Tam Hiệp, Phúc Thọ

xã thuộc huyện Phúc Thọ, Hà Nội

Tam Hiệp là xã thuộc huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội, Việt Nam. Nằm cách trung tâm Thủ đô khoảng 28 km về phía tây, xã có vị trí địa lý thuận tiện bên quốc lộ 32sông Đáy; từng trực thuộc hay tiếp giáp các huyện Đan Phượng, Hoài Đức, Quốc OaiThạch Thất. Từ thuở đầu công nguyên, nơi đây đã là một làng cổ có đông dân cư và cho đến nay vẫn còn nhiều dấu ấn lịch sử, văn hóa gắn với cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng năm xưa. Dưới tên gọi cũ là Binh Hợp và Thượng Hiệp, vùng đất này đã từng được sử sách nhắc tới trong những trận giao tranh quyền lực giữa các triều đại Trần hay Mạc. Trong kháng chiến trường kỳ, nơi đây cũng là một xã Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Còn trong thời bình, Tam Hiệp đã vươn lên phát triển kinh tế với làng nghề may truyền thống được thành phố công nhận.

Tam Hiệp
Xã Tam Hiệp

Tên khácKẻ Hiệp
Tên cũHương Binh Hợp
Tổng Thượng Hiệp
Hành chính
Quốc gia Việt Nam
VùngĐồng bằng sông Hồng
Thành phốHà Nội
HuyệnPhúc Thọ
Địa lý
Tọa độ: 21°04′42″B 105°37′11″Đ / 21,0782°B 105,61984°Đ / 21.07820; 105.61984
Tam Hiệp trên bản đồ Hà Nội
Tam Hiệp
Tam Hiệp
Vị trí xã Tam Hiệp trên bản đồ Hà Nội
Tam Hiệp trên bản đồ Việt Nam
Tam Hiệp
Tam Hiệp
Vị trí xã Tam Hiệp trên bản đồ Việt Nam

Khởi đầu từ những năm bao cấp khó khăn, người dân làng Thượng Hiệp đã âm thầm khâu vá từng cái yếm dãi hay dải rút đem đi bán. Bước sang thời kỳ Đổi Mới, nghề may nhanh chóng được mở rộng với nhiều mặt hàng quần áothú nhồi bông; đưa nơi đây trở thành một trong những làng nghề trẻ nhất của tỉnh Hà Tây cũ và phát triển hàng đầu trong huyện Phúc Thọ. Trên đà tăng trưởng kinh tế, địa bàn xã đã được triển khai cùng lúc hai dự án cụm công nghiệp rộng hàng chục héc ta. Song song với nghề mới đó thì những giá trị xưa cũ ở đây vẫn được bảo tồn, như nghề làm cà dầm tương ở làng Hòa Thôn và nghề làm bánh đúc ở làng Đại Điền. Toàn xã cũng có 06 di tích lịch sử được xếp hạng cấp quốc gia, 03 di tích cấp tỉnh và nằm trong nhóm 17 làng nghề kết hợp du lịch tiềm năng của thành phố.

Địa lý

sửa
 

Xã Tam Hiệp có vị trí ở vào khoảng Km28, quốc lộ 32 trên đường từ Hà Nội đi Sơn Tây với diện tích tự nhiên 564,93 ha.[1][2] Địa giới của xã bao gồm 02 phần tách rời và tiếp giáp với 07 xã lân cận là: Ngọc Tảo, Tam Thuấn, Hiệp Thuận (huyện Phúc Thọ), Phương Đình, Đồng Tháp (huyện Đan Phượng), Canh NậuHương Ngải (huyện Thạch Thất).[3]

Cũng giống như huyện Phúc Thọ, xã Tam Hiệp có mùa hè nắng nóng, mưa nhiều; trong khi mùa đông lạnh và hanh khô. Nhiệt độ trung bình năm là 23 độ C, độ ẩm tương đối đạt 88% và có khoảng 1.000–1.200 giờ nắng mỗi năm.[4] Nền địa chất của xã tương tự như phần lớn diện tích thành phố, có các đặc trưng về đất như: bột sét màu xám hay nâu gụ, bột cát màu nâu đỏ và than bùn màu đen. Điểm đáng lưu ý ở đây là hàm lượng đồngnickel cao ở mức ô nhiễm; có thể do tích tụ tự nhiên, vị trí gần mỏ sulfua hay hoạt động kỹ thuật.[5] Nguồn nước phục vụ hơn 350 ha đất nông nghiệp của xã rất dồi dào nhờ sông Đáy ở phía đông và kênh Cẩm Đình − Hiệp Thuận ở phía bắc, đưa nước sông Hồng vào.[3][6] Ngoài ra, một đoạn sông đào dẫn thủy nhập điền từ thời Pháp thuộc cũng chảy qua phía tây nam xã, được gọi là kênh Tây Ninh.[7][8] Các làng trong xã hiện còn nhiều ao, giếng, tạo cảnh quan hài hòa trước cửa đình nhưng không còn được sử dụng cho mục đích sinh hoạt. Theo thống kê từ những năm 2000, phần lớn dân cư trong xã đều sử dụng nước mưa (96%) song song cùng nước giếng khoan (78%) với chất lượng chưa đạt chuẩn, một số nhiễm arsenmangan dù đã có bể lọc. Riêng khu vực Điền Hòa Cát phải mua thêm nước từ doanh nghiệp do không khoan được.[9][10] Sau hai thập niên, cả xã hầu hết đều chuyển sang mua nước sạch,[a] nhưng việc cạnh tranh giữa hai đơn vị cung cấp lại dẫn đến tình trạng mất nước hoặc nước ô nhiễm.[12] Đến khi chỉ còn một doanh nghiệp đủ điều kiện pháp lý thì người dân vẫn phải chịu cảnh "nước bẩn giá cao". Dù đã thể hiện nhiều sự bức xúc và lo lắng qua phóng sự của VTC14,[13] nhưng kết quả kiểm tra một tháng sau đó (tháng 11 năm 2023) của Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hà Nội vẫn cho thấy 3/3 mẫu nước ở xã không đạt chuẩn về thông số amoni, nitrit và nitrat.[14]

Lịch sử

sửa

Thời sơ sử

sửa
 
Đê Quai Chè và dốc Nhà máy đường (bên phải)

Từ khoảng 500 năm TCN cho đến đầu công nguyên, vùng đất Tam Hiệp đã là một làng tập trung đông dân cư. Họ không chỉ có kỹ thuật đúc đồng mà còn biết nấu sắt để tạo ra lưỡi cuốc cùng nhiều nông cụ khác.[15] Bằng chứng là năm 1969, khi đào giếng trong nhà máy đường Tam Hiệp, các kỹ sư đã tìm thấy 05 rìu đá được mài nhẵn và 01 quan tài bằng gỗ thơm có tiết diện tròn. Năm 1972, khi san lò gạch cũ, người ta cũng nhặt được 01 rìu đồng, 01 giáo đồng và 03 mũi chông sắt. Đến năm 1983, các nhà nghiên cứu đã khai quật thêm nhiều hiện vật tại địa điểm khảo cổ học Quai Chè. Đây là một di chỉ cư trú trên diện tích rộng, tầng văn hóa khá dày và có những món đồ gốm Đường Cồ đặc trưng của thời kỳ Đông Sơn. Tuy nhiên, di chỉ này đến nay đã không còn do việc xây dựng nhà máy và khu dân cư.[16]

Thời phong kiến

sửa

Mùa xuân năm 40, khi Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa, tương truyền Tam Hiệp có ông Đỗ Năng Tế là thầy và tướng của Hai Bà.[17] Còn theo Văn bia chùa Thiệu Long ở hương Binh Hợp nước Đại Việt, khắc năm 1226 tại xã Tam Hiệp, thì Đỗ Năng Tế là nhân vật cuối thời , đầu thời Trần.[18] Theo Đại Việt sử ký toàn thư, năm 1214, vua Lý Huệ Tông đã cùng thái hậu và ngự nữ chạy về Binh Hợp để tránh loạn.[19] Và theo Việt sử lược thì năm 1216, Hiển Tín Vương Nguyễn Bát làm phản, phá ấp Hợp nên tướng Đỗ Tế đã rút sang Đan Phượng.[20] Đỗ Tế ở đây hẳn là Đỗ Năng Tế và ấp Hợp là hương Binh Hợp.[21] Như vậy, ông là vị tướng thân thiết với Kiến Quốc Đại Vương Trần Tự Khánh và có chức quan Tiết cấp Nhập nội Thái tử. Ông được Tự Khánh khen là người "trí dũng trời sinh vì nước" rồi "trao cho trấn lớn Binh Hợp làm đất thang mộc". Sau khi mất, ông được dân tôn làm Thành hoàng và qua thời gian đã được truyền thuyết hóa thành nhân vật thời Trưng Vương.[22]

Nguyên nhân là bởi vùng đất này nằm giữa hai huyện Mê LinhChu Diên thời Hán.[b] Từ đê Quai Chè lên tới đền Hát Môn − nơi bắt đầu cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng − chỉ khoảng 8 km.[24] Vậy nên, trải qua hơn ngàn năm, những dấu ấn sâu đậm còn sót lại đã được liên kết với nhân vật lịch sử này. Hai tác giả Trường Phong và Nguyễn Du trên tạp chí Di Sản Văn Hóa đã coi đây là trường hợp thú vị, cho thấy độ vênh giữa lịch sử và tín nhiệm dân gian.[18] Bên cạnh đó, tên gọi khu vực này cũng đã có nhiều thay đổi, chồng chéo giữa các địa danh cổ thời Bắc thuộc.[c] Từ thời Đinh cũng chỉ ghi chép đơn vị hành chính cao nhất là đạo hay lộ Quốc Oai.[25] Tới thời Trần, tên hương Binh Hợp xuất hiện cùng với địa danh Đan Phượng, vốn thuộc châu Từ Liêm, lộ Đông Đô; cũng gọi là lộ Đại La Thành.[d] Sang đầu thời Hậu Lê thì có ba lộ Quốc Oai Thượng, Trung, Hạ ở đạo Tây, sau gọi là thừa tuyên Quốc Oai. Từ năm 1469 bắt đầu có phủ Quốc Oai thuộc thừa tuyên Sơn Tây; sau đó đổi là xứ Sơn Tây rồi đến trấn Sơn Tây.[27]

Chưa rõ khi nào hương Binh Hợp được chia làm hai tổng Thượng Hiệp và Hạ Hiệp. Nhưng theo Đại Việt sử ký toàn thư thì vào tháng 12 năm 1591, hai tổng này là nơi triều đình nhà Mạc triệu tập binh mã từ 4 trấn, 4 vệ và 5 phủ, tổng cộng tới hơn 10 vạn quân. Trong đó có cả phò mã Mạc Ngọc Liễn thống lĩnh đạo Tây và vua Mạc Mậu Hợp đích thân đốc chiến, nhưng cuối cùng họ Mạc vẫn thua trước chúa Trịnh Tùng ở trận Phấn Thượng.[28] Còn theo thần phả đình Kim Giang, phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội thì một trận chiến khác cũng từng xảy ra tại vùng đất này giữa tướng Mạo Giáp Hoa và quân Chiêm Thành.[29] Trước năm 1832, cả hai tổng đều thuộc huyện Đan Phượng, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây; sau đó mới chuyển về huyện Yên Sơn cùng phủ. Đất Tam Hiệp khi ấy thuộc tổng Thượng Hiệp, dưới cấp tổng có 04 xã: Thượng Hiệp (thôn Thượng, thôn Hòa, thôn Đại Điền), Khánh Hiệp (thôn Mỹ Giang, thôn Miếu), Thuấn Nhuế (thôn Nội, thôn Trung, thôn Ngoại) và Hiệp Lũng.[30] Từ năm 1892, tổng Thượng Hiệp trực tiếp thuộc phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây.[31][32]

Thời hiện đại

sửa

Từ năm 1930, tại làng Mỹ Giang đã có đảng viên Hoàng Văn Năng đứng lên tổ chức phong trào học sinh, góp phần hình thành chi bộ cộng sản đầu tiên của tỉnh Sơn Tây.[33] Tổng Thượng Hiệp sau đó trở thành nơi Xứ ủy Bắc Kỳ thường qua lại và hội họp.[34] Trước cách mạng Tháng Tám, những hoạt động tuyên truyền đã diễn ra ở chợ Hiệp và tuần hành trên đê Quai Chè.[35] Dẫu cho Pháp đã xây dựng một đồn bốt ngay tại làng Mỹ Giang,[36] dân quân du kích xã vẫn bí mật hoạt động với 120 người, trong đó có 15 cảm tử quân. Trải qua 20 trận đánh lớn và hàng trăm trận đánh nhỏ, lực lượng vũ trang xã đã thiết lập những trận địa lôi phá cầu Bin trên sông Đáy, hạ 535 quân Pháp, bắt sống 20 người, gọi hàng 45 người, phá 6 xe quân sự và thu giữ nhiều vũ khí. Tổng kết cuộc kháng chiến, xã Tam Hiệp có 97 quân nhân, 270 dân công hỏa tuyến và chi viện 9 tấn gạo cho bộ đội. Nhiều cá nhân trong xã được tặng thưởng huân huy chương và tập thể xã cũng được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.[37][38]

Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam và sau đó là hai cuộc chiến tranh biên giới, nhiều thế hệ thanh niên Tam Hiệp lại tiếp tục lên đường chiến đấu. Đồng thời, địa bàn xã cũng trở thành nơi sơ tán và đóng quân của một số đơn vị như Thông tấn xã Việt Nam[39]... Trải qua những thăng trầm của lịch sử, toàn xã Tam Hiệp có tổng cộng 22 mẹ Việt Nam anh hùng, 164 liệt sỹ, 72 thương binh và 26 bệnh binh.[40] Tới những năm tháng thời bình cuối thế kỷ XX, một vụ sập nhà nguyện đã bất ngờ xảy ra tại làng Mỹ Giang. Trận mưa bão lớn vào mùa hè năm 1998 đã khiến công trình sụp đổ trong lúc các giáo dân đang hành lễ, khiến 08 người thiệt mạng và nhiều người khác bị thương.[cần dẫn nguồn] Cuối năm 2007, một vụ đột kích xới bạc lớn cũng diễn ra ở xã làm 05 người bị chết đuối và bắt giữ 56 người đến từ nhiều huyện thị khác.[41]

Hành chính

sửa
Lịch sử thay đổi hành chính xã Tam Hiệp[42]
Mốc thời gian Huyện Tỉnh/thành phố
1954 Tam Hiệp Quốc Oai Sơn Tây
21/04/1965 Hà Tây
27/12/1975 Hà Sơn Bình
29/12/1978 Hà Nội
17/02/1979 Phúc Thọ
12/08/1991 Hà Tây
01/08/2008 Hà Nội

Trong chiến tranh Đông Dương, khu vực xã đã có nhiều sự thay đổi hành chính. Từ ngày 14 tháng 03 năm 1949, tổng Thượng Hiệp thuộc về quận Hoài Đức, tỉnh Hà Đông. Tới ngày 18 tháng 07 năm 1950, tổng được chuyển qua quận Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây và từ ngày 27 tháng 09 năm 1950 thì thuộc quận Phúc Thọ cùng tỉnh.[42] Sau năm 1954, xã Tam Hiệp chính thức được thành lập với 05 làng: Thượng Hiệp, Mỹ Giang, Đại Điền, Hòa Thôn và Hiệp Cát; nay chia thành 08 thôn theo số thứ tự để quản lý. Trong đó, 04 thôn đầu tiên là đất làng Thượng Hiệp, các thôn 5 và 6 thường gọi chung là Điền Hòa Cát, còn thôn 7 và 8 vốn là làng Mỹ Giang. Năm 1999, dân số xã Tam Hiệp là 9.154 người và sau 25 năm đã đạt 13.326 nhân khẩu với 3.072 hộ. Cư dân trong xã hầu hết là người Kinh, có đạo Phật và một phần nhỏ theo Thiên Chúa.[43][40][2]

Tên gọi

sửa

Tam Hiệp là tên gọi khi hợp nhất ba xã Thượng Hiệp, Khánh Hiệp và Hiệp Lũng của tổng Thượng Hiệp trước đây.[e] Vùng đất này có tên cổ xưa là Binh Hợp hay Binh Hiệp (兵合[45]: tạm dịch là nơi tụ hợp binh sĩ) ít nhất từ thời vua Lý Huệ Tông đến nay đã hơn 800 năm. Trong khi đó, dân gian thường gọi nơi này là Kẻ Hiệp[46] (協:[f] hòa hợp, giúp đỡ). Tục ngữ cũng có câu "động Mỹ Giang, cả làng vây chặt" cho thấy tinh thần đoàn kết của người dân ở đây, khi có trộm cướp thì tất cả đều cùng vây bắt.[50] Còn sách Đồng Khánh địa dư chí có lời bình rằng "các xã Hiệp Lũng, Khánh Hiệp [...] tập tục chuộng vũ dũng"[30] (tức chuộng võ, ưa sức mạnh, ngược với chuộng văn nhã). Về 05 làng trong xã ngày nay thì Thượng Hiệp (上: làng trên) là cái tên duy nhất không thay đổi. Còn làng Hiệp Cát (吉: tốt đẹp) trước đây có tên là Hiệp Lũng hoặc Đăng Lũng; trong khi Hòa Thôn (和: hòa hợp) có tên cổ là Đáo.[51] Hai làng Mỹ Giang (美江: sông đẹp) và Đại Điền (大田: ruộng to) xưa cũng gọi theo tên Nôm là Sông và Ruộng. Tới năm 1821, các quan ở Bộ Hộ đã dâng biểu kiến nghị vua Minh Mạng sửa cùng với nhiều làng khác vì tên xen lẫn chữ quốc âm hoặc tên không đẹp.[52] Làng Mỹ Giang ngày nay cũng chính là xã Khánh Hiệp xưa, bao gồm cả Miếu Thôn nay là xóm Miếu.[53]

Kinh tế

sửa

Vị trí bên sông Đáyquốc lộ 32 chạy qua đã tạo thuận lợi cho xã phát triển giao thương, với trung tâm là chợ Hiệp họp các phiên 3, 5, 8, 10, 13, 15, 18, 20, 23, 25, 28, 30.[54] Từ đây, các mặt hàng thường được buôn đến chợ Đồng Xuân rồi đi khắp các tỉnh.[46] Tục ngữ có câu "khôn kẻ Ngái không bằng dại kẻ Hiệp"[55] hàm ý nói người dân Tam Hiệp thường khá nhạy bén. Theo Sơn Tây tỉnh địa chí, tại đây từng có nghề quay tơ ở Hiệp Cát, Đại Điền[56] và trồng cà ở Hòa Thôn.[57] Còn cuốn Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ: nghiên cứu địa lý nhân văn của Pierre Gourou cho biết làng Hiệp Cát cùng với làng Phú Nhi là hai làng có nhiều người kéo xe nhất tỉnh Sơn Tây.[58] Trong khi đó, làng Hòa Thôn có thêm nghề hớt và bán cá bột,[59] còn làng Đại Điền được xếp vào nhóm làng đặc biệt quan trọng trong nghề làm bánh.[60] Tới năm 1964, xí nghiệp đường − giấy − rượu của tỉnh cũng được xây dựng tại đây, tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người dân trong xã.[61] Trong giai đoạn 1976−1983, nhân dân Tam Hiệp cũng tích cực lao động sản xuất nông nghiệp và trở thành một trong 35 hợp tác xã của thành phố có năng suất lúa vượt 8 tấn/ha/năm.[62]

Kể từ những năm 2000 tới nay, nền kinh tế Tam Hiệp liên tục tăng trưởng và chuyển dịch tốt. Tổng giá trị sản xuất toàn xã từ mức 32,9 tỷ đồng năm 2001 đã cán mốc 1.017,3 tỷ đồng sau đúng hai thập kỷ. Nếu như vào năm 2001, nông nghiệp chiếm tới 26,2% cơ cấu kinh tế thì đến năm 2005 đã giảm còn 18,6%. Mười năm sau đó, con số này tiếp tục giảm còn 9,4% và đến năm 2021 lại giảm thêm một nửa còn 4,7%. Thu nhập bình quân đầu người trong xã đã tăng khoảng 11 lần trong 18 năm qua, từ mức 6,7 triệu đồng/người/năm (2005) lên 76,8 triệu đồng/người/năm (2023).[63][40][64][65] Theo thống kê năm 2018, toàn xã Tam Hiệp có 50 doanh nghiệp, 650 hộ sản xuất công nghiệp − tiểu thủ công nghiệp và 572 hộ thương mại − dịch vụ.[66] "Ly nông bất ly hương" đã giúp đời sống người dân cải thiện rõ rệt ngay trên chính quê hương mình. Tính đến năm 2021, cả xã chỉ còn 3 hộ nghèo (chiếm 0,08%) trong khi nhiều hộ dân khác đã trở nên giàu có với thu nhập có thể lên tới hàng tỷ đồng mỗi năm.[64][67]

Nghề may

sửa
Mẫu khỉ bông đạt 4 sao OCOP ở xã
Một xưởng cắt nhỏ ở Tam Hiệp

Nghề may ở Tam Hiệp đã manh nha từ những năm bao cấp. Để cải thiện đời sống khó khăn khi ấy, người dân làng Thượng Hiệp đã âm thầm thu mua vải vụn từ các xí nghiệp về rồi chắp vá và khâu tay những mặt hàng như: yếm dãi trẻ con, dây dải rút quần, xu chiêng, mũ biên phòng... xong lén đem đi bán.[68] Kể từ sau Đổi Mới, họ đã chuyển qua làm gia công cho các cơ sở may mặc ở Cổ Nhuế, Từ Liêm rồi dần vươn lên làm chủ. Đến năm 1997, tại xã xuất hiện thêm nhóm sản phẩm thú nhồi bông từ cơ sở Hoa Thái.[69] Bước sang thế kỷ XXI, các mặt hàng ở đây ngày càng đa dạng hơn, đủ cả quần áo trẻ em tới người lớn, đồ bảo hộ hay chăn nệm... Các thành phẩm làm ra không chỉ phục vụ thị trường trong nước mà còn xuất khẩu đi Trung Quốc, Lào, Campuchia; tạo việc làm cho hàng nghìn nhân công trong xã và các huyện lân cận.[70][71]

Nơi đây được xem là một trong những làng nghề trẻ nhất của tỉnh Hà Tây cũ[72] và được thành phố Hà Nội xếp vào nhóm 17 làng nghề kết hợp du lịch tiềm năng.[73] Ngày nay, các xưởng may đã được nhân rộng ở tất cả 5/5 làng trong xã, đi cùng với đó là đủ loại dịch vụ: in ấn, thêu thùa, giặt là, vận tải, bán buôn bán lẻ, bán online... Năm 2014, nghề may ở Tam Hiệp đạt doanh thu gần 300 tỷ đồng, đóng góp vào 90% cơ cấu thu ngân sách của xã. Đến năm 2021, các hộ làm nghề đã mang về khoảng 800−900 tỷ đồng.[71][74] Nhờ đó, Tam Hiệp đã trở thành tấm gương điển hình và là một trong những xã phát triển bậc nhất của huyện Phúc Thọ.[75] Nhiều cá nhân từ các làng xã lân cận đã tới đây học nghề. Tiêu biểu trong số đó là làng Táo ở xã Tam Thuấn giáp ranh cũng đã được công nhận danh hiệu Làng nghề Hà Nội vào năm 2024.[76]

Tuy nhiên, làng nghề phát triển cũng đi kèm với lượng rác thải lên tới 10 tấn mỗi ngày vào năm 2016, trong đó chủ yếu là vải vụn.[77] Năm 2018, dù đã ký hợp đồng thu gom nhưng xã vẫn bị quá tải. Rác chất đống tại các bãi tập kết, tràn ra đường và vương vãi khắp ruộng khiến người dân ở đây phải châm lửa đốt bớt, gây ô nhiễm lớn.[78] Theo công bố của Ủy ban nhân dân thành phố năm 2023, làng nghề may Thượng Hiệp đang hoạt động mạnh và có hệ thống thu gom nước thải nhưng vẫn ở trong tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.[79] Ngoài ra, ở Tam Hiệp vẫn còn một bộ phận làm hàng giả, nhái các thương hiệu nổi tiếng thế giới. Vậy nhưng các tiểu thương vẫn đến đây thu mua vì giá rẻ, mẫu mã và màu sắc bắt mắt. Do đó, vấn đề vẫn chưa thể giải quyết triệt để dù một vài chủ xưởng đã bị truy tố.[80][81]

Các nghề khác

sửa
Cà dầm tương Hòa Thôn
Bánh hòn làng Đại Điền

Với nghề sản xuất và chế biến thực phẩm, xã có hai nhãn hiệu tập thể được công nhận là tương nếpcà dầm tương Tam Hiệp.[82] Giống cà ở Hòa Thôn xưa đã được đánh giá có cùi dày, ít hạt, ăn ngon và giòn.[57] Trải qua quá trình chọn lựa kỹ càng và rửa sạch, cà bát được ướp muối 20 ngày rồi ép bỏ nước, lại ngâm tương suốt một năm mới hoàn thành. Về phần tương cũng được ủ kỹ từ gạo nếp và bột ngô theo cách gia truyền; nên khi ăn cà có vị mặn nhưng nuốt vào lại thấy ngọt hậu. Nhiều thế hệ người Việt Nam đều thuộc lòng câu thơ "Anh đi anh nhớ quê nhà, nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương" nhưng chưa một lần tận mắt thấy món ăn này. Trong khi đó, mỗi năm cà chỉ ra 01 vụ và chỉ có 06 hộ gia đình trong xã sản xuất khoảng 1,5−2 tấn thành phẩm/hộ. Bởi những lý do đó, dù dân dã nhưng cà dầm tương Tam Hiệp vẫn trở thành đặc sản được đem đi biếu tặng, thậm chí bà con Việt kiều cũng về nước tìm mua. Giá bán một quả cà nhỏ vào năm 2019 khoảng 25−30.000 đồng. Những quả nặng từ 500g được bán ở mức 50.000 đồng và quả hiếm 1kg có giá lên tới 300.000 đồng. Trung bình mỗi hộ dân trong xã có thể thu về hơn 100 triệu đồng/năm từ nghề này.[83][84]

Nằm kế bên Hòa Thôn là làng Đại Điền nổi danh với nghề bánh trái từ lâu, được xếp vào nhóm 10 làng làm bánh quan trọng ở Bắc Kỳ xưa.[60] Người dân nơi này làm bán đủ món truyền thống như bánh lượt, bánh rợm, bánh tẻ, bánh hòn... và ngon hơn cả là món "bánh đúc làng Điền, góp tiền mà mua".[85] Đây vốn là một thức quà dân dã và đâu đâu cũng có thể tìm thấy, nhưng đặc sản của làng Điền lại mang hương vị riêng không thể lẫn. Những mẹt bánh trắng mịn, thanh mát và thơm dẻo; dù có giá cao hơn các nơi khác vẫn luôn đắt hàng vì “tiền nào của nấy".[86]

Bên cạnh các nghề tiểu thủ công nghiệp trên thì ở Tam Hiệp vẫn có một bộ phận làm nông nghiệp. Tính đến năm 2022, vùng Tam Hiệp, Tam Thuấn và Hiệp Thuận có tổng cộng 113 ha chuyên canh hoa và cây cảnh. Trong khi đó, tổng diện tích trồng bưởi và ổi của ba xã Tam Hiệp, Ngọc Tảo và Phụng Thượng đạt 83 ha.[87] Còn lại ở xã cũng trồng lúa nhưng một phần diện tích đã được chuyển đổi thành dự án cụm công nghiệp.[8] Với chăn nuôi, vùng Tam Hiệp, Ngọc Tảo và Thượng Cốc có tổng cộng 125 ha dành cho thủy sản. Bên cạnh đó, xã cũng có đàn lợn 3.920 con và đàn gia cầm 16.025 con. Khu chuồng trại chăn nuôi ở xã được quy hoạch tập trung trên diện tích 49,4 ha;[87] còn điểm giết mổ gia súc gia cầm rộng 0,5 ha. Từ năm 2013, mỗi ngày tại khu vực này đã xử lý khoảng 3 tấn thịt lợn và 1,5 tấn gia cầm.[88]

Hạ tầng

sửa

Xã Tam Hiệp được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới năm 2014[40] với hệ thống điện, đường, trường, trạm cơ bản đã được đồng bộ hóa. Giao thông đến xã khá thuận tiện với các tuyến xe buýt 20A, 70A, 70B, 92[89][90] và nhiều xe khách, xe tải qua quốc lộ 32. Xã Tam Hiệp cũng có nhiều khu đất ở đấu giá với mức khởi điểm khá cao, phản ánh phần nào sự sôi động nơi đây.[91][92] Ở khu vực phía tây xã là dự án cụm công nghiệp Tam Hiệp rộng 20,99 ha đã khởi công vào đầu năm 2024 với tổng mức đầu tư khoảng 454 tỷ đồng. Ngay cạnh đó tiếp tục là cụm công nghiệp Nam Phúc Thọ rộng 41,7 ha thuộc địa bàn của xã cùng với xã Ngọc Tảo. Hai dự án này được kỳ vọng sẽ tạo động lực phát triển chung cho cả xã và huyện, đồng thời giảm tải ô nhiễm môi trường làng nghề.[93][8] Bên cạnh đó, Tam Hiệp cũng có một phần diện tích phía bắc thuộc dự án Vườn sinh thái Cẩm Đình − Hiệp Thuận. Tuy nhiên, dự án này trải dài khắp 10 xã, rộng tới 230,53 ha và đã chậm tiến độ 15 năm (2008−2023).[94] Tại đây cũng xảy ra sai phạm ảnh hưởng đến môi trường nhưng vẫn chưa bị xử lý vì nằm ở khu vực giáp ranh, mà thực chất là "vùng cấm".[95] Bao bọc phía bên ngoài dự án là tuyến đê sông Đáy, nơi từng có con đường bích họa dài nhất Thủ đô vào năm 2020. Nằm trên địa bàn hai xã Tam Hiệp và Tam Thuấn, công trình thể hiện nhiều nét đặc trưng văn hóa và lịch sử của làng quê, nhưng không được quan tâm bảo trì và một bộ phận người dân đổ trộm rác nên đã xuống cấp sau ba năm.[96][97]

Văn hóa

sửa

Xã Tam Hiệp xưa cũng giống như bao làng xã khác, đều có các hương ước hay tục lệ cổ. Đến nay, các bản ghi chép ấy vẫn có thể tìm thấy được như: Thượng Hiệp (32 trang, gồm 9 điều, 25 lệ), Mỹ Giang (44 trang, gồm 1 văn khoán và 38 lệ), Đại Điền (44 trang, gồm 37 điều, 25 lệ), Miếu Thôn (66 trang, gồm 12 điều, 18 khoản và 1 lệ), Hiệp Cát (194 trang, gồm 56 điều, 19 khoản thỏa thuận, 142 lệ, 3 giao ước và 5 giao từ).[48][49] Đa phần các quy ước này vẫn tiếp tục được thực thi, nhất là trong các lễ nghi và việc làng. Nhưng đồng thời, người dân trong xã cũng đã thay đổi một số tập quán cũ để thực hiện theo nếp sống mới. Năm 2019, xã Tam Hiệp đã có 04 làng văn hóa và 90% số hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa.[98] Nhiều đám tang tại đây thay vì địa táng rồi cải táng thì đã chuyển sang hỏa táng với tỷ lệ tăng dần: từ 47,45% năm 2018 lên 63,3% năm 2019 và duy trì ở mức 66% vào năm 2023.[99][2]

Theo thống kê năm 2019, phong trào thể dục thể thao ở Tam Hiệp cũng phổ biến với 39,3% dân cư tham gia thường xuyên.[98] Xã có 01 Trung tâm văn hóa thể thao,[100] 03 Nhà văn hóa ở các khu vực Thượng Hiệp, Mỹ Giang, Điền Hòa Cát cùng 08 Nhà hội họp thôn dân cư... đáp ứng cơ bản nhu cầu sinh hoạt của người dân. Bên cạnh các câu lạc bộ bóng chuyền hơi, cầu lông hay dân vũ... thì bóng đá là môn có truyền thống lâu đời hơn cả. Các giải đấu thường được tổ chức vào mùa xuân và trận chung kết sẽ diễn ra cùng với dịp lễ hội truyền thống của địa phương vào tháng 3 âm lịch hàng năm.[101] Trong những ngày hội, ngoài các hoạt động tế lễ và rước kiệu còn có các trò chơi dân gian như: đi cầu khỉ, đập niêu, chọi gà, kéo co...[17] Đặc biệt, câu lạc bộ Lân Sư Rồng của xã còn mang tới những màn trình diễn ấn tượng với hơn 40 hội viên chuyên nghiệp từng nhiều lần phục vụ Lễ giỗ Tổ Hùng Vương tại Đền Hùng.[102][103] Ngoài ra, đời sống văn hóa của người dân Tam Hiệp cũng thêm phần phong phú nhờ câu lạc bộ thơ Hương Quê thành lập từ năm 1992 và từng được giới thiệu trên sóng Đài tiếng nói Việt Nam.[104]

Tam Hiệp cũng được xem là một miền quê giàu truyền thống hiếu học. Vùng đất Khánh Hiệp xưa có hai vị tiến sĩ Nho học triều Lê còn lưu danh trên bia Văn Miếu Quốc Tử Giám là Nguyễn Đạo Hưng (đỗ năm 1493) và Nguyễn Doãn Tuy (có tên khác là Nguyễn Khắc Tuy, đỗ năm 1514).[105][106] Tính đến hết triều Nguyễn, xã đã có tổng cộng 07 vị đỗ cử nhân (hương cống).[g] Còn ở thời hiện đại, Tam Hiệp cũng có một Nhà giáo ưu tú và theo thống kê chưa đầy đủ thì có 04 vị Phó giáo sư.[h] Công tác giáo dục ở xã luôn được quan tâm và đầu tư nên các trường Mầm non Tam Hiệp A, B, Tiểu học Tam Hiệp A, B và THCS Tam Hiệp trên địa bàn đều đã được xây mới hoặc cải tạo đạt chuẩn quốc gia.[117][118]

Di tích

sửa

Nằm ở vùng đất Xứ Đoài với bề dày lịch sử nên xã Tam Hiệp cũng có nhiều công trình tôn giáo và tín ngưỡng. Toàn xã có 10 chùa, 07 đình, 02 quán, 01 đền và 01 nhà nguyện.[40] Trong đó có 06 di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia gồm: chùa Thiệu Long, đình Mỹ Giang, chùa Kim Hoa, quán Ngự, đình Thượng Hiệp và chùa Ba Giai. Ngoài ra, xã cũng có 03 di tích cấp tỉnh/thành phố là đình Hòa Thôn, chùa Hòa Thôn và đình Miếu Thôn.[119] Từ đê Quai Chè xuôi theo đường trục chính của xã sẽ đến được quán Ngự của làng Hiệp Cát và đình làng Thượng Hiệp − hai nơi cùng thờ vị thánh Tam Giang Bạch Hạc triều Hùng Vương. Trong đó, quán Ngự nằm dưới gốc cây đa cổ thụ vài trăm năm tuổi, gồm tiền tế 1 gian 2 chái nối với 3 gian hậu cung và vẫn lưu giữ được nhiều di vật chạm khắc mang phong cách thời Nguyễn. Còn đình Thượng Hiệp từng bị phá hủy trong kháng chiến và dựng lại năm 1948 với hai dãy nhà dải vũ 5 gian, giữa là tòa đại bái và sau cùng có 4 gian hậu cung tách biệt.[120] Ở về gần trung tâm xã hiện nay là chùa Kim Hoa, còn gọi là chùa Tổng, nghĩa là chùa chung của cả tổng Thượng Hiệp xưa. Tại đây có bia Tôn tạo Kim Hoa tự bi khắc năm 1579 cho biết chùa đã có từ trước và được người dân trùng tu năm 1578. Dựa vào bệ đá hoa sen kích thước 3x1,7x1,3m có thể thấy chùa đã tồn tại từ thời Trần.[121] Trong khuôn viên chùa có 5 gian tiền đường, 3 gian thượng điện, 5 gian nhà Tổ, khu tháp mộ và nhiều bảo vật như: 08 tấm bia đá, 01 quả chuông thời Tây Sơn cùng 20 pho tượng gỗ chủ yếu từ thời Lê trung hưng.[120]

Nhưng ngôi chùa cổ nhất ở Tam Hiệp có lẽ là chùa Thiệu Long, còn gọi là chùa Miếu do nằm ở xóm Miếu, làng Mỹ Giang. Tấm bia Thiệu Long tự bi ở chùa được ông Đỗ Năng Tế dựng vào năm đầu tiên của triều Trần (1226) với kích thước khoảng 1,35x0,8m. Bia được đặt trên lưng rùa, trang trí hình chim phượng và nhiều hoa văn ấn tượng. Lời bia khởi đầu bằng sự huyền diệu của thế giới và sự ra đời của Phật pháp, kế đến là công lao của vợ chồng ông và quá trình chọn đất dựng chùa.[22] Đặc biệt, chùa được mô tả với cách bố trí rất độc đáo và khác biệt, gồm một bức tượng Phật ở trung tâm, hai bên là tiên nữ Apsara và Đại Quyền [Tu Lí] Bồ Tát. Phía trước bàn thờ có tượng Hộ Pháp, bên trái là hòa thượng Trần Như (Kaundinya) còn bên phải là tượng Mỹ Âm (Gandharva) cho thấy sự ảnh hưởng của Ấn ĐộChăm Pa.[21] Nhưng qua thời gian, chùa đã được trùng tu thay đổi nhiều lần và đến nay gồm các công trình kiến trúc dạng chữ đinh (丁) như: 5 gian tiền đường nối với 3 gian thượng điện, nhà Tổ gồm 5 gian tiền tế và 3 gian hậu cung... Trong chùa hiện chỉ còn giữ được một số hiện vật như 35 pho tượng tròn thời Nguyễn, 06 tấm bia, 01 quả chuông thời Nguyễn và 04 đôi lọ lục bình thời Thanh...[122] Điều đáng nói là bảo vật quý nhất của chùa − tấm bia cổ hiện đã bị xây bịt lại, cốt để củng cố thêm truyền thuyết về thời Trưng Vương.[123]

Dựa vào 01 cuốn thần phả, 09 đạo sắc phong từ thời Lê, 05 tấm bia đá cùng nhiều bảo vật khác còn lưu giữ tại đình Mỹ Giang có thể thấy quan niệm xem Đỗ Năng Tế là thầy và tướng của Hai Bà Trưng đã có từ rất lâu và được triều đình công nhận. Ông cùng ba bà phi được thờ phụng trong ngôi đình nằm giữa làng, nhìn về hướng nam với kiến trúc hình chữ công (工) gồm đại bái 3 gian 2 dĩ, trung đường 5 gian và hậu cung trạm trổ cầu kỳ.[124][18] Cách đó không xa là lăng mộ ông, tục gọi là quán Dậm, đã từng có loài cua đặc sản được xếp vào hạng "Sơn Tây tứ quý" (hay "Sơn Tây tứ dị") chỉ dùng để tiến vua.[125] Thậm chí còn có thuyết cho rằng quân lính của Đỗ Tướng Công sau khi hy sinh tại đây đã hóa thành loài cua này để đời đời được hầu hạ bên chủ tướng.[126] Là một trong bốn sản vật hiếm có của Xứ Đoài xưa, vậy nhưng từ giữa thế kỷ XX đến nay đã không còn ai trông thấy loài cua kỳ bành Khánh Hiệp nữa.[53]

Danh nhân

sửa

Về chính trị và quân sự, Tam Hiệp xưa có vị tướng Đỗ Năng Tế có công với nhà Trần và được ban ấp thang mộc. Hương Binh Hợp của ông nay là 04 xã Tam Hiệp, Tam Thuấn, Hiệp ThuậnLiên Hiệp, rộng tới hơn 6.000 mẫu ruộng.[45][i]đình Hạ Hiệp, xã Liên Hiệp cũng thờ vị Thành hoàng có tên gần giống ông là Đỗ Năng Đạo (thường gọi là Hoàng Đạo) và theo thần phả thì cả hai đều được cho là tham gia cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng năm xưa.[127] Trong đó, tên ông Đỗ Năng Tế được đặt cho hai con đường: một ở quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh và một ở quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.[128][129] Còn ở thời hiện đại, xã Tam Hiệp có những cá nhân tiêu biểu như:

Về nghệ thuật, Tam Hiệp là quê ngoại, cũng là nơi sinh ra và lớn lên của nhạc sĩ Lê Việt Hòa (1935−2014).[134] Ông được truy tặng Giải thưởng nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2017 nhờ những ca khúc Gửi em chiếc nón bài thơ, Nhớ Xứ Đoài, Gửi sông La...[135] Đây cũng là quê hương của Nghệ sĩ nhân dân Trần Hiếu (sinh năm 1936) và em trai ông là nhạc sĩ Trần Tiến (sinh năm 1947) đã nhận Giải thưởng nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007.[136][137] Ông Trần Tiến cũng có một sáng tác mang tên Quê nhà, tuy không nhắc trực tiếp tới hai chữ "Tam Hiệp", nhưng thoạt nghe ai cũng biết đó là miền "Xứ Đoài xa vắng". Bản thân ông cũng từng tâm sự rằng "chẳng bao giờ anh hát nổi bài ca anh viết về quê mình. Cứ hát lại khóc"...[138]

Ghi chú

sửa
  1. ^ Tới tháng 6 năm 2024, xã có 2.960 hộ sử dụng nước sạch,[11] trên tổng số 3.072 hộ, tương đương 96,35%.
  2. ^ Huyện Phúc Thọ và huyện Quốc Oai được cho là thuộc Mê Linh, quê Hai Bà Trưng; còn huyện Đan Phượng được cho là thuộc Chu Diên, quê ông Thi Sách.[23] Xã Tam Hiệp từng thuộc cả Đan Phượng, Quốc Oai và nay là Phúc Thọ.
  3. ^ Sách Đất nước Việt Nam qua các đời của học giả Đào Duy Anh có ước chừng rất nhiều địa danh thời Bắc thuộc. Do bài viết về xã có diện tích nhỏ và không chắc chắn nên không đề cập.
  4. ^ Châu Từ Liêm gồm 02 huyện Đan Phượng và Thạch Thất.[26] Xã Tam Hiệp nay nằm giữa và giáp cả hai huyện này.
  5. ^ Sau năm 1954, xã Thuấn Nhuế đã tách khỏi tổng Thượng Hiệp, nay là xã Tam Thuấn.[44]
  6. ^ Sách Đồng Khánh địa dư chí[47] và các tư liệu tại Viện Hán Nôm[48][49] đều sử dụng chữ 協. Còn cuốn Sơn Tây tỉnh địa chí viết năm 1941 dùng chữ 叶, tuy vẫn cùng ý nghĩa nhưng chưa rõ dựa vào đâu. Các tên chữ Hán còn lại đều giống nhau giữa các tài liệu.
  7. ^ 07 cống sĩ gồm: Trần Vinh Tước (đỗ năm 1726), Đào Duy Phác (đỗ năm 1831), Nguyễn Ngọc Dịch (đỗ năm 1841), Nguyễn Khắc Trạch (đỗ năm 1861[107]), Đỗ Văn Huyên (đỗ năm 1864), Trần Thông (đỗ năm 1891) và Trần Dụng Đoan (đỗ năm 1915).[108]
  8. ^ 01 NGƯT Trần Huy Thành (sinh năm 1943)[46] và 04 PGS.TS là: Đỗ Cảnh Dương (sinh năm 1960),[109][110] Nguyễn Thị Xuân Sơn (sinh năm 1979),[111][112] Nguyễn Thị Kim Sơn (sinh năm 1980),[113][114] Nguyễn Kiên Trung (sinh năm 1985)[115][116]
  9. ^ 1 mẫu ở miền Bắc = 3.600 m2. Tổng diện tích 04 xã Tam Hiệp, Tam Thuấn, Hiệp Thuận và Liên Hiệp là 2.227 ha   6.186 mẫu.[43]

Chú thích

sửa
  1. ^ Bộ Giao thông Vận tải 2009.
  2. ^ a b c Mai Thị Dung (18 tháng 6 năm 2024). “Hội nghị tọa đàm "Tang văn minh, tiến bộ" trên địa bàn xã Tam Hiệp năm 2024”. Trang thông tin xã Tam Hiệp. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 6 năm 2024.
  3. ^ a b Phạm Thị Lan Anh 2009, tr. 29-31.
  4. ^ “Vị trí, điều kiện tự nhiên”. Cổng thông tin nông nghiệp huyện Phúc Thọ. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 2 năm 2024.
  5. ^ Nguyễn Văn Niệm và đồng nghiệp 2021, tr. 199-211.
  6. ^ Lưu Thị Phượng. “Tăng cường tuyên truyền pháp luật bảo vệ công trình thủy lợi”. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Hà Nội. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 2 năm 2024.
  7. ^ Phạm Xuân Độ 1941, tr. 87-88.
  8. ^ a b c Nguyễn Lâm (22 tháng 4 năm 2022). “Chính phủ đồng ý chuyển 39,51 ha đất lúa thực hiện dự án cụm công nghiệp Nam Phúc Thọ, Hà Nội”. Tạp chí Việt Nam hội nhập. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 8 năm 2022.
  9. ^ Phạm Thị Lan Anh 2009, tr. 34-35.
  10. ^ Phạm Thị Lan Anh 2009, tr. 74.
  11. ^ Tùng Nguyễn (3 tháng 6 năm 2024). “Xoá dần "vùng trắng" nước sạch tại huyện Phúc Thọ”. Kinh tế & Đô thị. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 7 năm 2024.
  12. ^ “Chuyện lạ trong cung cấp nước sạch tại xã Tam Hiệp, Phúc Thọ”. Hànộimới. 27 tháng 1 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2024.
  13. ^ VTC14 (27 tháng 10 năm 2023). “Thực hư nước bẩn giá cao”. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 3 năm 2024 – qua Youtube.
  14. ^ “Kết quả kiểm tra chất lượng nước sạch xã Tam Hiệp” (PDF). Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hà Nội. 27 tháng 11 năm 2023. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 30 tháng 3 năm 2024.
  15. ^ Nguyễn Vinh Phúc 2005, tr. 23.
  16. ^ Viện Khảo cổ học 1983, tr. 75-76.
  17. ^ a b Lưu Thế Yên (3 tháng 11 năm 2020). “Đỗ Năng Tế”. Tạp chí Người Hà Nội. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 2 năm 2024.
  18. ^ a b c Trường Phong & Nguyễn Du 2011, tr. 79-86.
  19. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 155.
  20. ^ Trần Quốc Vượng (dịch) 2005, tr. 194.
  21. ^ a b John K. Whitmore & K. W. Taylor 2018, tr. 55.
  22. ^ a b Phạm Văn Ánh 2012, tr. 45-60.
  23. ^ Nguyễn Vinh Phúc 2005, tr. 18.
  24. ^ Phương Anh (6 tháng 2 năm 2023). “Đền Hát Môn”. Tạp chí Người Hà Nội. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2024.
  25. ^ Đào Duy Anh 2005, tr. 119.
  26. ^ Đào Duy Anh 2005, tr. 133.
  27. ^ Quốc sử quán 2003, tr. 903.
  28. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 630-631.
  29. ^ Viện Khoa học Xã hội Việt Nam 2004, tr. 126-127.
  30. ^ a b Quốc sử quán 2003, tr. 919-920.
  31. ^ Nguyễn Tá Nhí, Đặng Văn Tu & Đinh Khắc Thuân 2011, tr. 18.
  32. ^ Phạm Xuân Độ 1941, tr. 224.
  33. ^ Ban tuyên giáo thành ủy Hà Nội 2020, tr. 24.
  34. ^ Phạm Thị Kim Thanh (13 tháng 8 năm 2019). “Xây dựng an toàn khu trên địa bàn Hà Nội, góp phần vào thắng lợi của Cách mạng tháng Tám (Phần 2 và hết)”. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 8 năm 2020.
  35. ^ Trần Huy Liệu 1960, tr. 354-355.
  36. ^ Tô Hoài 2001, tr. 117.
  37. ^ Quân đội nhân dân Việt Nam 1996, tr. 230-231.
  38. ^ Bộ chỉ huy quân sự Hà Tây 1998, tr. 184.
  39. ^ Nguyễn Trung Tiến (22 tháng 10 năm 2020). “Ký ức bộ quân phục và đường tới vinh quang”. Thông tấn xã Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 1 năm 2021.
  40. ^ a b c d e “Giới thiệu về xã Tam Hiệp”. Cổng thông tin huyện Phúc Thọ. 5 tháng 1 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 10 năm 2023.
  41. ^ Minh Quang (15 tháng 12 năm 2007). “5 người chết dưới sông trong vụ phá ổ bạc Hà Tây”. Tuổi Trẻ. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 2 năm 2024.
  42. ^ a b Vũ Văn Quần 2019, tr. 830-831.
  43. ^ a b “Mã số đơn vị hành chính Việt Nam”. Bộ Thông tin và Truyền thông. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 3 năm 2013.
  44. ^ Vũ Văn Quần 2019, tr. 850.
  45. ^ a b Phạm Thị Thoa 1990, tr. 42-43.
  46. ^ a b c Vương Tâm (10 tháng 9 năm 2020). “Kẻ Hiệp bên sông Đáy”. Công An Nhân Dân. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 2 năm 2024.
  47. ^ Quốc sử quán 2003, tr. 975.
  48. ^ a b “Tài liệu AF.a6/46”. Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 2 năm 2024.
  49. ^ a b “Tài liệu AF.a6/45”. Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 3 năm 2024.
  50. ^ Nguyễn Xuân Kính & Phan Lan Hương 2014, tr. 236.
  51. ^ Trần Nghĩa 2002, tr. 203.
  52. ^ Nguyễn Tá Nhí 1999, tr. 58.
  53. ^ a b Đông Xuyên (27 tháng 10 năm 2013). “Thực hư loài cua hoàng đế Khánh Hiệp”. Lao Động. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 2 năm 2024.
  54. ^ Phạm Xuân Độ 1941, tr. 127.
  55. ^ Nguyễn Xuân Kính & Phan Lan Hương 2014, tr. 270.
  56. ^ Phạm Xuân Độ 1941, tr. 122.
  57. ^ a b Phạm Xuân Độ 1941, tr. 95.
  58. ^ Pierre Gourou 2015, tr. 578.
  59. ^ Pierre Gourou 2015, tr. 504-505.
  60. ^ a b Pierre Gourou 2015, tr. 554.
  61. ^ Nguyễn Tá Nhí, Đặng Văn Tu & Đinh Khắc Thuân 2011, tr. 543.
  62. ^ Sở Văn hóa Thông tin Hà Nội 1984, tr. 56-75.
  63. ^ Phạm Thị Lan Anh 2009, tr. 32-33.
  64. ^ a b Phạm Trường Sơn (10 tháng 6 năm 2022). “Hà Nội (Phúc Thọ): xã Tam Hiệp phấn đấu về đích nông thôn mới nâng cao năm 2023”. Tạp chí Làng nghề Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 2 năm 2024.
  65. ^ Hoàng Thoàn (26 tháng 10 năm 2023). “Giám sát tình hình, kết quả thực hiện Nghị quyết 25 của HĐND Thành phố về phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn 2 xã Tam Hiệp – Phụng Thượng”. Trang thông tin xã Tam Hiệp. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 2 năm 2024.
  66. ^ Thu Huyền (28 tháng 6 năm 2019). “Làng nghề may truyền thống Thượng Hiệp”. Báo Quốc phòng Thủ đô. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 2 năm 2024.
  67. ^ Văn Tuân, Văn Đức (2 tháng 4 năm 2021). “Đổi thay trên quê hương Tam Hiệp anh hùng”. Báo Quốc phòng Thủ đô. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 3 năm 2023.
  68. ^ Cao Sơn (10 tháng 6 năm 2009). “Quần áo làng Hiệp”. Văn nghệ Đà Nẵng. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2024.
  69. ^ Thảo Vy, Trịnh Văn Bộ (20 tháng 9 năm 2015). “Thú nhồi bông Tam Hiệp”. Thông tấn xã Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 2 năm 2024.
  70. ^ “Phục hồi và phát triển kinh tế xã hội: Làng nghề may Tam Hiệp tạo việc làm ổn định cho lao động nông thôn”. Thông tấn xã Việt Nam. 12 tháng 4 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 2 năm 2024.
  71. ^ a b Nguyễn Mai (14 tháng 4 năm 2022). “Làng tỷ phú Tam Hiệp”. Hànộimới. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 2 năm 2024.
  72. ^ Bộ Thương Mại (26 tháng 8 năm 2008). “Vietnam Economic News” (bằng tiếng Anh). Tập 8 (số 19-35). tr. 39.
  73. ^ Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội 2013, tr. 32.
  74. ^ Nguyễn Mai (28 tháng 12 năm 2014). “Làng nghề Tam Hiệp nhộn nhịp ngày cuối năm”. Hànộimới. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 2 năm 2024.
  75. ^ Đào Cảnh (30 tháng 6 năm 2018). “Xứng đáng vành đai xanh của Thủ đô”. Đại biểu nhân dân. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2024.
  76. ^ Minh Tuyết (15 tháng 4 năm 2024). “Làng Táo, xã Tam Thuấn đón nhận danh hiệu "Làng nghề Hà Nội". Cổng thông tin huyện Phúc Thọ. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 4 năm 2024.
  77. ^ “Nông thôn sạch đẹp ở Tam Hiệp”. Kinh tế & Đô thị. 13 tháng 6 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 2 năm 2024.
  78. ^ Khánh An (7 tháng 9 năm 2018). “Phúc Thọ, Hà Nội: Ai quản lý rác thải công nghiệp gây ô nhiễm?”. Tạp chí Môi trường và Đô thị Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 2 năm 2024.
  79. ^ Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội 2023.
  80. ^ Hoàng Minh, Trung Nguyên (8 tháng 1 năm 2020). “Đáng ngại hàng nhái ở làng nghề”. Hànộimới. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 2 năm 2024.
  81. ^ Việt Dũng (8 tháng 4 năm 2020). “Chủ xưởng đồ hàng hiệu nhái bị truy tố”. Lao Động. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 10 năm 2020.
  82. ^ Hoàng Chưởng (4 tháng 12 năm 2018). “Khai mạc Hội chợ xúc tiến thương mại huyện Phúc Thọ lần thứ II năm 2018. Công bố Nhãn hiệu tập thể "Cà dầm tương Tam Hiệp" và "Tương nếp Tam Hiệp". Hội nông dân thành phố Hà Nội. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 2 năm 2024.
  83. ^ Trọng Nghĩa (8 tháng 6 năm 2019). “50 nghìn đồng một quả cà dầm tương”. VnExpress. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 5 năm 2023.
  84. ^ Phạm Mơ, Nguyễn Thương (29 tháng 6 năm 2019). “Món mặn chát thời ông bà ta xưa, Việt kiều tranh mua cháy hàng”. VietNamNet. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 2 năm 2023.
  85. ^ Nguyễn Xuân Kính & Phan Lan Hương 2014, tr. 122.
  86. ^ Tiến Thành (5 tháng 12 năm 2009). “Bánh đúc chấm tương Bần”. Tuổi Trẻ. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 3 năm 2024.
  87. ^ a b UBND Thành phố Hà Nội 2023.
  88. ^ Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội 2012.
  89. ^ “Luồng tuyến xe buýt Hà Nội”. Tổng công ty vận tải Hà Nội. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2024.
  90. ^ Đức Hoàng (22 tháng 11 năm 2017). “Danh sách, lộ trình xe buýt Hà Nội 2018”. Tạp chí Đầu tư Tài chính. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 2 năm 2023.
  91. ^ Trọng Tùng (1 tháng 11 năm 2023). “Huyện Phúc Thọ: "Đất vàng" xã Tam Hiệp được đấu với giá khởi điểm 66,7 triệu/m2”. Kinh tế & Đô thị. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 11 năm 2023.
  92. ^ Anh Tú (23 tháng 4 năm 2024). “Đất huyện ven Hà Nội có thể đấu giá 75,4 triệu đồng một m2”. VnExpress. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 4 năm 2024.
  93. ^ Châu Anh (19 tháng 1 năm 2024). “Hà Nội khởi công 2 cụm công nghiệp, từng bước đưa hơn 1.000 cơ sở vào sản xuất tập trung”. Tạp chí Kinh tế Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 1 năm 2024.
  94. ^ Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội 2023.
  95. ^ Quốc Long, Phong Hào (13 tháng 3 năm 2023). “Vi phạm đất đai, xây dựng vùng ven đô: (Bài 2) "Vùng cấm" ở huyện Phúc Thọ”. Tạp chí Người Đưa Tin. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 6 năm 2023.
  96. ^ Ngọc Thành (8 tháng 10 năm 2020). “Đường bích họa dài nhất Thủ đô”. VnExpress. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 9 năm 2022.
  97. ^ Quang Sáng (16 tháng 7 năm 2023). “Con đường bích hoạ dài nhất Hà Nội đang dần "biến mất". Dân Việt. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2024.
  98. ^ a b Hoàng Thoàn (30 tháng 5 năm 2019). “Xã Tam Hiệp đẩy mạnh phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa". Sở văn hóa thể thao thành phố Hà Nội. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 2 năm 2020.
  99. ^ Đức Duy (22 tháng 3 năm 2020). “Chuyển biến trong thực hiện tang văn minh”. Hànộimới. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 3 năm 2024.
  100. ^ Mai Thị Dung (12 tháng 3 năm 2024). “Bàn giao công trình Trung tâm văn hóa - Thể thao xã Tam Hiệp”. Trang thông tin xã Tam Hiệp. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 3 năm 2024.
  101. ^ Mai Thị Dung (22 tháng 3 năm 2024). “Khai mạc giải bóng đá làng nghề May Thượng Hiệp lần thứ XVI, chào mừng lễ hội truyền thống làng Thượng Hiệp năm 2024”. Trang thông tin xã Tam Hiệp. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 3 năm 2024.
  102. ^ Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ 2023.
  103. ^ “Trình diễn múa Lân - Sư - Rồng”. Cổng thông tin tỉnh Phú Thọ. 17 tháng 4 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 4 năm 2024.
  104. ^ Vũ Duy (10 tháng 11 năm 2018). “Hết lòng với nghiệp "trồng người", với quê hương”. Quân đội nhân dân. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 11 năm 2018.
  105. ^ Nguyễn Thị Lâm 2012, tr. 80-83.
  106. ^ “Văn bia đề danh tiến sĩ khoa Quý Mùi niên hiệu Hồng Thuận năm thứ 6 (1514)”. Viện Nghiên cứu Hán Nôm. 24 tháng 1 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 8 năm 2023.
  107. ^ Viện Nghiên cứu Hán Nôm 2008, tr. 632-653.
  108. ^ Nguyễn Tá Nhí 2000, tr. 128.
  109. ^ Mai Đan (2 tháng 10 năm 2020). “Kỷ niệm 75 năm ngày thành lập ngành Địa chất Việt Nam”. Cục địa chất Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 10 năm 2020.
  110. ^ Phạm Vĩnh 2002, tr. 174.
  111. ^ “Hồ sơ PGS.TS Nguyễn Thị Xuân Sơn” (PDF). Hội đồng giáo sư nhà nước. 20 tháng 5 năm 2021. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 24 tháng 7 năm 2022.
  112. ^ Minh Chung (2 tháng 4 năm 2022). “Người duy nhất đạt chuẩn Giáo sư ngành luật trong đợt này là ai?”. Pháp Luật thành phố Hồ Chí Minh. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2023.
  113. ^ “Hồ sơ PGS.TS Nguyễn Thị Kim Sơn” (PDF). Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 25 tháng 4 năm 2024.
  114. ^ “Danh sách ứng viên đạt tiêu chuẩn chức danh Giáo sư, Phó giáo sư năm 2019”. Hội đồng giáo sư nhà nước. 11 tháng 11 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 3 năm 2023.
  115. ^ “Hồ sơ PGS.TS Nguyễn Kiên Trung” (PDF). Hội đồng giáo sư nhà nước. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 31 tháng 3 năm 2024.
  116. ^ “Danh sách 630 Giáo sư, Phó Giáo sư được công nhận năm 2023”. Cổng thông tin Chính phủ. 21 tháng 11 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 12 năm 2023.
  117. ^ Nguyễn Tuyết (28 tháng 6 năm 2022). “Huyện Phúc Thọ công bố Quyết định thành lập trường Tiểu học Tam Hiệp B”. Đảng bộ thành phố Hà Nội. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 3 năm 2024.
  118. ^ “Trường THCS Tam Hiệp: Điểm sáng về chất lượng giáo dục của huyện Phúc Thọ”. Báo Giáo dục và Thời đại. 17 tháng 3 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 7 năm 2024.
  119. ^ Nguyễn Tá Nhí, Đặng Văn Tu & Đinh Khắc Thuân 2011, tr. 476-477.
  120. ^ a b “Di tích lịch sử văn hóa ở Tam Hiệp”. Sở Du lịch thành phố Hà Nội. 30 tháng 11 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 2 năm 2024.
  121. ^ Vũ Ngọc Khánh 2006, tr. 264.
  122. ^ Sơn Dương (13 tháng 9 năm 2023). “Chùa Thiệu Long (huyện Phúc Thọ)”. Tạp chí Người Hà Nội. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 2 năm 2024.
  123. ^ Đinh Khắc Thuân 2016, tr. 9.
  124. ^ Sơn Dương (25 tháng 4 năm 2023). “Đình Mỹ Giang (huyện Phúc Thọ)”. Tạp chí Người Hà Nội. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 2 năm 2024.
  125. ^ Trần Văn An và đồng nghiệp 2012, tr. 42.
  126. ^ Đinh Công Vĩ 2005, tr. 70-71.
  127. ^ “Lời giới thiệu về đình Hạ Hiệp, xã Liên Hiệp, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội”. Trang thông tin xã Liên Hiệp. 31 tháng 3 năm 2024. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 4 năm 2024.
  128. ^ Sở giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh 2023.
  129. ^ Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng 2016.
  130. ^ “Thiếu tướng Trần Kinh Chi từ trần”. Công An Nhân Dân. 28 tháng 12 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 2 năm 2024.
  131. ^ “Thông tin đại biểu Đào Văn Bình”. Văn phòng Quốc hội. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 12 năm 2017.
  132. ^ “Thông tin Đại biểu Lê Hiền Vân”. Văn phòng Quốc hội. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2012.
  133. ^ Lê Thắng (7 tháng 1 năm 2020). “Trung tướng Lê Hiền Vân, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị thăm, chúc Tết tại Quân khu 4”. Báo Quân Khu 4. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 3 năm 2023.
  134. ^ Nguyễn Trọng Tạo (1 tháng 4 năm 2014). “Vĩnh biệt tác giả "Gửi em chiếc nón bài thơ". Người Lao Động. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 4 năm 2014.
  135. ^ Trang Anh (1 tháng 12 năm 2022). “Chương trình âm nhạc "Tình yêu Hà Nội" lần thứ XV với "Khúc hát trái tim hồng". Nhân Dân. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 1 năm 2023.
  136. ^ Hà Tùng Long (11 tháng 5 năm 2016). “NSND Trần Hiếu xác lập kỷ lục Việt Nam”. Dân trí. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 8 năm 2022.
  137. ^ U.LY (14 tháng 2 năm 2007). “5 giải thưởng Hồ Chí Minh và 158 giải thưởng nhà nước”. Tuổi Trẻ. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 1 năm 2021.
  138. ^ Miên Thảo (7 tháng 2 năm 2014). “NS Trần Tiến không hát nổi ca khúc viết về quê mình”. Pháp luật Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 3 năm 2024.

Thư mục

sửa