Simona Halep
Halep US16 (52) (29236639483).jpg
Halep at the 2016 US Open
Quốc tịch România
Nơi cư trúConstanța, Romania
Sinh27 tháng 9, 1991 (28 tuổi)[1]
Constanța, Romania
Chiều cao1,68 m (5 ft 6 in)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ][1]
Lên chuyên nghiệp2006[2]
Tay thuậnRight-handed (two-handed backhand)
Huấn luyện viên
Tiền thưởng15.460.788 US$ (As of November 07, 2016)[3]
  • 21st in all-time rankings
Đánh đơn
Thắng/Thua360–170 (67.92%)
Số danh hiệu14 WTA, 6 ITF
Thứ hạng cao nhấtNo. 2 (11 August 2014)
Thứ hạng hiện tạiNo. 8 (8 May 2017)
Thành tích đánh đơn Gland Slam
Úc Mở rộngQF (2014, 2015)
Pháp mở rộngF (2014)
WimbledonSF (2014)
Mỹ Mở rộngSF (2015)
Các giải khác
WTA FinalsF (2014)
Thế vận hội1R (2012)
Đánh đôi
Thắng/Thua48–51 (48.48%)
Số danh hiệu0 WTA, 4 ITF
Thứ hạng cao nhấtNo. 125 (1 August 2016)
Thứ hạng hiện tạiNo. 133 (17 April 2017)
Thành tích đánh đôi Gland Slam
Úc Mở rộng1R (2011, 2012, 2013, 2014)
Pháp Mở rộng2R (2012)
Wimbledon1R (2011, 2012, 2013, 2015)
Mỹ Mở rộng2R (2011)
Đôi nam nữ
Số danh hiệu0
Kết quả đôi nam nữ Grand Slam
Mỹ Mở rộngQF (2015)
Giải đồng đội
Fed Cup12–6 (66.67%)
Cập nhật lần cuối: 26 March 2016.

Simona Halep (phát âm tiếng România: [siˈmona haˈlep];[4] born 27 September 1991) is a Romanian professional tennis player. Halep first broke into the world's top 50 at the end of 2012, and reached the top 20 in August 2013 and finally the top 10 in January 2014. She won her first 6 WTA titles in the same calendar year in 2013 (a feat that was last achieved by Steffi Graf in 1986 when she won her first 7), being named the WTA's Most Improved Player at its end, as well as being named ESPN Center Court's 2013 Most Improved Player.[5] Halep reached the 2014 French Open final, her first Grand Slam final, where she played against Maria Sharapova, losing in three sets. She also reached the final of the WTA Finals the same year, losing to Serena Williams in straight sets after having defeated her earlier in the tournament.[6]

Halep has been the most clicked player on for two consecutive years (2014–2015), when she was awarded the WTA Most Popular Player of the Year prize.[7]

Sự nghiệpSửa đổi

2017Sửa đổi

Simona Halep bắt đầu mùa giải tại Shenzhen nơi cô ấy thua ở vòng hai trước Kateřina Siniaková.

Halep tham dự giải đâu tiếp theo Úc Mở rộng nơi cô ấy tuếp thu ở vòng một trước Shelby Rogers.

Giải đấu tiếp theo của Halep là 2017 St. Petersburg Ladies' Trophy. Simona là hạt giong số 1 giải, so she received a bye into the second round. In the second round, she won with 6-4, 7-6 against Ana Konjuh. She was forced to withdraw from her quarterfinal with the wildcard Natalia Vikhlyantseva after suffering an injury to her left knee.[8]

EndorsementsSửa đổi

Simona Halep's current clothing sponsor is Adidas, having previously had her apparel supplied by Lacoste and her shoes by Nike.[9] In November 2014 she also signed a deal with Vodafone Romania for 3 years.[10]

CoachesSửa đổi

Halep during a press conference at the 2014 Madrid Open 2014

She was coached from an early age by Ioan Stan, a local tennis coach in Constanța.[11]

In January 2014, Simona Halep hired Belgian coach Wim Fissette, former coach of Kim Clijsters and Sabine Lisicki.[12] At the end of the year, she chose to split with him[13] and hired Romanian coach Victor Ioniță, with Thomas Högstedt serving as a coaching consultant for the first three tournaments of the year.[14] In November 2015, Halep announced that Darren Cahill would be her full-time coach, starting in January 2016.[15] She is managed by Virginia Ruzici.[16] Her fitness coach is Teo Cercel.[17]

In the past, Halep has been coached by Adrian Marcu,[18] Andrei Mlendea and Firicel Tomai.[19]

Playing styleSửa đổi

Simona Halep has self-described her playing style as being "an aggressive baseliner"[20] and "she models her game on Justine Henin".[21] Henin herself said the following about Halep: "She has an intelligent game. There is a little something that reminds me of myself... it is offensive and aggressive."[22]

In 2010, before her breakthrough, New York Times columnist Michael Kimmelman described her as "a scrappy player from Romania, short but with potent ground strokes and a scrambler's talent."[23]

By 2014, Louisa Thomas of Grantland was writing with admiration that "it turns out that [Simona] is astonishingly fast. She started to think ahead during points [...] she has uncanny anticipation. She became even faster [...] her strokes became more simple: compact, beautiful, unreadable. [...] she learned to disrupt the opposition's rhythm and disguise her own. At her best, she does not play in patterns. She hits with surprising power. She covers the whole court. She hits balls with heavy power without making a sound. [...] Like Djokovic she has a talent for hitting winners from defensive positions. She is a defensive aggressor, an aggressive defender. She is becoming unclassifiable."[24] After Halep finished runner-up in her first Grand Slam final against powerful hitter Maria Sharapova in Roland Garros in 2014, Eleanor Crooks of The Independent wrote that Halep "has a lovely fluidity of movement and superb balance that enables her to comfortably trade with more powerful players".[25] Michael Beattie of also noticed that [Halep] "is free of the shrieks, tics and fist-pumps of her contemporaries."[26]

In terms of tennis strategy Halep is an aggressive counterpuncher. Her very fit body and athleticism provide her with very good all-court movement and she tends to make few errors; she also uses this agility to reach the ball earlier because of her wide back swings and sliding. At the same time she likes to control the rally and can hit very effective cross-court and down-the-line flat shots, generally producing winners.[27]

Grand Slam tournament finalsSửa đổi

Singles: 1 (0–1)Sửa đổi

Outcome Year Championship Surface Opponent Score
Runner-up 2014 French Open Clay   Maria Sharapova 4–6, 7–6(7–5), 4–6

Career statisticsSửa đổi

Chú giải
(VĐ) Vô địch giải; vào tới (CK) chung kết, (BK) bán kết, (TK) tứ kết; (V#) các vòng 4, 3, 2, 1; thi đấu (RR) vòng bảng; vào tới vòng loại (Q#) vòng loại chính, 2, 1; (A) không tham dự giải; thi đấu tại (Z#) Nhóm khu vực (chỉ ra số nhóm) hoặc (PO) play-off Davis/Fed Cup; giành huy chương (G) vàng, (F-S) bạc hay (SF-B) đồng tại Olympic; Một giải (NMS) Masters Series/1000 bị giáng cấp; hoặc (NH) giải không tổ chức. SR=tỉ lệ vô địch (số chức vô địch/số giải đấu)
Để tránh nhầm lẫn hoặc tính thừa, bảng biểu cần được cập nhật khi giải đấu kết thúc hoặc vận động viên đã kết thúc quá trình thi đấu tại giải.

Grand Slam singles performance timelineSửa đổi

Tournament 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 SR W–L Win %
Grand Slam tournaments
Australian Open Q1 3R 1R 1R QF QF 1R 1R 0 / 7 10–7 58.82%
French Open 1R 2R 1R 1R F 2R 4R 0 / 7 11–7 57.14%
Wimbledon Q1 2R 1R 2R SF 1R QF 0 / 6 11–6 64.71%
US Open 1R 2R 2R 4R 3R SF QF 0 / 6 16–7 69.57%
Win–Loss 0–2 5–4 1–4 4–4 17–4 10–4 11–4 0–1 0 / 27 48–27 64%

Doubles performance timelineSửa đổi

Tournament 2011 2012 2013 2014 2015 SR W–L Win %
Grand Slam tournaments
Australian Open 1R 1R 1R 1R A 0 / 4 0–4 0%
French Open 1R 2R 1R A A 0 / 3 1–2 33.33%
Wimbledon 1R 1R 1R A 1R 0 / 4 0–4 0%
US Open 2R 1R 1R A A 0 / 3 1–3 25%
Win–Loss 1–4 1–3 0–4 0–1 0–1 0 / 14 2–13 13.33%

MixedSửa đổi

Tournament 2015 SR W–L Win%
Australian Open A 0 / 0 0–0 0%
French Open A 0 / 0 0–0 0%
Wimbledon A 0 / 0 0–0 0%
US Open QF 0 / 1 2–0 100%
Win–Loss 2–0 0–0 0 / 1 2–0 100%

See alsoSửa đổi

ReferencesSửa đổi

  1. ^ a ă “WTA Tennis English”. WTA Tennis. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2014. 
  2. ^ “Simona Halep”. 
  3. ^ “Career Prize Money Leaders” (PDF). WTA. 29 tháng 8 năm 2016. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2016. 
  4. ^ “Simona a explicat cum se pronunta corect numele ei de familie” [Simona has explained how her last name is spoken out correctly] (bằng tiếng Romanian). Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2016. 
  5. ^ “Center Court: Women's 2013 Awards”. ESPN. 18 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 12 năm 2013. 
  6. ^ “Serena Williams Punishes Simona Halep for Earlier Defeat at WTA Finals”. 26 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014. 
  7. ^ “THE TOP 10 MOST POPULAR PLAYERS OF 2015”. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2015. 
  8. ^ “Simoa Halep withdraws from St. Petersburg event with knee injury”. ESPN. 4 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2017. 
  9. ^ Simona Halep joins the adidas family, Adidas official website, 7 May 2014
  10. ^ Simona Halep a semnat pe 300.000 de euro anual cu Vodafone
  11. ^ Newman, Paul (28 tháng 5 năm 2014). “Simona Halep enjoys rapid rise up the rankings”. The Independent (London). ISSN 0951-9467. OCLC 185201487. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2014. 
  12. ^ “Wim Fissette: "Simona Halep este una dintre cele mai destepte jucatoare din circuitul WTA". Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2014. 
  13. ^ “Simona Halep opens up about split from coach Wim Fissette”. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2015. 
  14. ^ “Halep hires new coach, Thomas Hogstedt to serve as consultant”. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2015. 
  15. ^ “Halep & Cahill Make It Official For 2016”. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2015. 
  16. ^ “WTA Players”. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2013. 
  17. ^ “Simona Halep a dezvăluit pentru ProSport secretul ascensiunii: "Sunt mai agresivă" (bằng tiếng Romanian). Prosport. 17 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2014. 
  18. ^ “Halep to make coaching change after career year”. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2014. 
  19. ^ “Interviu cu antrenorul alături de care Halep a câștigat trei trofee în cinci săptămâni: "Reverul și serviciul o pot duce în TOP 20!" (bằng tiếng Romanian). 26 tháng 7 năm 2013. 
  20. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Getting2Know
  21. ^
  22. ^ Tandon, Kamakshi (11 tháng 6 năm 2014). “Henin willing to look at coaching after having another child”. TENNIS magazine. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2014. 
  23. ^ Michael Kimmelman (31 tháng 8 năm 2010). “Jankovic Over Halep: A Cacophony of Errors”. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2010. 
  24. ^ Louisa Thomas (29 tháng 5 năm 2014). “Match Striker: The Increasingly Unclassifiable, Increasingly Unstoppable Simona Halep”. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2014. 
  25. ^ Eleanor Crooks (7 tháng 6 năm 2014). “Maria Sharapova edges out Simona Halep in titanic battle to land French Open title”. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2014. 
  26. ^ Michael Beattie (24 tháng 6 năm 2014). “Simona Halep Justifying All The Hype”. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2014. 
  27. ^ “US Open Player to Watch: Simona Halep”. 5 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2014. 

External linksSửa đổi

Giải thưởng
Tiền nhiệm:
  Sara Errani
WTA Most Improved Player
Kế nhiệm:
  Eugenie Bouchard
Tiền nhiệm:
  Serena Williams Most Popular Player of the Year
Kế nhiệm:
  Angelique Kerber
Tiền nhiệm:
  Caroline Wozniacki
WTA Diamond Aces
Kế nhiệm:

Bản mẫu:French Open girls’ singles champions

Bản mẫu:Top ten European female tennis players Bản mẫu:Top Romanian female tennis players Bản mẫu:Top Romanian female tennis players (doubles)