Mở trình đơn chính

Từ Hoa (?-?) là công chúa thời nhà Lý, con gái vua Lý Thần Tông. Công chúa nổi danh là bà chúa nghề Tằm Tang.[1]

Tiểu sửSửa đổi

Từ Hoa công chúa không rõ năm sinh, năm mất. Bà là con vua Lý Thần Tông, sử sách không ghi rõ tên mẹ bà. Chính sử không ghi nhận vị công chúa nào của vua Lý Thần Tông là Từ Hoa. Nhiều giả thuyết của các nhà sử học đưa ra, có thể đây là một vị công chúa dân gian có công dạy nhân dân nghề trồng dệt tơ, nuôi tằm nên được Vua ban thưởng. Cũng có thể mẹ Từ Hoa công chúa là nguyên phi phạm lỗi, bị đưa ra sống ngoài hoàng thành. Sử sách cũng có thể ghi sai tên vị công chúa này.

Tương truyền rằng công chúa Từ Hoa rất dịu dàng, hiền hậu. Công chúa đặc biệt yêu thích và giỏi nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt tơ. Bà đem nghề truyền dạy và khuyến khích dân trong vùng phát triển nghề, tạo nên một vùng đất nổi tiếng của kinh thành Thăng Long về nghề tơ tằm.

Sử sách truyền rằng, năm 1040, vua Lý Thái Tông sai đón thợ vào hoàng thành dạy cung nữ nghề dệt, dệt gấm vóc để trong cung tự dùng và xuống chiếu phát hết gấm vóc mua của Nhà Tống trong kho cho quần thần, tỏ ý dùng hàng nội, không dùng hàng Nhà Tống nữa, mục đích đề cao tính tự chủ của Đại Việt bấy giờ. Có lẽ bắt đầu từ Lý Thái Tông, nghề dệt được phát triển và đưa vào triều đình.

Từ Hoa công chúa từ nhỏ hay lui tới trong các nhà tằm của cung nữ. Chán cảnh sống tù túng trong cung, Từ Hoa xin vua cha cho ra ngoài thành ở, lập trại Tằm Tang cùng các cung nữ và nhân dân địa phương trồng dâu, nuôi tằm.

Dưới thời nhà Lý, các hoàng tử đều được lập phủ ngoài thành để được sống gần dân, hiểu dân, nhưng việc một công chúa được ra ngoài lập phủ là lần đầu tiên được ghi lại

Năm 1138, Vua Thần Tông cho lập cung Từ Hoa ven hồ Dâm Đàm (Hồ Tây, Hà Nội ngày nay) để công chúa ở, dần dần vùng đất này được gọi là Nghi Tàm.[2][3] Thời nhà Lý, Đất Nghi Tàm là nơi cung Từ Hoa của Công chúa con vua Trần Tông (1128 – 1138). Công chúa đã cùng cung nữ chọn đất Nghi Tàm làm nơi mở trại, dạy nhân dân trong vùng trồng dâu, nuôi tằm.[4]

Theo sách “Hà Nội nghìn xưa” của hai tác giả Trần Quốc Vượng và Vũ Tuấn Sán: Trong địa phận làng này “ngàn dâu xanh ngắt một màu” chạy suốt bờ đê. Có lẽ vì thế mà vùng đất này có tên gọi là Nghi Tàm. Chữ Nghi nghĩa là sự thích hợp và chữ Tàm nghĩa là “Tằm”. Ý muốn nói đến vùng đất có sự thích nghi với sinh trưởng của con tằm, luôn sinh xôi và cần mẫn nhả tơ. Cái tên Làng Nghi Tàm hình thành cũng là từ nghĩa ấy.

Sau khi Từ Hoa công chúa qua đời, được người dân trong vùng lập đền thơ, tôn là bà chúa nghề Tằm Tang

Thờ tựSửa đổi

Tại vị trí cung điện được vua Thần Tông dựng lên cho Từ Hoa Công chúa, sau khi Từ Hoa qua đời, trên nền cung điện được xây dựng một ngôi chùa, hiện là một danh lam nổi tiếng gần hồ Tây. Thời Nhà Trần, trại Tằm Tang được đổi thành Phường Tích Liên, chùa được vua Trần Nhân Tông trùng tu đổi tên thành Đại Bi. Năm 1771, đời Lê Cảnh Hưng, chúa Trịnh Sâm cho tu bổ chùa và đã đổi tên chùa thành chùa Kim Liên. Chùa có tên chữ là ”Hoàng Ân tự”. Chùa Kim Liên vừa thờ Phật, vừa thờ công chúa Từ Hoa con vua Lý Thần Tông. Chùa được làm trên nền cũ của cung Từ Hoa.[5]

Vua Quang Trung năm 1792 đã cho trùng tu, xây dựng chùa lớn hơn, diện mạo cơ bản giống như hiện nay. Cổng chùa, bố cục, cấu trúc chùa... có kiến trúc theo lối kiến trúc chùa ở Đàng Trong khác hẳn với kiến trúc chùa tại Thăng Long.

Trước đây, chùa ở thôn Nghi Tàm, nay thuộc phường Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Nội và đã được công nhận là Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Quốc gia năm 1962.

Tham khảoSửa đổi