó, nhà Lương dùng tiết độ sứ Quảng Châu là Lưu Ẩn kiêm lĩnh chức Tĩnh Hải quân tiết độ sứ và phong tước Nam Bình vương. Lưu Ẩn giữ thành Phiên Ngung. Khúc Hạo giữ Giao châu, [cũng] tự xưng tiết độ sứ, hai bên chực thôn tính lẫn nhau. Lời chua : Khúc Hạo - Theo sách An Nam Kỉ Yếu, Khúc Hạo người Giao Chỉ. Cuối đời Đường, Khúc Hạo làm tiết độ sứ thay Độc Cô Tổn, đổi các hương ở huyện làm giáp, đặt mỗi giáp một quản giáp và một phó tri giáp để giữ việc đánh thuế. Khúc Hạo giữ chức tiết độ sứ được bốn năm thì mất. Nay xét việc chép trong An Nam Kỉ Yếu có hơi khác với lời sử cũ, xin ghi cả hai để tham khảo".

Ngoài ra, các thư tịch trước đó đều không chép gì nhân vật này, nên chăng là sự sót lầm của học giả đời Thanh trong quá trình tầm khảo tư liệu.

  • An Nam chí lược (Đại Nguyên) : "Cuối đời Đường, thổ hào Giao Châu Ái Châu là các họ Khúc Dương Kiểu Ngô nối nhau thoán đoạt, trong thời gian chừng năm sáu chục năm. [...] Khúc Hạo chiếm cứ Giao Chỉ. Lúc ấy, Lưu Ẩn chiếm cứ Phiên Ngung. Ẩn chết, con là Lưu Nghiễm kế lập, xưng quốc hiệu Nam Hán. Khúc Hạo khiến con là Thừa Mĩ qua làm khuyến hảo sứ, đến Quảng Châu dò xét thực hư. Hạo chết, Thừa Mĩ kế ngôi cha. Năm Kỉ Mão, hiệu Trinh Minh nhà Lương nguyên niên [915], [ông] khiến sứ tiến cống, cầu lĩnh tiết việt, nhà Lương nhân trao cho. Lưu Nghiễm cả giận, tháng 9 năm Đại Hữu thứ 3 [930] đời ngụy Hán [Nam Hán], khiến kiêu tướng Lương Khắc Chính đem binh đến đánh, bắt Thừa Mĩ về. Khắc Chính lưu giữ Giao Chỉ, sau bị Dương Đình Nghệ đuổi".
  • Đại Việt sử lược (An Nam Trần triều) : "Khúc Hạo vào năm đầu niên hiệu Khai Bình nhà Lương [907] lên thay Độc Cô Tổn làm tiết độ sứ. Khúc Toàn Mĩ là em trai Khúc Hạo vậy. Đời vua Minh Tông [926 – 933] triều Hậu Đường, [Khúc Toàn Mĩ] thay Khúc Hạo làm tiết độ sứ. Sau, Khúc Toàn Mĩ bị tướng Nam Hải là Lương Khắc Chân bắt đưa về Nam Hán rồi cho Nguyễn Tiến [tức Lý Tiến, thời Trần kị chữ Lý nên phải đổi Nguyễn] sang thay. [...] Năm đầu niên hiệu Trường Hưng [930] đời Minh Tông triều Hậu Đường, chúa Nam Hán là Lưu Cung sai tướng là bọn Lương Khắc Chân sang đánh Giao châu ta, bắt được quan tiết độ sứ Khúc Toàn Mĩ, rồi cho tướng Nguyễn Tiến thay".
  • Đại Việt sử kí toàn thư (An Nam Lê triều) : "Đinh Mão [907], (Đường Thiên Hựu năm thứ 4, Lương Thái Tổ Chu Toàn Trung cải danh là Hoảng, lấy hiệu Khai Bình nguyên niên). Nhà Lương cho Quảng Châu tiết độ sứ Lưu Ẩn kiêm chức Tĩnh Hải quân tiết độ sứ, tước Nam Bình vương. Khi ấy, Ẩn chiếm giữ Phiên Ngung, người Giao châu là Khúc Hạo chiếm giữ châu trị, xưng tiết độ sứ, có mưu đồ lẫn nhau. Năm ấy nhà Đường mất. [...] Đinh Sửu [917], (Lương Mạt Đế Hữu Trinh cải danh Chẩn, hiệu Trinh Minh năm thứ 3). Quảng Châu tri lưu hậu nhà Lương là Lưu Nham đặt quốc hiệu Hán [Nam Hán], niên hiệu Càn Hanh thứ nhất. Khúc Hạo sai con là Thừa Mĩ làm hoan hảo sứ sang Quảng Châu thăm dò tình hình [Nam Hán] hư thực thế nào. Hạo chết, Khúc Thừa Mĩ lên thay. [...] Kỉ Mão [919], (Lương Trinh Minh năm thứ 5). Khúc Thừa Mĩ sai sứ sang nhà Lương xin được lĩnh tiết việt, nhà Lương ban cho. Vua [Nam Hán] cả giận. [...] Quý Mùi [923] (Lương Long Đức năm thứ 3, Đường Trang Tông Lý Tồn Húc, hiệu Đồng Quang nguyên niên), nhà Lương mất. Mùa thu tháng Bảy, vua Hán sai kiêu tướng Lý Khắc Chính đem quân đánh Giao châu, bắt được tiết độ sứ [Khúc] Thừa Mĩ về, [Khắc Chính] lấy bộ tướng của mình là Lý Tiến thay. Lý Khắc Chính ở lại giữ Giao châu, bị tướng của Khúc Hạo là Dương Đình Nghệ người Ái châu đánh đuổi. Vua Hán trao Đình Nghệ tước vị, lấy Lý Tiến làm thứ sử Giao Châu, cùng với Lý Khắc Chính giữ thành, bảo tả hữu rằng : Dân Giao Chỉ hay làm loạn, [ta] chỉ ki mi được thôi. [...] Sử thần Ngô Sĩ Liên bàn : Lưu Nghiễm đương lúc triều đình phương Bắc rối loạn, nhờ nghiệp cũ của anh mà dựng nước, đặt niên hiệu, cùng với Khúc Hạo tranh bá, rồi bắt Thừa Mĩ, lấy Giao châu, hùng cứ một phương, cùng sánh được các nước tiếm ngôi ở Bắc triều. Cho nên, Tiền Ngô vương nổi lên, tuy giết được con, phá được quân [Nghiễm], nhưng không giữ được đất, quốc thống họ Lưu kéo dài không dứt, mãi đến khi Tống [Thái] Tổ dấy lên thì đất ấy mới nhập vào nhà Tống".
2. Dương Diên Nghệ hay Dương Đình Nghệ ?

Tự mẫu 筵 (Diên) khá giống 廷 (Đình) cả về lối đọc và ghi trong ngôn ngữ An Nam trung đại. Tuy nhiên, ngoại trừ Đại Việt sử kí toàn thư chép 楊廷藝 (Dương Đình Nghệ), các văn bản cổ hơn ở Trung Châu và sau này tới Cương mục Nguyễn triều đều chép 楊筵藝 (Dương Diên Nghệ).

3. Ngô Xương Xí hay Nguyễn Xương Xí ?

Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục (thế kỉ XIX), Thiên Sách vương có người đích tử Ngô Xương Xí thuộc đàng ngoại tiếm chủ Dương Thiệu Hồng. Ở thời điểm 965, tiếm chủ Dương Thiệu Hồng được cho là đã xuôi về mạn Tùng Khê (nay thuộc huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định). Cũng năm đó, do thấy vị thế đã kém, ông Ngô Xương Xí không xưng quốc chủ mà lui xuống mạn Bình Kiều (nay thuộc tỉnh Thanh Hóa) giữ lộc vị, bỏ hoang kinh kì.

Cương mục cũng là cứ liệu sớm nhất về nhân vật Ngô Xương Xí. Tuy nhiên, có sách chép là Nguyễn Xương Xí, như vậy cũng không chắc là dòng dõi Ngô vương Quyền. Điều này bổ sung cho lí do sau thời nhị vương triều Ngô không còn ai ra gánh việc quân quốc nữa.

4. Cổ-loa hay Kê-ấp ?

Theo Sưu thần ký, năm thứ 27 đời Tần Huệ vương, sai Trương Nghi xây thành ở Thành Đô, nhiều lần bị sụp. Bỗng có con rùa lớn nổi trên sông Dương Tử, bơi tới góc Đông Nam của tử thành phía Đông thì chết. Nghi đem việc ấy hỏi vu sư, sư nói : “Xây thành giống hình rùa”. Nghi liền làm theo, gọi là Quy Hóa thành. Trong đó, chữ "quy hóa" 亀化 khá gần tự dạng "cổ loa" 古螺 cả âm và lối ghi cổ.

Theo tiến sĩ Lê Chí Quế, "cổ loa" là lối kí âm Hán của từ k'la, tức kẻ La trong tiếng Việt trung đại, địa danh vẫn tồn tại cho tới đầu thế kỷ XX trước khi phủ thủ hiến Bắc Việt cải cách hành chính phía Bắc Hà Nội năm 1950 (đổi K'noi thành Cổ Nhuế, K'lu thành Kim Lũ, Tlem/Chèm thành Từ Liêm...). Đọc theo lối hiện đại là "con gà", tương ứng truyền thuyết Bạch Kê tinh quấy việc xây thành ; còn "thục phán" trong ngôn ngữ Tàytúkpăn, hàm nghĩa "thủ lĩnh", tương tự trường hợp "chao, chau" (triệu) trong ngôn ngữ Thái, "po t'ring" (bộ lĩnh, bồ chính) trong ngôn ngữ Champa hoặc "kurung, turun" (hùng, trưng) trong ngôn ngữ Minangkabau (chữ "minang/manang/mling" gần đây được học giới đồng nhất với tự dạng "văn lang, mê linh", góp phần củng cố giả thuyết người Minangkabau đã di cư từ Bắc Bộ tới Sumatra và đem nhiều di sản của ngữ hệ Việt cổ đã thất truyền tại chính Việt Nam). Khi khảo sát thực địa thập niên 1960, các nhà khoa học đã tìm thấy những trầm tích cổ hơn cả thời được coi là An Dương Vương dưới nền xóm Gà (nay thuộc huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội). Vậy "cổ loa" cũng có thể ước đoán là Bạch-kê thành (白雞城).

Điểm trùng hợp ngẫu nhiên giữa cứ liệu Sưu thần ký và quan điểm của tiến sĩ họ Lê là, nền Quy Hóa thành nguyên sơ là địa danh Mã ấp (xóm Ngựa), cho nên thành có tên gọi khác là Mã-ấp thành (馬邑城)[20]. Cũng khớp với các huyền tích kiến thành Tràng An thời ĐinhThăng Long thời . Tương truyền, khi Lý Thái Tổ dựng kinh đô ở khoảng giữa hồ Tây và sông Tô Lịch, thành cứ xây xong lại đổ, vua bèn tới đền Long Đỗ khấn, bỗng có con bạch mã từ nội điện chạy ra, vua cứ theo vết móng ngựa vào cho đóng móng xây thành, khiến thành vững chãi suốt cả ngàn năm.

Mà theo tác giả Philippe Papin trong cuốn Histoire de Hanoï năm 2001, ngay từ đầu Công nguyên, toàn bộ đồng bằng sông Hồng - gồm Hà Nội hiện đại - còn nằm dưới mực nước biển, nên ngoại trừ gò Cây Táo (tương ứng thôn Triều Khúc ngày nay) khả dĩ trên mép nước một chút, thì không lý gì người Việt lại dựng nhà cửa ở vùng nước trũng ; cho nên, sự tồn tại một kinh thành ở khu vực Hà Nội là điều hết sức phi lý. Ông cũng nhấn mạnh, trừ phi điều đó là sự "chữa" sử ký nhằm hợp thức hóa việc tuyên truyền chủ nghĩa dân tộc hiện đại. Dù vậy, một bộ phận người Việt hiện đại còn nặng tinh thần cực đoan bảo thủ thì không chấp nhận kiến giải theo lối mới, thậm chí sẵn sàng tẩy xóa sự thật nhằm hậu thuẫn cho niềm tin cũ, cố ý bỏ quên sự hiện diện của yếu tố Hán Đường trong lớp tàn tích. Còn theo tiến sĩ Lê Mạnh Thát, thành Cổ Loa có sớm nhất từ thời Ngô Quyền, trong khi truyền thuyết An Dương Vương xuất hiện khá trễ ở hậu kỳ trung đại, một cách phản ánh Mahabharata theo nhãn quan người Việt. Tuy nhiên, tới nay chưa biết thuyết nào xác đáng hơn.

  • Truyền thuyết Thái Vân Nam : Khoun Bourôm thống nhất lục chiếu, bèn chiếm Muang Thèn lập kinh đô. Thành hễ cất được ít lâu thì đàng xa có tiếng gà gáy, lại sập, khiến biết bao người chết. Nhà chúa phải cầu đảo bách thần, ma rừng ma nước... thế rồi có cụ già tới chỉ cách dựng thành trên cái gò hình con rùa, lại niệm chú. Tự bấy thành không đổ nữa / Nước Đại Lý có lĩnh chúa họ Đoàn tự lập làm vua, bèn dấy quân đi đánh chúa quỷ Atula. Quỷ vương bèn bắt vợ Đoàn lĩnh chúa về dinh của nó. Chúa phải mượn cây nỏ có lẫy bằng móng thần rùa vốn là linh vật họ Đoàn từ đời cố tổ. Nỏ phóng ra những mũi tên sắc lẹm, phá tan thành ấp quỷ, nhưng vô tình giết luôn thê thiếp tông tộc quỷ vương và cả vợ lĩnh chúa Đoàn. Sau khi diệt xong quỷ dữ, Đoàn lĩnh chúa cho dựng thành trên nền dinh ấy.
  • Huyền tích Tày-Nùng : Chúa Nông Trí Cao xưng đế, dựa vào châu Thảng Do để cự nhà Lý. Bèn cất ở đấy một đô thành, gọi là Tà Dích (Đại Lịch), nhưng thành cứ xây xong lại sập. Nhà chúa bèn lập đàn khấn thần linh, thần bèn hóa con rùa vàng óng bò lại. Rùa bò tới đâu thì đất cứng đến đấy, chúa mừng quá bèn đóng cọc xây thành, không bao giờ đổ nữa. Nhân đó đổi tên thành là Tà Nám (Đại Nam). Thần rùa rút ở chân ra cái móng, bảo hễ lúc nào bị quan quân triều đình truy bắt thì đem ra dùng. Nông Trí Cao không tin, sau quả nhiên ứng nghiệm, khi lấy cái móng rùa ra thì đột nhiên có cơn gió đưa đi vạn dặm, tránh khỏi bị bắt.
  • Huyền thoại Tráng : Bua Mèng Mỗi dựng thành quách ở cái gò tựa như con rùa, nhưng thành hễ xây được ít hôm lại sạt lở. Bua bèn triệu thầy mo về cúng ma rừng. Thầy mo nói, nội dăm hôm nữa sẽ có thần gà trắng tới báo oán. Bua Mèng Mỗi bèn triệu các con trai lại, nhưng không ai dám đi đánh yêu quái. Bua phải lập đàn cầu đảo, xin dâng người thiếp đẹp nhất cho thần gà. Bỗng có trận gió ào tới cuốn phăng nhà cửa và người thiếp ấy đi. Tự bấy việc xây thành tiến triển, không đổ nữa.
  • Tam quốc sử ký : Ở thiên quốc bỗng đâu có sáu quả trứng rơi xuống Kê Lâm, trứng nở ra 6 vị vua chia nhau cai trị cõi Hàn. Trong 6 anh em, Thủ Lộ Vương ra trước, bèn bàn cách lập ấp kiến thành ở Kim Hải. Nhưng thành cứ dựng xong thì lúc sẩm tối lại đổ, vua bèn hỏi vu nữ, vu nữ bày rằng phải lập đàn khấn Đông Hải Long Vương. Long Vương nghe có kẻ xướng danh mình, bèn lội nước vào bờ dưới dạng con rùa mai vàng. Rùa cứ bò tới đâu thì Thủ Lộ Vương đóng móng cất thành đến đấy. Thành vì thế vững chãi, bọn hải khấu đánh mãi cũng không đổ.
  • Huyền thoại Kalmyk : Xưa kia, đại hãn Biệt Ca lập đô thành Tát Lai ở tả ngạn Volga nhằm phô trương thanh thế. Nhưng hễ khi mặt trời lặn thì móng thành đứt tung như có quỷ gặm (dị bản cho là linh cẩu), hãn bèn sai người cháu là Na Hải tìm hiểu. Khi đêm buông, Na Hải trốn sau cái gò và thấy những bóng đen chạy tới chạy lại, húc vào chân thành làm bở gạch vữa, ngài bèn tri hô cho binh sĩ ruổi ngựa đuổi theo. Những bóng đen lộ nguyên hình dưới ánh lửa là những con gà có sải cánh rất dài, chạy thục mạng lên phương Bắc. Đại hãn bèn nhờ vu sư khấn thần rùa từ phương Đông tới giúp đánh yêu quái, từ đấy thành không đổ nữa. Nhờ công trạng ấy mà sau khi đại hãn mất, Na Hải được kế nghiệp và lập một hãn quốc lừng lẫy ở ven hồ Kaspy.
5. Thập nhị sứ quân

Con số 12 vốn là khái niệm lâu đời trong sử kí cả Á ĐôngTây phương, cho nên khi áp dụng vào thời điểm cụ thể thường mang tính ẩn dụ về sự đa phương hoặc hỗn loạn trong xã hội. Ở trường hợp thập nhị sứ quân, trong thực tế chỉ có ít sứ quân như Đinh bộ lĩnh, Phạm Bạch Hổ, Ngô Nhật Khánh, Kiểu Công Hãn, Trần Lãm được cổ sử cả Trung HoaAn Nam chép ở giai đoạn gần với đương thời, còn lại là ngụy tác ở nhiều thế kỉ sau. Điển hình là trường hợp sứ quân Ngô/Nguyễn Xương Xí.

Tham khảoSửa đổi

Liên kếtSửa đổi

  1. ^ Alexandre de Rhodes, [...], Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum, Sacra Congregatio de Propaganda Fide, Roma, 1561.
  2. ^ Lý triều truy tôn năm 1009.
  3. ^ Tự xưng, nhưng được thừa nhận rộng rãi.
  4. ^ Tiếm xưng, không được thừa nhận rộng rãi.
  5. ^ Nam Hán triều sách phong, không được thừa nhận rộng rãi.
  6. ^ Không được thừa nhận rộng rãi.
  7. ^ Thực quyền.
  8. ^ Hư vị.
  9. ^ Khuyết danh.
  10. ^ Tự xưng, không được thừa nhận rộng rãi.
  11. ^ Được tôn tụng.
  12. ^ 《舊唐書·高駢傳》:“五年,移駢為安南都護”。
  13. ^ 《資治通鑑》:“(咸通七年十一月)置靜海軍於安南,以高駢為節度使”。
  14. ^ 《新唐書·高駢傳》:“進駢檢校刑部尚書,仍鎮安南,以都護府為靜海軍,授駢節度,兼諸道行營招討使”。
  15. ^ Trần Trọng Dương, Đinh bộ lĩnh - Loạn 12 sứ quân : Từ sử liệu tới sử thực (chuyên khảo), Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội, 2012
  16. ^ Người ghép mảnh vỡ lịch sử
  17. ^ Trao đổi với Trần Trọng Dương
  18. ^ Trần Trọng Dương, Đinh Tiên Hoàng dưới con mắt các sử gia hiện đại, Tạp chí Tia Sáng, Hà Nội, 18-11-2018.
  19. ^ Trần Quang Đức, Lịch sử không phải chỉ là các cuộc chiến (phỏng vấn), Hà Nội, 2013
  20. ^ 『捜神記』亀による築城
  21. ^ Hội luận Sự trỗi dậy của Đại Việt quốc trong thế kỉ XV, Sài Gòn, 21 tháng 12 năm 2015.

Tài liệuSửa đổi

Quốc ngữ
Ngoại ngữ

Tư liệuSửa đổi