Mở trình đơn chính

Nhiếp chính

Tập thể hay cá nhân thay thế quân chủ điều hành chính sự khi quân chủ không có khả năng.
(đổi hướng từ Thùy liêm thính chính)

Nhiếp chính (chữ Hán: 攝政), còn gọi là nhiếp chánh, tiếng Anh gọi là Regent, là một hình thức chính trị của thời kỳ quân chủ chuyên chế hoặc quân chủ lập hiến trong lịch sử của nhiều quốc gia từ châu Âu đến Đông Á.

Nhiếp chính có thể là một dạng hội đồng hoặc một cá nhân, được hình thành khi một vị quân chủ không có khả năng trị vì, xử lý và điều hành nền quân chủ, thì một người, cơ quan khác sẽ thay vị quân chủ đó quản lý và giải quyết.

Quy tắcSửa đổi

Giám quốc và Phụ chính đại thầnSửa đổi

Nhiếp chính thường xuất hiện trong trường hợp vị quân chủ vắng mặt, bị mắc bệnh tật hoặc thông thường là còn nhỏ tuổi để có thể tự cai trị.

Khi đó, một "Hội đồng nhiếp chính" gồm các quan chức cấp cao nhất sẽ thay vị quân chủ ấy giải quyết chính sự. Đứng đầu cơ quan này, thông thường sẽ là Thái tử, lúc đó sẽ xưng [Giám quốc; 監國]. Nếu là một cá nhân khác có toàn quyền xử lý chính sự, tức sẽ gọi là [Nhiếp chính; 摄政] hay [Bỉnh chính; 秉政]. Còn như một đại bộ phận giúp xử lý chính sự, nhưng không mang quyền độc đoán, tất sẽ gọi là [Phụ chính; 辅政]. Triều đại nhà Thanh, Duệ Thân vương Đa Nhĩ Cổn cùng Trịnh Thân vương Tế Nhĩ Cáp Lãng đều là 2 vị Thân vương giúp Thuận Trị Đế xử lý triều chính khi còn quá nhỏ, nhưng Đa Nhĩ Cổn thụ phong Thúc phụ Nhiếp Chính vương (叔父攝政王), Tế Nhĩ Cáp Lãng là Tín Nghĩa Phụ Chính Thúc vương (信義輔政叔王)[1], cho thấy rõ sự khác biệt giữa ["Phụ chính"] cùng ["Nhiếp chính"], dù cả hai vị trí này căn bản đều giúp Hoàng đế xử lý chính sự. Thời kỳ nhà Nguyễn, các hàng tông thân quốc thích thường sẽ được chỉ định làm người phụ chính, được gọi là Phụ chính Thân thần (辅政親臣), còn những đại thần có quyền hành thì đều gọi chung là Phụ chính đại thần (辅政大臣).

Tại Nhật Bản cổ đại, các quan nhiếp chính gọi là Quan bạch (關白). Từ năm 858, thời Thiên hoàng Seiwa do ngoại tổ phụ Fujiwara no Yoshifusa nhiếp chính, thì chức quan nhiếp chính Nhật Bản do dòng họ Hokke (藤原北家; Đằng Nguyên Bắc Gia) chiếm hữu, mãi đến tận thời Minh Trị.

Triều Tiên, các Quốc vương thường kế vị ở độ tuổi trưởng thành, nên nền nhiếp chính ở Triều Tiên thường không có lịch sử lâu đời. Tuy nhiên chế độ nhiếp chính cũng xuất hiện khi Quốc vương còn nhỏ tuổi, như thời Triều Tiên Cao Tông, cha ông là Hưng Tuyên Đại Viện Quân trở thành người nhiếp chính, người nắm quyền lực thực tế trong một thời gian dài.

Thái hậu tham chínhSửa đổi

Lâm triều xưng chếSửa đổi

Tuy vậy, một hiện tượng tuy không chính thức nhưng là luật bất thành văn và xảy ra rất thường xuyên, là người mẹ (hoặc bà nội) của vị quân chủ ấy thường sẽ tham dự hội đồng nhiếp chính và có khả năng đứng đầu hội đồng nhiếp chính trong khi Hoàng đế còn quá nhỏ tuổi. Hiện tượng mẹ của quân chủ nhiếp chính bắt đầu từ khi Tuyên Thái hậu Mị Bát Tử, sinh mẫu của Tần Chiêu Tương vương, người được tôn làm Thái hậu và tham gia triều chính, mở đầu hiện tượng Thái hậu chuyên quyền trong suốt chiều dài lịch sử các quốc gia Đông Á.

Sách Hậu Hán thư có bình rằng:

Sang thời nhà Hán, Lữ Thái hậu nhân lúc Hán Huệ Đế bạo bệnh băng hà, Hoàng đế Lưu Cung còn nhỏ mà tự mình chính thức lâm triều, ra chiếu chỉ tự xưng mình là 「Chế; 制」, mở đầu cho một hiện tượng mà các sử gia gọi là 「Lâm triều xưng chế; 临朝称制」 của các vị Hoàng thái hậu. Vào thời điểm đó, các Thái hậu có thể lên triều nghị chính một cách công khai như các vị Hoàng đế quân chủ.

Vốn dĩ, "Lâm triều" ý là xử lý quốc chính, tương đương Thiên tử lâm triều, còn "xưng chế" là tiến hành quyền quản lý quốc chính như Thiên tử. Trong Hậu Hán thư, cuốn thứ 3 - "Túc Tông Hiếu Chương hoàng đế bản kỷ", có ghi lại rằng:「"Đế thân xưng chế lâm quyết, như Hiếu Tuyên Cam Lộ Thạch Cừ cố sự, tác Bạch Hổ nghị tấu"; 帝親稱制臨決,如孝宣甘露石渠故事,作白虎議奏。」. Như vậy, "Lâm triều" tức là đăng vị giải quyết quốc sự, mang tính trọng đại, mà hậu phi cung tần vốn dĩ không có quyền tham chính, nếu như có quyền đó thì tức là "xưng chế", hàm ý hành xử đều tương đương quyền lực của Hoàng đế.

Thùy liêm thính chínhSửa đổi

Đến thời của Võ Tắc Thiên, bà ngồi sau một bức mành (Hán ngữ viết "Liêm tử"; 帘子) để nghe triều thần nghị luận việc nước sau lưng Đường Cao Tông. Vào lúc này, việc Hậu phi tham chính được khai sinh ra một cách diễn đạt mới, gọi là 「Thùy liêm; 垂帘」, có nghĩa là "Buông rèm", cho phép Hoàng hậu có thể ở sau Hoàng đế mà dự thính cùng thảo luận chính sự.

Điều này có ghi trong Cựu Đường thư:

Sang thời nhà Tống, đời Tống Nhân Tông, có Chương Hiến Lưu Thái hậu từng được di chiếu 「Quyền thủ phân Quân quốc sự; 權處分軍國事」, đứng đầu nhóm người được quyền quản lý chính sự. Vào lúc ấy, việc nhiếp chính này của Lưu Thái hậu tiến hành Thùy liêm ở Thừa Minh điện (承明殿), Hoàng đế ở bên Tả, Thái hậu ở bên Hữu, vẫn dùng việc [Thùy liêm] để giải quyết sự vụ[2][3]. Sang thời Tống Anh Tông, trong thời gian cai trị đầu tiên thì ông từng liên tiếp bạo bệnh, khi ấy Từ Thánh hậu từng ở sau mành mà nhiếp chính quốc gia trọng sự, đây là lúc chính thức ghi nhận việc Thái hậu tham chính bằng cách buông rèm là 「Thùy liêm thính chánh; 垂帘听政」.

Việc này được sách Đông đô sự lược (東都事略) chép rất rõ:

Từ đó, các đời Hoàng thái hậu hoặc Hoàng hậu, nữ quyến nhiếp chính đều ngồi sau bức mành nghe việc, làm cho cụm từ "Thùy liêm thính chánh" từ đó ám chỉ việc phụ nữ tham dự triều chính. Theo quy chế thời nhà Tống, nghi thức của Thái hậu nhiếp chính đều tương tự Hoàng đế[4], Thái hậu hạ thánh chỉ thì tự xưng là 「; 予」, trên triều đường thì tự xưng 「Ngô; 吾」, mà không thể tự xưng từ chỉ chuyên dùng cho Hoàng đế là 「Trẫm; 朕」.

Nho gia Tuân Tử, đem nữ chủ, trá thần, tham lại xưng là 「Tam loạn; 三亂」[5], do đó ảnh hưởng đến cách nhìn nhận về sau của việc nữ chủ tham gia chính sự, điển hình là từ thời Nam Tống, đã lấy Tân Nho học của Chu Hi vốn chịu ảnh hưởng từ lý thuyết của Tuân Tử để phán ánh gay gắt việc nữ chủ lâm triều và độc bá triều cương. Các triều đại về sau dần hạn chế việc cho phép Thái hậu tham gia chính sự, khi các Hoàng đế còn nhỏ thì các hội đồng nhiếp chính lập ra đều có Thân vương và quan đại thần đứng đầu phụ chính, điển hình như chế độ của nhà Minh. Trường hợp cũng có chấp nhận Hoàng thái hậu nhiếp chính thì đều có các quan đại thần bên cạnh phò trợ, không để Thái hậu một mình độc bá triều cương cũng xảy ra ở Việt Nam, như Đại Thắng Minh hoàng hậu thời nhà Đinh có Phó vương Lê Hoàn, Linh Nhân Thái hậu thời Lý có Lý Thường KiệtLý Đạo Thành, hoặc như Tuyên Từ Thái hậu thời Lê có Nguyễn XíTrịnh Khả vậy.

Việc nhiếp chính là một hiện tượng tạm thời do vị quân chủ vắng mặt, hoặc vì lý do chính trị mà quốc gia không có quân chủ, vì vậy đều chỉ duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. Đến khi vị quân chủ đủ tuổi, đủ khả năng hoặc có vị quân chủ mới lên ngôi, thì thời kỳ nhiếp chính sẽ kết thúc. Thông thường thời gian nhiếp chính là khoảng 8 năm, hoặc trong phạm vi hơn 10 năm. Tuy nhiên, những nhiếp chính có thế lực lớn đều có thời gian nhiếp chính vượt qua con số này khá nhiều, điển hình như Từ Hi Thái hậu.

Bên cạnh đó, có một số thuật ngữ khác chỉ việc nữ chủ tham dự. Theo lệ thông thường, "Thùy liêm thính chính" hoặc "Lâm triều thính chính" chỉ dành cho các Hoàng thái hậuThái hoàng thái hậu mà không phải Hoàng hậu. Nếu gián tiếp tham dự thì chỉ có thể gọi là 「Vu chính; 干政」 hoặc 「Dự chính; 預政」. Việc Hoàng hậu tham dự chính sự, tương đồng với Thái tử thực hiện "Giám quốc", vì Hoàng đế trực tiếp điều hành quốc chính vẫn còn tại vị, do đó nếu Hoàng hậu trực tiếp tham dự triều chính thì chỉ xưng là 「Thiện quyền chuyên chính; 擅權專政」 hoặc 「Thính chính đại chính; 聽政代政」, còn nếu chỉ gián tiếp thì lại dùng các từ "Vu chính" hoặc 「Gián chính; 諫正」[6].

Tại Triều Tiên, cũng từng xuất hiện những thời kỳ mà các Vương đại phi hoặc Đại vương đại phi thực hiện "Thùy liêm thính chính" thay mặt Quốc vương còn nhỏ tuổi quản lý triều chính. Chẳng hạn trường hợp Trinh Thuần Vương hậu Kim thị nhiếp chính cho tằng tôn của mình (theo vai vế trong vương thất chứ không cần có quan hệ huyết thống) là Triều Tiên Thuần Tổ.

Nhân vật nổi bậtSửa đổi

Trung QuốcSửa đổi

 
Từ Hi Thái hậu - một biểu tượng của cụm từ Thùy liêm thính chính tại Trung Quốc.

Việt NamSửa đổi

 
Phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết - một biểu tượng quan nhiếp chính của Việt Nam thời nhà Nguyễn.

Nhật BảnSửa đổi

 
Thánh Đức Thái tử - biểu tượng nhiếp chính trong lịch sử Nhật Bản.

Triều TiênSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Thanh sử cảo quyển 4: 加封和碩睿親王多爾袞為叔父攝政王。乙丑,以雷興為天津巡撫。丁卯,加封和碩鄭親王濟爾哈朗為信義輔政叔王
  2. ^ 宋史/卷009: 乾興元年二月戊午,真宗崩,遺詔太子即皇帝位,尊皇后為皇太后,權處分軍國事。
  3. ^ 宋史/卷242: 真宗崩,遺詔尊后為皇太后,軍國重事,權取處分。謂等請太后御別殿,太后遣張景宗、雷允恭諭曰:「皇帝視事,當朝夕在側,何須別御一殿?」於是請帝與太后五日一御承明殿,帝位左,太后位右,垂簾決事。
  4. ^ 《宋史紀事本末》第24卷: 仁宗天聖元年五月庚寅,議皇太后儀衛,制同乘輿。
  5. ^ 《荀子‧強國》篇謂:「……女主亂之宮,詐臣亂之朝,貪吏亂之官。」
  6. ^ 以上部分參考杜芳琴,《中國歷代女主與女主政治略論》,頁35~37;鮑家麟,《中國婦女史論集四集》,臺北:稻鄉出版社,1977。
  7. ^ Tức từ năm 1127 - 1131, giai đoạn sau khi cha con Tống Huy TôngTống Khâm Tông bị người Kim bắt làm tù binh, Bắc Tống diệt vong