Mở trình đơn chính

Thanh Đông lăng (tiếng Trung: ; bính âm: Qīng Dōng líng; tiếng Mãn: ᡩᡝᡵᡤᡳ
ᡝᡵᡤᡳ
ᠮᡠᠩᡤᠠᠨ
tiếng Mãn Châu:dergi ergi munggan) là một quần thể lăng mộ hoàng gia của triều đại nhà Thanh nằm ở Tuân Hóa, Đường Sơn, tỉnh Hà Bắc, cách 125 kilômét (78 mi) về phía đông bắc thủ đô Bắc Kinh, Trung Quốc. Đây là quần thể lăng mộ còn tồn tại lớn nhất, đầy đủ nhất và được bảo quản tốt nhất tại Trung Quốc.[1] Đây là nơi chôn cất của 5 vị hoàng đế là Thuận Trị, Khang Hi, Càn Long, Hàm Phong, Đồng Trị cùng 15 hoàng hậu, 136 phi tần, 3 hoàng tử và 2 công chúa triều đại nhà Thanh. Quần thể này được bao quanh bởi các dãy núi và trải dài trên khu vực có diện tích 80 kilômét vuông (31 sq mi).

Thanh Đông Lăng
Di sản thế giới UNESCO
Eastern Qing Tombs.jpg
Thanh Dụ lăng, lăng mộ của hoàng đế Càn Long
Vị tríTuân Hóa, Hà Bắc, Trung Quốc
Một phần củaLăng tẩm hoàng gia Minh-Thanh
Tiêu chuẩn(i)(ii)(iii)(iv)(vi)
Tham khảo1004ter-002
Công nhận2000 (Kỳ họp 24)
Mở rộng2003, 2004
Diện tích224 ha (550 mẫu Anh)
Vùng đệm7.800 ha (19.000 mẫu Anh)
Tọa độ40°11′09″B 117°38′49″Đ / 40,185783°B 117,646923°Đ / 40.185783; 117.646923Tọa độ: 40°11′09″B 117°38′49″Đ / 40,185783°B 117,646923°Đ / 40.185783; 117.646923
Thanh Đông lăng trên bản đồ Hà Bắc
Thanh Đông lăng
Vị trí của Thanh Đông lăng tại Hà Bắc

Mô tảSửa đổi

Trung tâm của Thanh Đông lăng là Thanh Hiếu lăng, lăng mộ của hoàng đế Thuận Trị (1638-1661), là vị hoàng đế nhà Thanh trị vì Trung Quốc đầu tiên. Ông cũng là người đầu tiên được chôn cất tại Thanh Đông lăng. Chôn cất cùng ông là Từ Hòa Hoàng thái hậu (thân mẫu của Khang Hi) và Đổng Ngạc phi. Những lăng mộ lớn nằm ở phía đông là Thanh Cảnh lăng (lăng mộ của Khang Hi) và Thanh Huệ lăng (lăng mộ của Đồng Trị). Về phía tây là Thanh Dụ lăng (lăng mộ của Càn Long), Thanh Định lăng (lăng mộ của Hàm Phong), Phổ Đà Dục Định Đông lăng (lăng mộ của Từ Hi Thái hậu).

Tất cả các lăng mộ hoàng gia tại Thanh Đông lăng đều được dựa theo mô hình được thiết lập bởi hoàng đế Thuận Trị. Bố cục cơ bản gồm 3 phần: Thần đạo (con đường thần linh), cung điện và nhà bếp. Thanh Hiếu lăng là lăng mộ có thần đạo phức tạp nhất với các cấu trúc từ nam ra bắc gồm cổng vòm đá, bia đá, cổng cung điện, sảnh thay đồ, vọng lâu đá, điêu khắc đá, cổng rồng phượng, cầu một vòm, cầu bảy vòm, cầu năm vòm, bia đá, cầu thẳng. Tại cung điện cũng chứa rất nhiều các cấu trúc gồm bia tưởng niệm, sảnh, cổng Long Ân, lò đốt lễ, Long Ân điện, phòng chôn cất, trụ cổng, bàn thờ đá, tháp tưởng niệm...Bếp nằm ở bên trái cung điện gồm có nơi nấu đồ cúng, hai kho và một lò giết mổ.

Thanh Cảnh lăng là lăng mộ của hoàng đế Khang Hi đơn giản một cách đáng ngạc nhiên khi ông được đánh giá là vị hoàng đế vĩ đại nhất của triều đại nhà Thanh nhưng lại phù hợp so với tính cách được biết về ông. Thần đạo dẫn đến ngôi mộ của ông đi qua một cây cầu năm vòm thanh nhã và hai bên là những tượng giám hộ.

Thanh Dụ lăng là lăng mộ của hoàng đế Càn Long là một trong những ngôi mộ lộng lẫy nhất trong số tất cả các lăng mộ hoàng gia ở Trung Quốc. Buồng lăng mộ rất đẹp với một loạt 9 hầm được ngăn cách bởi bốn cửa đá cẩm thạch ở độ sâu 54 mét (177 ft). Sau cách cổng đá đầu tiên, tại các bức tường và vòm trần nhà được phủ đầy những hình ảnh Phật giáo gồm 4 vị thiên đế, 8 vị bồ tát, 24 vị Phật, sư tử, bát bảo (8 bảo vật), nhiều dụng cụ nghi lễ cùng hơn 30.000 lời kinh điển Tây Tạng và tiếng Phạn. Hoàng đế Càn Long đã chọn vị trí lăng mộ của mình vào năm 1742 và việc xây dựng bắt đầu vào năm sau đó. Việc xây dựng được hoàn thành vào năm 1752, nhưng lăng được mở rộng hơn nữa trong những năm từ 1755 đến 1762. Trong thời gian này, quảng trường, tháp tưởng niệm, thành quách, cũng như hai sảnh bên được xây dựng.

Xây dựngSửa đổi

Kể từ năm 1663 an táng Thuận Trị, đến năm 1935 an táng Đôn Huệ Hoàng Quý phi, vị Hoàng Quý phi cuối cùng của Đồng Trị, qua 272 năm, Thanh Đông lăng là nơi yên nghỉ ngàn thu của 5 vị Hoàng đế:

  1. Thanh Hiếu lăng (孝陵); mộ của Thuận Trị.
  2. Thanh Cảnh lăng (景陵); mộ của Khang Hi.
  3. Thanh Dụ lăng (峪陵); mộ của Càn Long.
  4. Thanh Định lăng (定陵); mộ của Hàm Phong.
  5. Thanh Huệ lăng (惠陵); mộ của Đồng Trị.
  6. Định Đông lăng (定東陵) gồm:
Phổ Tường Dục Định Đông lăng (普祥峪定東陵); mộ của Từ An Thái hậu.
Phổ Đà Dục Định Đông lăng (菩陀峪定東陵); mộ của Từ Hi Thái hậu.


Kiến trúcSửa đổi

 
Bản đồ lăng mộ của các Hoàng đế.
 
Thanh Đông lăng năm 1900

Bên trong mộ của hoàng gia Nhà Thanh được xây cất như sau:

  • Mỗi lăng mộ đều có một trục đường chính đi vào, và được coi là con đường thiêng liêng. Đường này được xây dựng để phục vụ lễ tang của các vị hoàng đế. Các hoàng đế kế vị khi đến thực hiện nghi lễ tế tổ hàng năm cũng đều đi qua đây.[2]
  • Đường hầm dẫn vào những ngôi mộ của họ lát đá hoa trắng, xuyên qua bốn cái cổng được chạm trổ rất công phu bằng đá. Nơi để quan tài yên nghỉ của họ là một khuôn hình bát giác, trên vòm trần khắc chín con rồng bằng vàng lóng lánh. Khu vực yên nghỉ khá rộng, lớn bằng điện Trung Hoà trong Tử Cấm Thành. Càn Long được chôn trong hai lần quan tài. Quan tài bên trong và bên ngoài được làm bằng một loại gỗ đặc biệt quý. Những báu vật trong hai ngôi mộ này gồm rất nhiều ngọc ngà châu báu cực kỳ quý giá và đắt tiền, ngoài ra còn có những hoạ phẩm, kiếm báu, sách quý, ngà voi và các tượng Phật. Các đồ quý làm bằng lụa và gấm thì chỉ một thời gian là bị mục rã.

Tôn Điện Anh phá lăng tẩmSửa đổi

Trong suốt thời kỳ Nhà Thanh nắm quyền cai trị, Thanh Đông lăng luôn được thiết lập hệ thống quan binh đồn trú bảo vệ, có cơ cấu của Tôn nhân phủ, Lễ công bộ thường trực xử lý các công việc trong lăng tẩm. Nhưng từ năm 1914 sau khi Nhà Thanh sụp đổ, Bộ Nội vụ giao việc bảo quản lăng tẩm cho tôn thất Nhà Thanh quản lý, nhân viên giữ lăng không còn lương bổng nên bỏ việc, chuyển sang khai khẩn đất rừng quanh lăng làm sinh kế. Từ đó về sau, rừng và đất Đông lăng bị xâm hại ngày càng nghiêm trọng.[2]

Dưới thời kỳ Dân sơ, sau khi Đông lăng nằm trong sự quản lý của nhóm quân phiệt Bắc Dương thì những đền đài lộ thiên trong Đông lăng luôn bị trộm viếng, gỡ hết các chữ bằng đồng, biển sơn son thếp vàng… Năm 1927, lăng của Huệ phi (vợ vua Khang Hi, mẹ Dận Thì) bị đào trộm, đồ tuẫn táng bị lấy sạch còn thi thể bị lôi ra ngoài quan tài.[2]

Năm 1928, quân phiệt Tôn Điện Anh đã đem quân vào khu vực lăng tẩm Nhà Thanh ở Hà Bắc, quật mộ của Càn Long và Từ Hi Thái hậu, lấy đi rất nhiều báu vật tùy táng theo, trong đó có chiếc mũ phụng hoàng gắn trân châu của Từ Hi trên đó có viên ngọc trân châu cực lớn và thanh Cửu Long bảo kiếm của Càn Long.[3] Chỉ có lăng của Khang Hi là còn toàn vẹn, vì khi bẩy mở được cửa lăng thì một khối nước màu vàng khè từ bên trong tuôn tràn ra rất mạnh, quân sĩ sợ hãi quá phải bỏ chạy.

Tin các lăng tẩm của Càn Long và Từ Hi bị khai quật để lấy của đã gây chấn động và căm phẫn sâu sắc cho Phổ Nghi và các thành viên hoàng tộc, cựu thần Nhà Thanh.

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ UNESCO, Imperial Tombs of the Ming and Qing Dynasties - Nomination File, 2000, 2003, 2004
  2. ^ a ă â “Lăng mộ Từ Hy thái hậu đã bị "Tôn Ma tử" đào trộm như thế nào?”. Báo ANTG - CAND - Công an nhân dân. 1 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2017. 
  3. ^ “Bí ẩn kỳ lạ 3 lần nhập quan của Từ Hy”. Báo Người đưa tin. Ngày 28 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2017.