Thành viên:Vokaanhduy/Nháp-Tỷ lệ mật độ năng lượng

Tỷ lệ mật độ năng lượng là lượng năng lượng tự do trên mỗi đơn vị thời gian trên một đơn vị khối lượng (tính theo đơn vị số liệu CGS erg/s/g; tính theo đơn vị MKS jun/s/kg). Nó là thuật ngữ (nhưng không phải luôn luôn bằng số) tương đương với mật độ năng lượng khi được đo bằng đơn vị SI là W/kg. Bất kể đơn vị nào được sử dụng, tỷ lệ mật độ năng lượng mô tả dòng năng lượng thông qua bất kỳ hệ thống khối lượng nhất định nào, và đã được đề xuất như một thước đo độ phức tạp của hệ thống. Hệ thống càng phức tạp, năng lượng chảy mỗi giây càng nhiều qua mỗi gram.[1][2]

Tỷ lệ mật độ tnăng lượng cho một phổ rộng các hệ thống được vẽ so với số tỷ năm trước chúng lần đầu tiên xuất hiện. Sự gia tăng trong suốt 14 tỷ năm được quan sát, ngụ ý sự phức tạp gia tăng trong suốt thời gian lịch sử.[2]

Tỷ lệ mật độ năng lượng thực sự là một thuật ngữ chung tương đương với các thuật ngữ chuyên ngành hơn được sử dụng bởi nhiều nhà khoa học kỷ luật khác nhau. Ví dụ, trong thiên văn học, nó được gọi là tỷ lệ độ chói trên khối lượng (tỷ lệ nghịch với tỷ lệ độ chói khối lượng), trong vật lý, mật độ năng lượng, trong địa chất là thông lượng bức xạ cụ thể (trong đó, cụ thể là biểu thị cho mỗi đơn vị khối lượng) sinh học tỷ lệ trao đổi chất cụ thể, và trong kỹ thuật tỷ lệ công suất trên trọng lượng. Các nhà nghiên cứu liên ngành thích sử dụng thuật ngữ chung, tỷ lệ mật độ năng lượng, không chỉ nhấn mạnh khái niệm trực quan về dòng năng lượng (trái ngược với ý nghĩa thông tục hơn của từ "sức mạnh"), mà còn để thống nhất ứng dụng tiềm năng của nó trong tất cả các ngành khoa học tự nhiên,[3] như trong vũ trụ học của sự tiến hóa vũ trụ.[4] Khi tỷ lệ mật độ năng lượng cho các hệ thống bao gồm thiên hà, mặt trời, trái đất, thực vật, động vật, xã hội của chúng ta được vẽ theo thời điểm, trong thời gian lịch sử, chúng lần đầu tiên xuất hiện, mật độ tốc độ năng lượng tăng rõ rệt theo thời gian.[2]

Thuật ngữ này trong những năm gần đây đã có được nhiều ứng dụng đa dạng trong các ngành khác nhau, bao gồm lịch sử,[5] vũ trụ học,[6] kinh tế học,[7] triết học,[8] và sinh học hành vi.[9]

Xem thêmSửa đổi

  • Eric Chaisson

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Chaisson, E. J. (2011). “Energy Rate Density as a Complexity Metric and Evolutionary Driver” (PDF). Complexity 16 (3): 27–40. Bibcode:2011Cmplx..16c..27C. doi:10.1002/cplx.20323.  Đã bỏ qua tham số không rõ |citeseerx= (trợ giúp)
  2. ^ a ă â "The Natural Science Underlying Big History," The Scientific World Journal, v 2014, 41 pgs, 2014; doi:10.1155/2014/384912
  3. ^ "Using Complexity Science to Search for Unity in the Natural Sciences," In Complexity and the Arrow of Time, Lineweaver, Davies and Ruse (eds.), Cambridge Univ. Press, 2013; doi:10.1017/CBO9781139225700.006
  4. ^ Chaisson, Eric (1 tháng 1 năm 1987). “The life ERA: cosmic selection and conscious evolution”. Faculty Publications. 
  5. ^ Big History and the Future of Humanity, Spier, F., Wiley-Blackwell, New York, 2010.
  6. ^ The Beginning and the End, Vidal, C., Springer, Heidelberg, 2014.
  7. ^ The Nature of Value, Gogerty, N., Columbia Univ. Press, New York, 2014.
  8. ^ The Metaphysics of Technology, Skrbina, D., Routledge, New York, 2015.
  9. ^ Evolution and the Emergent Self, Neubauer, R., Columbia Univ. Press, New York, 2012.