Có thể nêu ra rất nhiều biểu hiện của lòng tự trọng: Không tham tiền bạc, của cải bất chính; nhặt được của rơi, trả lại người mất; lỡ va quệt xe cộ vào người đi đường cần đỡ họ dậy, hỏi han và xin lỗi, hoặc đưa vào bệnh viện; đi xe không lạng lách, đánh võng, vượt ẩu, thực hiện tốt văn hóa giao thông; ăn nói và trang phục lịch sự, khiêm nhường; cử chỉ đứng đắn, hiền hòa; sống gần đám lưu manh, trộm cướp, côn đồ, nghiện hút, mà không nhiễm thói xấu; ở nơi xóm phố hoặc đến nơi công cộng thì tỏ ra ý tứ, biết giữ gìn cảnh quan, môi trường và bảo vệ của công... Và như vậy, người có lòng tự trọng phải biết xấu hổ khi lỡ xảy ra điều gì sai trái và có ý thức sửa chữa đến cùng.

Lòng tự trọng khác với tính tự ái. Nhiều người, nhất là những người trẻ tuổi thường hay nhầm lẫn hai khái niệm này. Lòng tự trọng có cơ sở từ tư tưởng nhân nghĩa, coi trọng phẩm cách và giá trị con người của mìnhnhư ng mục đích là vì người khác, tôn trọng người khác, nhằm làm đẹp cho xã hội, làm tốt cho cộng đồng. Nói cách khác, lòng tự trọng có bản chất văn hóa và tinh thần nhân văn. Trái lại, tính tự ái là chỉ biết yêu chính bản thân mình, coi mình là trên hết, chỉ cốt được lợi cho riêng mình, bất chấp danh dự và quyền lợi chính đáng của người khác. Vì thế, lòng tự trọng thường được biểu hiện bằng những lời nói, cử chỉ, hành vi lịch thiệp, nhã nhặn, từ tốn, biết tự kiềm chế. Còn tính tự ái là "mảnh đất" tốt sinh ra những thói xấu, hẹp hòi, ích kỷ.

Người có lòng tự trọng bởi tiếp thụ được sự giáo dục đúng đắn, chu đáo, tốt đẹp trước hết từ ngay trong gia đình mình. Cùng đó là nhà trường và xã hội. Ba môi trường giáo dục này có trong sáng, lành mạnh và có phương pháp tốt thì mỗi người mới có lòng tự trọng, mới có những phẩm cách tốt đẹp. Tuy nhiên, bản thân mỗi người cũng phải biết tự giáo dục, tự điều chỉnh hành vi của mình theo truyền thống đạo lý dân tộc và lối sống có văn hóa, mới có thể trở thành con người lương thiện, tử tế.

Nhìn thẳng vào sự thật và dám nói lên sự thật, thì phải chăng người Việt mình hiện nay, trong mặt trái của công cuộc "mở cửa" và ở thời kỳ sơ khai của nền kinh tế thị trường, đã xuất hiện rất nhiều người thiếu lòng tự trọng, thậm chí là không có lòng tự trọng?

Gần đây, trên một số tờ báo đã có các bài viết chuyên đề nói về truyền thống văn hóa, đạo đức, đồng thời phê phán những thói hư tật xấu của người Việt, với những bài viết chân thành, thẳng thắn. Một xã hội mà cái ác, cái xấu ngang nhiên tồn tại và lấn lướt cái tốt, cái đẹp - là một xã hội rất đáng lo ngại. Trái lại, càng có nhiều người có lòng tự trọng thì xã hội càng tốt đẹp, đất nước mới phát triển ổn định và bền vững; danh dự dân tộc mới được bè bạn quốc tế kính trọng, tin yêu![1] Smith và Mackie (2007) đã định nghĩa nó bằng cách nói " Khái niệm về bản thân là những gì chúng ta nghĩ về bản thân; lòng tự trọng, là những đánh giá tích cực hoặc tiêu cực về bản thân, như cách chúng ta cảm nhận về nó." [2]

Tự trọng là một cấu trúc tâm lý hấp dẫn vì nó dự đoán những kết quả nhất định, chẳng hạn như thành tích học tập,[3][4] hạnh phúc,[5] sự hài lòng trong hôn nhân và các mối quan hệ,[6] và hành vi phạm tội.[6] Lòng tự trọng có thể áp dụng cho một thuộc tính cụ thể (ví dụ: "Tôi tin rằng tôi là một nhà văn giỏi và tôi cảm thấy hài lòng về điều đó") hoặc trên quy mô tổng quát (ví dụ: "Tôi tin rằng tôi là một người xấu và tôi cảm thấy tồi tệ về bản thân mình nói chung"). Các nhà tâm lý học thường coi lòng tự trọng là một đặc điểm tính cách lâu dài (tự trọng đặc điểm), mặc dù các biến thể bình thường, ngắn hạn (tự trọng trạng thái) cũng tồn tại. Từ đồng nghĩa hoặc gần đồng nghĩa với tự trọng bao gồm nhiều điều: giá trị bản thân (self-worth),[7] tự đánh giá mình (self-regard),[8] tự tôn trọng chính mình (self-respect),[9][10] và tính toàn vẹn của bản thân (self-integrity).

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Hewitt, John P. (2009). Oxford Handbook of Positive Psychology. Oxford University Press. tr. 217–224. ISBN 978-0-19-518724-3.
  2. ^ Smith, E. R.; Mackie, D. M. (2007). Social Psychology . Hove: Psychology Press. ISBN 978-1-84169-408-5.
  3. ^ Marsh, H.W. (1990). “Causal ordering of academic self-concept and academic achievement: A multiwave, longitudinal path analysis”. Journal of Educational Psychology. 82 (4): 646–656. doi:10.1037/0022-0663.82.4.646.
  4. ^ (Luận văn) (bằng tiếng Tây Ban Nha). |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  5. ^ Baumeister, R. F.; Campbell, J. D.; Krueger, J. I.; Vohs, K. D. (2003). “Does High Self-Esteem Cause Better Performance, Interpersonal Success, Happiness, or Healthier Lifestyles?”. Psychological Science in the Public Interest. 4 (1): 1–44. doi:10.1111/1529-1006.01431. ISSN 1529-1006. PMID 26151640.
  6. ^ a ă Orth U.; Robbins R.W. (2014). “The development of self-esteem”. Current Directions in Psychological Science. 23 (5): 381–387. doi:10.1177/0963721414547414.
  7. ^ “Great Books Online -- Quotes, Poems, Novels, Classics and hundreds more”. Bartleby.com. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2017.
  8. ^ “Bartleby.com: Great Books Online -- Quotes, Poems, Novels, Classics and hundreds more”. Bartleby.com. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2017.
  9. ^ “Great Books Online -- Quotes, Poems, Novels, Classics and hundreds more”. Bartleby.com. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2017.
  10. ^ The Macquarie Dictionary. Compare The Dictionary of Psychology by Raymond Joseph Corsini. Psychology Press, 1999. ISBN 1-58391-028-X. Online via Google Book Search.