Teresa Josefa Jado y Urbina [a] (20 tháng 10 năm 1819 - 1 tháng 5 năm 1910) là Đệ nhất phu nhân của Ecuador từ năm 1852 đến 1856 với tư cách là vợ của Tổng thống Jose María Urbina.

Teresa Jado
Tersa Josefa Jado Urbina - de Urbina-.jpg
Chức vụ
Nhiệm kỳ13 tháng 7 năm 1852 – 16 tháng 10 năm 1856
Tiền nhiệmTomasa Carbo y Noboa (es)
Kế nhiệmCarmen de Santistevan y Avilés
Thông tin chung
Sinh(1819-10-20)20 tháng 10, 1819
Guayaquil, Đế chế Tây Ban Nha
Mất1 tháng 5, 1910(1910-05-01) (90 tuổi)
Lima, Peru

Đầu đờiSửa đổi

Teresa Jado được sinh ra tại thành phố Guayaquil vào ngày 20 tháng 10 năm 1819, bà là con gái của Manuel Mauro Jado Goenaga và María Josefa Urbina y Llaguno.[1][2]

Hôn nhân và con cáiSửa đổi

Vào ngày 28 tháng 3 năm 1845, vài ngày sau cái chết của anh trai Francisco, bà đã gặp người chú của mình là Jose María Urbina, người cùng cha khác mẹ với mẹ Josefa. Cả hai có dấu hiệu tình cảm lẫn nhau và được hứa hẹn sẽ đến với nhau trong một cuộc hôn nhân trong tương lai, diễn ra tại giáo xứ El Sagrario ở Guayaquil bốn năm sau, vào ngày 14 tháng 1 năm 1849, khi chú rể 41 tuổi và cô 30 tuổi.[3]

Hai vợ chồng có năm đứa con:

  • María Mercedes Urbina y Jado (1850-1879), kết hôn với Antonio de Lapierre Cucalón vào năm 1874, không có con.
  • María Ana de Jesús Rosa de las Mercedes Urbina y Jado (1856-1919), chết độc thân và không có con.
  • José María de las Mercedes Manuel Adriano Urbina y Jado (1857-1900), chết độc thân và không có con.
  • Francisco Urbina y Jado (1859-1926), có con
  • Gabriel Antonio Urbina y Jado (1864-1895), có con [a] [4]

Cuộc sống công cộng và lưu vongSửa đổi

 
Lăng mộ của Teresa Jado trong Nghĩa trang chung của thành phố Guayaquil

Jado là một người Công giáo thực hành, đến để bảo vệ sự nghiệp của Dòng Tên, người bất ngờ đến thành phố Guayaquil khi họ bị trục xuất khỏi Cộng hòa Tân Granada vào năm 1851.[5] Năm 1855, bà và chồng được chọn làm nhà tài trợ rửa tội cho Emilio Estrada Carmona, người vào năm 1911 cũng sẽ trở thành Tổng thống của Ecuador.[6]

Vào tháng 3 năm 1864, Tổng thống Gabriel García Moreno đã ra lệnh cho Tướng Juan Jose Flores, lúc đó là Thống đốc Guayas, áp đặt cảnh lưu đày lên Teresa và bốn đứa con nhỏ của bà, những người không thể đến dự sau khi bà của bà qua đời chỉ hai mươi giờ trước.[7] Gia đình chuyển đến Peru, nơi Tướng Urbina được cử làm Bộ trưởng Kinh doanh của Ecuador vào năm 1847 và sau đó vẫn phải sống lưu vong. Sau đó họ được đoàn tụ và định cư ở Paita cho đến năm 1867, khi họ chuyển đến El Callao.

Vào ngày 30 tháng 1 năm 1876, sau cái chết của García Moreno, gia đình đã có thể trở về Ecuador khi Tướng Urbina được gọi là một phần của Quốc hội lập hiến quốc gia, sau đó vận may của họ được cải thiện đáng kể.[8] Trong các lễ hội độc lập vào tháng 10 năm 1881, Jado đã được công nhận bởi thành phố Guayaquil, cùng với Baltazara Calderón de Rocafuerte (es), Dolores R. de Grimaldo, champagne S. de Vélez, Zoila Dolores Caamaño và Bolivia Villamil de Ycaza, để làm từ thiện và thực hiện các công việc vì lợi ích của người nghèo và nghèo nhất.[9]

Tử vongSửa đổi

Teresa Jado qua đời vào ngày 1 tháng 5 năm 1910 tại Lima, Peru.[4] Thi hài của bà được chuyển đến Ecuador và bà được chôn cất tại General Cemetery of Guayaquil (es), ở cùng một nơi với chồng, con và các thành viên khác trong gia đình.

Ghi chúSửa đổi

  1. ^ a b The spelling "Urbina" is consistently used for Teresa and her children, but both "Urbina" and "Urvina" are used for her husband in various sources.

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Estrada Guzmán, Eduardo; Leví C., Roberto; Monteverde Granados, Carlos; Sánchez Bravo, Mariano (1997). Historia marítima del Ecuador [Maritime History of Ecuador] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Ecuadorian Navy, Institute of Maritime History. tr. 13, 38. ISBN 9789942020475. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2019 – qua Google Books.
  2. ^ Pérez Pimentel, Rodolfo. “Jado y Urbina Francisco”. Archivo Biográfico Ecuador, tomo I (bằng tiếng Tây Ban Nha). Universidad Católica de Santiago de Guayaquil. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2019.
  3. ^ Pérez Pimentel, Rodolfo. “Urbina conquista a su sobrina” [Urbina Conquers His Niece]. Ecuador Profundo, tomo II (bằng tiếng Tây Ban Nha). Universidad Católica de Santiago de Guayaquil. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2019.
  4. ^ a b Boletín de la Academia Nacional de Historia, Issues 121-123 (bằng tiếng Tây Ban Nha). La Prensa Católica. 1973. tr. 35. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2019 – qua Google Books.
  5. ^ Establecimiento de la Compañía de Jesús en la República del Ecuador en el año de 1851 [Establishment of the Society of Jesus in the Republic of Ecuador in the Year 1851] (bằng tiếng Tây Ban Nha). I. Miranda. 1851. tr. 45–47. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2019 – qua Google Books.
  6. ^ “El Ogro lleno de calidad humana” [The Ogre Full of Human Quality]. La Hora (bằng tiếng Tây Ban Nha). 13 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2019.
  7. ^ Pérez Pimentel, Rodolfo. “Jado Urbina Teresa”. Archivo Biográfico Ecuador (bằng tiếng Tây Ban Nha). Universidad Católica de Santiago de Guayaquil. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2019.
  8. ^ Pérez Pimentel, Rodolfo. “Francisco Urbina Jado”. Diccionario Biográfico del Ecuador, tomo III (bằng tiếng Tây Ban Nha). Universidad Católica de Santiago de Guayaquil. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2019.
  9. ^ Cordero Aroca, Alberto (2006). Homenaje a la Memoria de Doña Baltazara Calderón Garaycoa de Rocafuerte en el bicentenario de su natalicio – Enero 6 1806–2006 [Tribute to the Memory of Doña Baltazara Calderón Garaycoa de Rocafuerte on the Bicentenary of Her Birth – January 6 1806–2006] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Biblioteca Municipal de Santiago de Guayaquil. tr. 220. ISBN 9789978923863.
Tiền nhiệm
Tomasa Carbo y Noboa   [ es ]
Đệ nhất phu nhân Ecuador
1852-1856
Kế nhiệm
Carmen de Santistevan y Avilés