Mở trình đơn chính

Tư Mã Đạo Tử (chữ Hán: 司馬道子, 364 - 3 tháng 2 năm 403, tự là Đạo Tử (道子), là tông thất và đại thần dưới thời nhà Tấn trong lịch sử Trung Quốc. Xuất thân là hoàng tử của Tấn Giản Văn Đế, Tư Mã Đạo Tử được ban tước hiệu Lang Nha vương và sau đó là Cối Kê vương. Dưới thời anh trai Tấn Hiếu Vũ Đế, Tư Mã Đạo Tử lần lượt đảm nhận các chức vụ quan trọng trong triều đình như Hội Kê nội sử, Tán kị thường thị, Trung quân tướng quân, Phiêu kị tướng quân, Tư đồ, Lục thượng thư sự, thứ sử Dương châu, Giả tiết, Đô đốc trung ngoại chư quân sự... rồi Từ châu thứ sử, Thái tử thái phó... Sang đời cháu là Tấn An Đế, Tư Mã Đạo Tử nắm quyền nhiếp chính trong triều. Trong thời gian nhiếp chính, ông thường say xỉn liên miên và tin dùng gian thần, làm cho triều chính hủ bại, kết quả dẫn đến hai cuộc binh biến trong cung thất vào các năm 397398, cuối cùng quyền lực lọt vào tay người con trai của ông, Tư Mã Nguyên Hiển. Đến năm 403, quân nổi loạn do Hoàn Huyền tiến vào chiếm được kinh thành Kiến Khang, Hoàn Huyền ra lệnh sát hại Tư Mã Nguyên Hiển và đày Tư Mã Đạo Tử sang quận An Thành, sau cùng ông bị thủ hạ là Đỗ Trúc Lâm đầu độc chết, thọ 39 tuổi. Sau này khi Hoàn Huyền bị dẹp tan, triều đình nhà Tấn quyết định phục hồi danh dự cho Tư Mã Đạo Tử, truy tôn ông làm Thừa tướng và ban thụy hiệu là Cối Kê Văn Hiếu vương(會稽文孝王).

Sớm nắm quyền lớnSửa đổi

Tư Mã Đạo Tử nguyên là con trai út của Tấn Giản Văn Đế Tư Mã Dục, vua thứ 12 của nhà Tấn, em trai của Tấn Hiếu Vũ Đế, vua thứ 13 của nhà Tấn. Do những người anh trước đó của ông đều mất sớm, nên Tư Mã Dục, lúc đó đang mang tước hiệu Cối Kê vương đã lấy tì nữ Lý Lăng Dung làm thiếp. Lý Lăng Dung hạ sinh Tư Mã Diệu (Tức Tấn Hiếu Vũ Đế) vào năm 363 và sang năm 364 thì hạ sinh Tư Mã Đạo Tử.

Năm 371, Tư Mã Dục được Hoàn Ôn lập làm vua, tức là Tấn Giản Văn Đế, Tư Mã Đạo Tử trở thành hoàng tử. Đến tháng 7 ÂL năm 372 (tức 12 tháng 9), Tư Mã Đạo Tử được ban tước hiệu Lang Nha vương và đồng thời được lãnh chức Cối Kê sử, trông coi công việc ở Cối Kê quốc[1].

Cùng năm 372, Tấn Giản Văn Đế băng hà, Tư Mã Diệu nối ngôi, trở thành Tấn Hiếu Vũ Đế. Những năm đầu thời Hiếu Vũ Đế, Tư Mã Đạo Tử được phong chức Tán kị thường thị và Trung quân tướng quân, sau được thăng làm Phiêu kị tướng quân. Sang tháng 6 năm 380, ông được mở phủ đệ và lĩnh chức Tư Đồ[2][3].

Tháng 9 năm 383, Tư Mã Đạo Tử được phong chức Lục thượng thư điều sự[4][5]. Như vậy, trong vòng hơn 10 năm từ 372 đến 383, Tư Mã Đạo Tử liên tục được thăng chức và dần nắm được quyền lực trong triều. Vào thời điểm đó, ông chỉ khoảng 20 tuổi. Nắm được nhiều quyền hành, Tư Mã Đạo Tử được nhiều người kính phục và đi theo. Do anh vợ của Vương Quốc Bảo có hiềm khích với cha vợ là Tạ An vì Tạ An không đề bạt mình, nên bỏ theo Tư Mã Đạo Tử và gièm pha Tạ An với ông[6]. Cuối cùng Đạo Tử biếm chức Tạ An, đày đi khỏi trấn.

Năm 385, Tạ An qua đời. Từ lúc này, Tư Mã Đạo Tử trở thành vị quan tối cao trong triều đình, được phong lên chức Thứ sử Dương châu, Lục Thượng thư sự, Giả tiết, Đô đốc trung ngoại chư quân sự. Các văn thần võ tướng dưới quyền Tạ An đều chuyển sang phục vụ Tư Mã Đạo Tử. Sang năm 387, ông lại được phong thêm chức Thứ sử Từ châu và làm Thái phó cho thái tử.

Mâu thuẫn với vua anhSửa đổi

Tư Mã Đạo Tử rất ham mê tửu sắc, y hệt vua anh của mình. Nhiều đều ông cùng Tấn Hiếu Vũ Đế thườnh uống rượu xem hát với nhau. Đến cuối thời Hiếu Vũ Đế, quyền lực của Tư Mã Đạo Tử đã lớn mạnh, lấn át đến vua. Ông thân cận tăng ni và tin dùng tiểu nhân quá mức. Nhiều tên sủng thần của Tư Mã Đạo Tử nhân chủ nhân có quyền lực, bèn giở trò mua quan bán tước, làm chính trị, hình luật hỗn loạn, cộng thêm việc ông quá tôn sùng Phật giáo, bắt người dân nộp nhiều tiền của xây đền chùa, làm nhiều người căm phẫn. Trung thư lang Phạm Ninh cũng bất bình, bèn báo chuyện này lại với Tấn Hiếu Vũ Đế, khiến hoàng đế bất mãn với Tư Mã Đạo Tử, tuy nhiên chưa biểu lộ ra ngoài. Về sau, Vương Quốc Bảo ghét Phạm Ninh, bèn bảo Tư Mã Đạo Tử tìm cớ vu khống và khuyên hoàng đế biếm truất Ninh. Phạm Ninh cuối cùng bị đầy làm Thái thủ Dự Chương. Tiếp theo, lại có người do hối lộ cho tả hữu của Tư Mã Đạo Tử là Triệu Nha và Nhữ Thiên Thu để dễ dàng ăn bớt vật tư hay mua quan bán tước.

Tư Mã Đạo Tử được mẹ là Lý Lăng Dung che chở, thường mỗi khi uống rượu lại nói lời vô lễ với Hiếu Vũ Đế. Hiếu Vũ Đế cũng biết Tư Mã Đạo Tử không phải năng thần trị quốc. Sau đó lại xảy ra việc Vương Quốc Bảo bất hòa với Vương Nhã, thân cận của Hiếu Vũ Đế. Hiếu Vũ Đế bèn tìm cách hạn chế quyền lực của Đạo Tử, dùng ngoại thích Vương Cung làm thứ sử hai châu Thanh, Duyện; Ân Trọng Kham làm đô đốc quân sự ba châu Kinh, Ninh, Ích; Thứ sử Kinh châu[7], Sĩ Khôi làm thứ sử Ung châu, tạo thế lực ở bên ngoài nhằm trấn áp Tư Mã Đạo Tử. Đồng thời, hoàng đế càng tín nhiệm Vương Nhã[8][9]. Tư Mã Đạo Tử cũng không chịu thua kém, liền thăng Vương Quốc Bảo làm Trung thư lệnh, Trung lĩnh quân, và thu dụ em họ là Vương Tự. Mẫu thuẫn với Tấn Hiếu Vũ Đế và Tư Mã Đạo Tử bùng nổ và ngày càng quyết liệt.

Năm 392, Tấn Hiếu Vũ Đế lập con nhỏ là Tư Mã Đức Văn làm Lang Nha vương, dời Tư Mã Đạo Tử làm Cối Kê vương, thực chất là nhằm tước bớt phong địa của ông[10] Tuy nhiên về sau do sự can thiệp của Lý Thái hậu nên Hiếu Vũ Đế không loại bỏ Tư Mã Đạo Tử.

Dẹp loạn Vương CungSửa đổi

Năm 396, Tấn Hiếu Vũ Đế bị Trương Quý nhân giết chết[11]. Thái tử Tư Mã Đức Tông lên kế vị, xưng là Tấn An Đế. An Đế nhỏ tuổi lại bị dị tật, không thể nói được nên Tư Mã Đạo Tử nắm quyền mọi quyền lực trong ngoài, được thăng lên chức Thái phó, Dương châu mục[12]. Ông lại cho trục xuất Vương Nhã khỏi triều đường[13] và dùng Vương Quốc Bảo và Vương Tự, quản lý triều chính[14].

Thấy Vương Quốc Bảo bất tài được trong dụng, thứ sử hai Thanh, Duyện là Vương Cung không bằng lòng, thường dâng lời khuyên gián, làm Tư Mã Đạo Tử ghét[15]. Sang năm 397, Vương Cung liên kết cùng Ân Trọng Kham thảo phạt Vương Quốc Bảo. Tư Mã Đạo Tử lo sợ, bèn quyết tâm hi sinh Quốc Bảo, sai Tư Mã Thượng Chi tịch thu ấn quan của Quốc Bảo, rồi ép Quốc Bảo tự tử và giết chết Vương Tự. Vương Cung mới rút về Kinh Khẩu.

Tư Mã Đạo Tử bất bình với hành động của Vương Cung, bèn nghe theo lời của Tư Mã Thượng Chi, quyết định tăng cường quyền lực của Thừa tướng (tức chính Đạo Tử) và phái Tư mã Vương Du của mình làm Giang Châu thứ sử, cắt 4 quận thuộc Dự Châu của Dữu Giai giao cho Du[16]. Dữu Gia tức giận, sai con trai là Hồng đưa thư khuyên Cung cất quân tiêu diệt Tư Mã Thượng Chi.

Năm 398, Vương Cung liên kết với Dữu Giai, Hoàn HuyềnÂn Trọng Kham tiến quân về Kiến Khang nhằm tiêu diệt Vương Du và Tư Mã Thượng Chi. Tư Mã Đạo Tử phong cho con là Tư Mã Nguyên Hiển làm Chinh thảo đô đốc, cùng Tạ Diễm đưa quân chống trả, đồng thời sai Tư Mã Thượng Chi thảo phạt Dữu Giai. Giai bỏ trốn theo Hoàn Huyền.

Trong lúc đó, Tư Mã Nguyên Hiển dùng kế thuyết phục tướng dưới quyền của Vương Cung là Lưu Lao Chi, cuối cùng ông ta chấp nhận đầu hàng và đưa quân bắt được Vương Cung. Tư Mã Đạo Tử nghe được, muốn gặp mặt để chế giễu, nghe tin bọn Hoàn Huyền đã đến Thạch Đầu, vội xử chém ông ở Nghê Đường, Kiến Khang.

Tuy Vương Cung bị diệt nhưng thế lực của Hoàn Huyền, Ân Trọng Kham vẫn còn. Tả vệ tướng quân Hoàn Tu hiến kế nên gây hiền khích giữa Ân Trọng Kham với Hoàn Huyền và Dương Thuyên Kì. Đạo Tử nghe theo, bèn phong Hoàn Huyền là Thứ sử Giang châu, Ung châu, biếm Ân Trọng Kham làm Thứ sử Quảng châu. Về sau, Ân Trọng Kham rút quân, mối đe dọa đối với triều đình được hóa giải[17].

Mất quyền lựcSửa đổi

Từ sau khi dẹp được Vương Cung, Tư Mã Đạo Tử ngày càng tin tưởng Tư Mã Nguyên Hiển, giao quân quyền cho Nguyên Hiển còn mình thì suôt ngày say sưa. Năm 398, do nghi có mưu đồ phản nghịch, Tư Mã Đạo Tử lệnh cho Tư Mã Nguyên Hiển bắt giữ và hành quyết Tôn Thái. Cháu trai của Tôn Thái, Tôn Ân chạy trốn đến đảo Chu San và lập kế hoạch phục thù[18].

Tư Mã Nguyên Hiển thấy cha mình không lo việc triều chính bèn nảy sinh ý định đoạt lấy quyền lực. Năm 399, nhân Tư Mã Đạo Tử bị bệnh và tiếp tục say xỉn suốt ngày, Tư Mã Nguyên Hiển bèn tự phong cho mình chức Dương Châu thứ sử và lợi dụng hoàng đế để đoạt lấy quyền chấp chính. Tư Mã Đạo Tử khi biết được việc này, rất tức giận, song không thể phản kháng. Đường thời, tuy vẫn là người nhiếp chính trên danh nghĩa, nhưng Tư Mã Đạo Tử thường uống rượu suốt ngày, còn hoàng đế thì bị dị tật không thể nói được nên mọi việc trong triều đều do Tư Mã Nguyên Hiển quyết đoán. Nguyên Hiển được tôn xưng là Tây lục, trong khi Tư Mã Đạo Tử được gọi là Đông lục. Từ thời điểm đó, Tư Mã Nguyên Hiển đoạt được quyền điều hành triều chính.

Đương thời Lại bộ thượng thư Xa Dận bất mãn việc Tư Mã Nguyên Hiển kiêu ngạo làm bại hoại triều đình, bèn đến gặp Tư Mã Đạo Tử, khuyên Tư Mã Đạo Tử nên tìm cách lấy lại quyền lực. Tư Mã Nguyên Hiển biết chuyện, đến hỏi Tư Mã Đạo Tử, rồi lấy việc Xa Dận li gián mình với cha, bức Xa Dận tự sát.

Qua đờiSửa đổi

Từ sau khi mất quyền lực, Tư Mã Đạo Tử lại tiếp tục lún sâu vào con đường nghiệp ngập và không còn thiết gì đến việc triều chính. Trong khi đó, Tư Mã Nguyên Hiển bắt đầu thực hiện kế hoạch diệt trừ các thế lực địa phương, trong đó có Hoàn Huyền ở Kinh Khẩu. Năm 401, Tư Mã Nguyên Hiển cùng Lưu Lao Chi dẫn quân tiến đánh Hoàn Huyền, không may thất bại. Hoàn Huyền nhân đó tiến quân vào thành Kiến Khang. Lưu Lao Chi bỏ sang đầu hàng Hoàn Huyền[19]. Trước tình thế sắp thua cuộc, Tư Mã Nguyên Hiển đến cầu cứu Tư Mã Đạo Tử nhưng ông cũng không còn kế sách gì, chỉ biết khóc mà thôi.

Hoàn Huyền nhanh chóng chiếm được thành Kiến Khang vào năm 402. Ông ta sát hại Tư Mã Nguyên Hiển cùng các đại thần là Đông Hải vương Tư Mã Ngạn Chương (con của Nguyên Hiển), Quan Quân tướng quân Mao Thái và Du kích tướng quân Mao Thúy[20], còn Tư Mã Đạo Tử bị đày sang An Thành. Từ đó triều đình nhà Tấn rơi vào tay Hoàn Huyền.

Đến ngày Canh Thân tháng 12 cùng năm (tức 3 tháng 2 năm 403), Tư Mã Đạo Tử bị thủ hạ cũ là Ngự sử Đỗ Trúc Lâm dùng thuốc độc giết chết theo lệnh của Hoàn Huyền. Năm đó ông được 39 tuổi. Tấn An Đế nghe tin thúc phụ qua đời, thân hành đến Tây Đường khóc tang ba ngày[21][22].

Hậu sựSửa đổi

Hoàn Huyền về sau cướp ngôi nhà Tấn, lập ra nhà Sở rồi bị đánh bại và bị giết chết[23]. Triều đình nhà Tấn khi ấy quyết định phục hồi danh dự cho Tư Mã Đạo Tử, truy tôn là Thái phó, Thừa tướng; còn Tư Mã Nguyên Hiển được truy phong làm Thái úy. Đến năm 405, triều đình lại xuống chiếu truy tôn thụy hiệu cho ông là Cối Kê Văn Hiếu vương, và cho hợp táng cùng với Cối Kê vương phi; Tư Mã Nguyên Hiển cũng được truy tặng thụy là Cối Kê Trung thế tử; đồng thời cử người trong tôn thất là Tư Mã Tu Chi đến kế thừa tước vị Cối Kê vương[24].

Về sau có người tự xưng là con trai thứ của Tư Mã Nguyên Hiển tên là Tú Hi. Cối Kê Thái phi thấy thế bèn xin rước Tú Hi về để lập làm Cối Kê vương và cho chuyển Tu Chi đi nơi khác. Tuy nhiên Lưu Dụ (người kiểm soát triều chính) phát hiện ra chỉ là người nô bộc giả danh bèn giết chết. Tư Mã Tú Chi về sau mất, thụy là Cối Kê Điệu vương, không có con nối dòng, nước bị trừ.

Gia quyếnSửa đổi

  • Cha: Tấn Giản Văn Đế Tư Mã Dục
  • Mẹ: Thái phi Lý Lăng Dung
  • Anh chị
  • Con cái
    • Tư Mã Nguyên Hiển, tức Cối Kê Trung thế tử, người được Tư Mã Đạo Tử lập làm thế tử kế vị, làm quan đến chức Phiêu kị tướng quân, sau bị sát hại
  • Cháu
    • Tư Mã Ngạn Chương, con Tư Mã Nguyên Hiển được phong tước vị Đông Hải vương, sau bị giết cùng với Tư Mã Nguyên Hiển
    • Tư Mã Tú Hi, tự xưng là con của Tư Mã Nguyên Hiển, bị Lưu Dụ giết chết
    • Tư Mã Thiên Trợ, tự xưng là con của Tư Mã Nguyên Hiển, sau này trốn sang nhà Bắc Ngụy, được Bắc Ngụy phong làm Đông Hải công, Thị trung, Thứ sử các châu Thanh, Duyện, Chinh Đông tướng quân
      • Tư Mã Nguyên Bá, chắt, con Tư Mã Thiên Trợ, được Bắc Ngụy phong làm Kiến Uy tướng quân, Thái thú Thái Sơn

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Tấn thư, quyển 9: Hàm An nhị niên thu thất nguyệt kỉ vị, lập Cối Kê vương Xương Minh vi Hoàng thái tử, hoàng tử Đạo Tử vi Lang Nha vương, lĩnh Cối Kê nội sử
  2. ^ Tấn thư, quyển 9: Thái Nguyên ngũ niên lục nguyệt đinh mão, dĩ Phiêu kị tướng quân, Lang Nha vương Đạo Tử vi Tư đồ
  3. ^ Tấn thư, quyển 64: Gia khai phủ, lĩnh Tư đồ
  4. ^ Tấn thư, quyển 9: Thái Nguyên bát niên cửu nguyệt, chiếu Tư đồ, Lang Nha vương Đạo Tử lục thượng thư lục điều sự
  5. ^ Tấn thư, quyển 64: tả Lục thượng thư lục điều sự tiên ư lĩnh Tư đồ
  6. ^ Tấn thư, quyển 79: thì Cối Kê vương Đạo Tử chuyên quyền, nhi gian siểm pha tương phiến cấu, An xuất trấn Quảng Lăng chi bộ khâu, trúc lũy viết tân thành dĩ tị chi
  7. ^ Tấn thư, quyển 84: Đế dĩ Cối Kê vương phi xã tắc chi thần, trạc sở thân hạnh dĩ vi phiên hãn, cập thụ Trọng Kham Đô đốc Kinh, Ích ninh tam châu quân sự, Chấn Uy tướng quân, Kinh châu thứ sử, Giả tiết, trấn Giang Lăng
  8. ^ Tấn thư, quyển 83: Cập Vương Quốc Bảo tự mị ư Cối Kê vương Đạo Tử, nhi dữ Nhã đẳng bất hiệp, đế lự yến giá hậu oán khích tất sanh, cố xuất cung, khôi vi phương bá, nhi ủy Nhã đoan hữu
  9. ^ Tư trị thông giám, quyển 119: sơ Hiếu Vũ đế ủy nhậm Vương Nhã
  10. ^ Trước đó Tư Mã Đạo Tử làm vua ở đất Lang Nha và giữ chức Cối Kê nội sử, trông coi cả hai vùng.
  11. ^ Tư trị thông giám, quyển 108: Đế thị tửu, lưu liên nội điện, tỉnh trị ký thiểu, ngoại nhân hãn đắc tiến kiến. Trương quý nhân sủng quan hậu cung, hậu cung giai úy chi. Canh Thân đế dữ hậu cung yến, kĩ nhạc tận thị, thì quý nhân niên cận tam thập, đế hí chi viết: Nhhữ  dĩ niên diệc đương phế hĩ, ngô ý canh chúc thiểu giả. Quý nhân tiềm nộ, hướng tịch đế túy, tẩm ư thanh thử điện, quý nhân biến ẩm hoạn giả tửu, tán khiển chi, sử tì dĩ bị mông đế diện, thí chi, trọng lộ tả hữu, vân nhân yểm bạo băng
  12. ^ Tư trị thông giám, quyển 108: Quý Hợi, hữu ti tâu:Cối Kê vương Đạo Tử nghi tiến vị Thái phó, Dương châu mục
  13. ^ Tấn thư, quyển 83: nhi đế băng, thương tốt bất hoạch cố mệnh. Nhã tố bị ưu ngộ, nhất đán thất quyền, hựu dĩ triều đình phương loạn, nội ngoại huề li, đãn thận mặc nhi dĩ, vô sở biện chánh
  14. ^ Tấn thư, quyển 84: Cập đế băng, Cối Kê vương Đạo Tử chấp chánh, sủng nật Vương Quốc Bảo ủy dĩ ki quyền. Cung mỗi chánh sắc trực ngôn, đạo tử thâm đạn nhi phẫn chi
  15. ^ Tư trị thông giám, quyển 108: Vương Cung nhập phó sơn lăng, mỗi chánh sắc trực ngôn, Đạo Tử thâm đạn chi
  16. ^ Tư trị thông giám, quyển 109: Cối Kê vương Đạo Tử kị Vương, Ân chi bức, dĩ Tiếu vương Thượng Chi cập đệ Hưu Chi hữu tài lược, dẫn vi phúc tâm. Thượng Chi thuyết Đạo Tử viết:Kim phương trấn cường thịnh, tể tương quyền khinh, nghi mật thụ phúc tâm ư ngoại dĩ tự vệ. Đạo Tử tòng chi, dĩ thậm Tư mã Vương du vi Giang châu thứ sử, đô đốc Giang châu cập Dự châu chi tứ quận quân sự
  17. ^ Tư trị thông giám, quyển 110: Dạo Tử nạp chi, dĩ Huyền vi Giang châu thứ sử, triệu si khôi vi thượng thư, dĩ Thuyên Kì đại Khôi vi đô đốc Lương, Ung, Tần tam châu chư quân sự, Ung châu thứ sử. Dĩ Tu vi Kinh châu thứ sử, quyền lĩnh tả vệ văn vũ chi trấn, hựu lệnh Lưu Lao Chi dĩ thiên nhân tống chi. Truất Trọng Kham vi Quảng châu thứ sử khiển Trọng Kham thúc phụ thái thường mậu tuyên chiếu, sắc Trọng Kham hồi quân
  18. ^ Tấn thư, quyển 100
  19. ^ Tấn thư, quyển 10: Tam nguyệt kỉ tị, Lao Chi bạn hàng vu Hoàn Huyền
  20. ^ Tấn thư, quyển 10: Tân vị, vương sư bại tích vu tân đình, Phiêu kị tướng quân, Cối Kê thế tử Nguyên Hiển, Đông Hải vương Ngạn chương, Quan Quân tướng quân Mao Thái, Du kích tướng quân Mao Thúy tịnh ngộ hại
  21. ^ Tấn thư, quyển 10: Thập nhị nguyệt canh thân, Cối Kê vương Đạo Tử vi Hoàn Huyền sở hại
  22. ^ Tấn thư, quyển 64: chiếu đồ An Thành quận, sử Ngự sử Đỗ Trúc Lâm phòng vệ, cánh thừa Huyền chỉ sát chi, thì niên tam thập cửu. Đế tam nhật khốc ư tây đường
  23. ^ Tấn thư, quyển 99: Ích châu đốc hộ Phùng Thiên trừu đao nhi tiền, Huyền bạt đầu thượng ngọc đạo dữ chi, nhưng viết: Thị hà nhân tà? Cảm sát thiên tử! Thiên viết:Dục sát thiên tử chi tặc nhĩ. Toại trảm chi, thì niên tam thập lục
  24. ^ Tấn thư, quyển 64: Nghĩa Hi nguyên niên, hợp táng vu vương phi lăng. Truy thụy Nguyên Hiển viết Trung. Dĩ Lâm Xuyên vương Bảo tử Tu Chi vi Đạo Tử tự, tôn phi vương thị vi thái phi