Mở trình đơn chính

Cắt đất cầu hòa là biện pháp chính trị nhượng bộ từ một chính phủ đến chính phủ một nước khác, biện pháp này chuyển giao chủ quyền một số vùng lãnh thổ, nhằm đạt được mục tiêu hòa bình hoặc ngừng tấn công quân sự từ nước khác.

Các hình thức khác liên quan: bồi thường khi đầu hàng, cống để nhận viện trợ,...

Trường hợp lịch sửSửa đổi

Trung Quốc thời Chiến QuốcSửa đổi

Năm 293 TCN tại Y Khuyết diễn ra Trận Y Khuyết, quân Tần do Bạch Khởi chỉ huy đã đánh bại liên quân Ngụy-Hàn do Công Tôn Hỉ chỉ huy, giết 24 vạn binh sĩ liên quân và bắt sống được Công Tôn Hỉ. Sau trận đánh này, 5 thành của Hàn và Ngụy, trong đó có cả Y Khuyết, đã lọt vào tay quân Tần. Hàn và Ngụy buộc phải cắt đất cầu hòa.

Năm 260 TCN, quân Tần do Bạch Khởi chỉ huy thắng lớn ở Trường Bình, Bạch Khởi muốn thừa thắng tiến tới hạ thành Hàm Đan. Triệu Hiếu Thành vương sợ hãi, sai sứ sang Tần xin cắt đất cầu hòa. Đúng lúc đó thừa tướng nước Tần là Phạm Thư lại ghen ghét công lao của Bạch Khởi, nên nói với Tần Chiêu Tương vương chấp nhận lui quân giảng hòa với điều kiện nước Triệu dâng hiến sáu thành. Triệu vương chấp nhận nộp 6 thành để tranh thủ thời gian hoà hoãn, cho gọi lại Liêm Pha làm tướng, chỉnh đốn lại binh mã, củng cố quốc phòng. Tần mất cơ hội gia tăng thành quả thắng lợi.

Trung Quốc thời Bắc TốngSửa đổi

[Trong thời gian chiến tranh với Liêu và sau đó là Kim, nhà Tống phải thường xuyên cắt lãnh thổ ở mạn bắc chuyển đến quyền cai trị của hai nhà nước này.]

Trung Quốc thời Minh mạtSửa đổi

...

Trung Quốc thời nhà ThanhSửa đổi

[Thanh đưa Quảng Châu loan đến Pháp]

Việt Nam thời nhà MạcSửa đổi

Sau khi lên ngôi được một năm, vào năm 1528, Mạc Đăng Dung sai người sang Yên Kinh báo với Nhà Minh với nội dung là con cháu họ Lê không còn ai thừa tự nữa, dặn cho đại thần họ Mạc tạm trông coi việc nước, cai trị dân chúng. Vua Minh không tin, sai người dò la tin tức, ngầm lập con cháu họ Lê lên. Mạc Đăng Dung sai người trả lời bằng lời lẽ văn hoa, đem nhiều vàng bạc đút lót. Đến khi sứ giả Nhà Minh về, mật tâu với vua Minh là con cháu Nhà Lê đã hết, đã ủy thác cho họ Mạc, người trong nước đều theo phục cả. Vua Minh mắng sứ giả, Đăng Dung sợ vua Minh hỏi tội liền lập mưu cắt đất dâng nhân dân hai châu Quy, Thuận và hai tượng người bằng vàng, bạc cùng châu báu vật lạ. Vua Minh nhận, từ đó Bắc Nam thông hiếu đi lại.[1]

Năm 1529, bề tôi cũ của triều Lê là Trịnh Ngung, Trịnh Ngang sang Nhà Minh tố cáo với Nhà Minh việc họ Mạc. Mạc Đăng Dung đem nhiều vàng bạc đút lót để phá; việc không thành, hai anh em chết ở Trung Quốc. Năm 1533, An Thành hầu Nguyễn Kim lập vua Lê Trang TôngAi Lao, sai Trịnh Duy Liêu vượt biển sang Nhà Minh, Duy Liêu tâu rằng, Mạc Đăng Dung tiếm loạn, chiếm kinh thành ngăn trở đường đi nên từ lâu bỏ việc cống. Vua Minh hay tin, bèn sai Hàm Ninh hầu Cừu Loan làm Tổng đốc quân vụ, Binh bộ Thượng thư Mao Bá Ôn làm Tham tán quân vụ đem quân sang đóng gần cửa Nam Quan rồi truyền hịch đi mọi nơi, hễ ai bắt được cha con Mạc Đăng Dung thì thưởng cho quan tước và hai vạn bạc. Lại sai người đưa thư sang cho Mạc Đăng Dung bảo phải đưa sổ ruộng đất nhân dân sang nộp và chịu tội, thì được tha cho khỏi chết. Năm 1536, Nguyễn Kim lại sai Trịnh Viên sang Nhà Minh tâu trình. Năm 1538, triều Mạc sai Nguyễn Văn Thái sang Nhà Minh dâng biểu xin hàng và xin được phân xử.[2][3]

Theo học giả Đào Duy Anh chép trong sách địa lý Đất nước Việt Nam qua các đời: Châu Vĩnh An - chép rằng Lý Thái Tổ đổi trấn Triều Dương làm châu Vĩnh An; châu Vĩnh An đời Lê Thánh Tông có trấn Ngọc Sơn. Chúng ta biết rằng sử chép Mạc Đăng Dung nộp sáu động thuộc châu Vĩnh An, trấn Yên Bang cho Nhà Minh. Có lẽ châu Vĩnh An đời Hồng Đức còn gồm cả miền đông huyện Móng Cái và một dải đất ở phía bắc tương đương với 6 động Mạc Đăng Dung cắt cho Nhà Minh và đến thời Lê Trung hưng thì châu Vĩnh An có lẽ vì việc cắt đất của Nhà Mạc đã bị thu hẹp lại chỉ còn dải đất phía đông huyện Móng Cái, từ địa giới Đông Hưng của Trung Quốc đến Mũi Ngọc và các đảo ở phía tây nam.[4]

Các bộ chính sử thời phong kiến của Việt Nam do các triều đại đối địch với Nhà Mạc biên soạn như Toàn thư (do nhà Lê-Trịnh sai biên soạn bổ sung ở thế kỷ XVII), Cương mục (do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn ở thế kỷ XIX) đều viết về hai sự kiện Mạc Đăng Dung cắt đất cho Nhà Minh. Theo Đại Việt sử ký toàn thư: “Năm 1528, cắt đất dâng nhân dân hai châu Quy, Thuận và hai tượng người bằng vàng và bạc cùng châu báu, của lạ, vật lạ. Vua Minh thu nhận”. Trong Cương mục cũng đặt vấn đề nghi ngờ về sự việc năm 1528Toàn thư đã chép. Các sử gia ngày nay xác định rõ rằng hai châu Quy Hóa và Thuận An đã mất sang tay Nhà Tống từ thời Nhà Lý, do hai thủ lĩnh Nùng Trí Hội và Nùng Trí Cao nộp cho Tống.[5]

Trong sách Phương Đình Dư Địa chí, học giả Nguyễn Văn Siêu đầu thời Nguyễn ở thế kỷ XIX, sau khi khảo cứu các sách địa lý Trung QuốcViệt Nam, đã kết luận: “Mấy động Như Tích thuộc châu Vĩnh An mới có từ niên hiệu Thuận Thiên. Nhà Mạc trả lại cho Nhà Minh đất cũ đã lấn, không phải là cắt đất để đút lót vậy".[6]

Trong số những nhà nghiên cứu lịch sử hiện đại, học giả nổi tiếng cả về Cựu học và Tân học Trần Trọng Kim có lẽ là người chỉ trích Mạc Đăng Dung kịch liệt hơn cả:[7]

Mạc Đăng Dung đã làm tôi Nhà Lê mà lại giết vua để cướp ngôi, ấy là người nghịch thần, đã làm chủ một nước mà không giữ lấy bờ cõi, lại đem cắt đất mà dâng cho người, ấy là một người phản quốc. Làm ông vua mà không giữ cái danh giá cho trọn vẹn, đến nỗi phải cửi trần ra trói mình lại, đi đến quỳ lậy trước cửa một người tướng của quân nghịch để cầu lấy cái phú quý cho một thân mình và một nhà mình, ấy là một người không biết liêm sỉ. Đối với vua là nghịch thần, đối với nước là phản quốc, đối với cách ăn ở của loài người là không có nhân phẩm; một người như thế ai mà kính phục? Cho nên dẫu có lấy được giang sơn Nhà Lê, dẫu có mượn được thế Nhà Minh bênh vực mặc lòng, một cơ nghiệp dựng nên bởi sự gian ác hèn hạ như thế thì không bao giờ bền chặt được. Cũng vì cớ ấy mà con cháu họ Lê lại trung hưng lên được...

Việt Nam thời nhà NguyễnSửa đổi

Chiến dịch Nam Kỳ là chiến dịch Pháp giành quyền bảo hộ toàn bộ miền Nam Kỳ, nhà Nguyễn bắt đầu từ năm 1858 Pháp phát động cuộc chiến tranh đầu tiên tại bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng đến ngày 5 tháng 6 năm 1862, nhà Nguyễn cắt đất cầu hòa ký hiệp ước với Pháp về việc công nhận nền bảo hộ của Pháp tại Nam Kỳ và không tiếp tục xâm phạm lãnh thổ nhà Nguyễn tại Trung Kỳ và Bắc Kỳ tại Hòa ước Nhâm Tuất (1862). Nhưng không lâu sau đó, Pháp trở mặt, lịch sử chuyển sang giai đoạn mới không còn trong Nam Kỳ.

Vua quan Tự Đức khiếp nhược, cho rằng đem quân đội đánh Pháp thì không có cơ hội thắng,. Nhưng mặt khác họ lại chủ quan, cho rằng nước Pháp ở xa quá nên không thể chiếm trọn nước Việt, họ nghĩ rằng chỉ cần cắt đất một số nơi để Pháp lập hải cảng và truyền đạo, bồi thường chiến phí cho Pháp thì họ sẽ rút quân. Thế là chính sách của nhà Nguyễn đi vào sự khiếp nhược: chỉ lo cắt đất cầu hòa với Pháp, khi có thời cơ cũng không dám chủ động tiến công địch. Quân dân một số nơi tự tổ chức kháng chiến, thu được thắng lợi ban đầu nhưng triều đình lại mặc kệ, không chi viện cũng không khen thưởng, nên sau đó cũng dần thất bại.[8]

Champa cắt đất đến Đại ViệtSửa đổi

[Champa thường xuyên cắt đất chuyển đến Đại Việt]

Khu Túc

Xiêm La cắt đất cầu hòaSửa đổi

[Vào thế kỷ 19, nhà nước Xiêm La đã cắt rất nhiều lãnh thổ đưa đến chủ quyền của Pháp và Anh]

Nga Xô viết cắt đất cầu hòaSửa đổi

[Năm 1917, Nga ký hòa ước cắt đất cho Đức để bồi thường và ra khỏi cuộc chiến tranh thế giới]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội, tập 3, tr. 112.
  2. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội, tập 3, tr. 120.
  3. ^ Việt Nam sử lược, Chương II, Nam triều Bắc triều, bản điện tử, tr. 114.
  4. ^ Đất nước Việt Nam qua các đời, Nhà Xuất bản Nhã Nam 2016, trang 221, Trấn Yên Bang.
  5. ^ Nhiều tác giả, sách đã dẫn, tr. 34.
  6. ^ Viện Sử học (2007), sách đã dẫn, tr. 448-449.
  7. ^ Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Bộ Giáo dục - Trung tâm học liệu xuất bản, tr. 229.
  8. ^ http://tuanbaovannghetphcm.vn/luan-ve-nhung-nguyen-nhan-viet-nam-mat-nuoc-ve-tay-phap/