Thiên hoàng Reigen

Reigen (霊元 Reigen- tennō ?, 09 Tháng 7 năm 1654 - 24 tháng 9 năm 1732) là Thiên hoàng thứ 112[1] của Nhật Bản theo danh sách kế thừa truyền thống[2].

Linh Nguyên Thiên hoàng
Thiên hoàng Nhật Bản
Emperor Reigen.jpg
Thiên hoàng thứ 112 của Nhật Bản
Tại vị1663–1687
Tiền nhiệmThiên hoàng Go-Sai
Kế nhiệmThiên hoàng Higashiyama
Thông tin chung
Phối ngẫuTakatsukasa Fusako
Thân phụThiên hoàng Go-Mizunoo
Sinh(1654-07-09)9 tháng 7 năm 1654
Mất24 tháng 9 năm 1732(1732-09-24) (78 tuổi)
An tángNguyệt Luân Lăng, Kyoto

Triều Reigen kéo dài từ năm 1663 đến năm 1687[3].

Phả hệSửa đổi

Tên cá nhân của ông (imina) là Satohito (識仁 ?) và ông có danh hiệu trước khi lên ngôi là Ate-no-miya (高貴宮 ?).

Ông là con trai thứ 16 của Thiên hoàng Go-Mizunoo. Mẹ là Hoàng hậu Kuniko, con gái của đại thần Sonomotooto. Ông lập gia đình và có tới 27 con (cả trai lẫn gái)[4].

Lên ngôi Thiên hoàngSửa đổi

Năm 1654, ông được đặt làm người thừa kế ngay khi anh trai là Thiên hoàng Go-Kōmyō còn sống.

Ngày 5 tháng 3 năm 1663, Thiên hoàng Go-Sai thoái vị; ngay sau đó Thân vương Satohito chính thức lên ngôi và lấy hiệu là Thiên hoàng Reigen. Ông dùng lại niên hiệu của anh trai, lập thành niên hiệu Kanbun nguyên niên (1663–1673).

Dưới thời Reigen trị vì, Nhật Bản gánh chịu nhiều tai ương: thành thị Edo và Kyoto bị đốt cháy 2 lần (1668, 1673 và 1682), đói lớn và lũ lụt làm nhiều người dân chết[5]. Cá biệt năm 1681, đói lớn ở Kyoto lan ra nhiều vùng xung quanh làm nhiều người chết. Bên cạnh đó, chính quyền cho lập các tòa án thẩm tra ở các làng để lùng bắt và trục xuất các tín đồ Thiên Chúa giáo ra khỏi Nhật Bản.[5] Hậu quả của những tai ương đó là hàng chục cuộc nổi dậy của nhân dân chống chính quyền, lớn nhất của cuộc nổi dậy của người Ainu do Shakushain lãnh đạo (1669 - 1672)[5].

Tuy nhiên, một điểm sáng dưới thời Reigen là Phật giáo lại được phát triển mạnh hơn bao giờ hết. Cụ thể là phái Phật giáo Hokke shu giúp các tín đồ thực hành để bảo vệ sự thuần khiết của tâm hồn nhằm chống lại sự cám dỗ xung quanh.

Ngày 02 tháng 5 năm 1687, Thiên hoàng Reigen thoái vị, nhường ngôi cho con trai. Con trai ông lên ngôi, lấy hiệu là Thiên hoàng Higashiyama.

Thoái vịSửa đổi

Sau khi rời ngôi, ông trở về sống và tu tập tại ngôi chùa. Ngôi chùa nơi ông ở được gọi là Sento Gosho- (cung điện của Cựu Hoàng đế)[6]. Năm 1732, ông ở hẳn ngôi chùa với pháp danh Sojo.

Ông mất năm 1732, thọ 79 tuổi.

KugyōSửa đổi

Niên hiệuSửa đổi

  • Kanbun (1661-1673)
  • Enpō (1673-1681)
  • Tenna (1681-1684)
  • Jōkyō (1684-1688)

Gia đìnhSửa đổi

  • Phu nhân: Chunagon-Naishi (中納言典侍; 1653–1691)
    • Con trai đầu: Hoàng tử Saishin (済深法親王; 1671–1701) (tu sĩ Phật giáo)
  • Phu nhân: Matsuki Muneko (松木宗子) (Thái hậu Keihō, 敬法門院), con gái của Mutsuki Muneatsu.
    • Con trai thứ 4: Hoàng tử Asahito (朝仁親王), còn được gọi là Tomohino [5] (Thiên hoàng Higashiyama)
    • Con gái thứ 5: Công chúa Tomiko (福子内親王; 1676–1707), kết hôn với Thân vương Fushimi-no-miya Kuninaga.
    • Con gái thứ 6: Công chúa Eisyū (永秀女王; 1677–1725)
    • Con trai thứ 7: Hoàng tử Kyogoku-no-miya Ayahito (京極宮文仁親王; 1680–1711) - Kyogoku-no-miya thứ 6
    • Con gái thứ 7: Công chúa Ume (梅宮; 1681–1683)
    • Con gái thứ 8: Công chúa Katsuko (勝子内親王; 1686–1716)
    • Con trai thứ 8: Hoàng tử Kiyo (清宮; 1688–1693)
  • Nữ tỳ: Atago Fukuko (愛宕福子; 1656–1681), con gái của Atago Michitomi.
    • Con trai thứ 2: Hoàng tử Kanryū (寛隆法親王; 1672–1707) (tu sĩ Phật giáo)
    • Con gái thứ 4: Công chúa Tsuna (綱宮; 1675–1677)
  • Nữ tỳ: Gojyō Yōko (五条庸子), con gái của Gojyō Tametsune.
    • Con trai thứ 3: Hoàng tử San (三宮; 1675–1677)
    • Con trai thứ 5: Hoàng tử Gyoen (尭延法親王; 1676–1718) (tu sĩ Phật giáo)
    • Con trai thứ 6: Hoàng tử Tairei'in (台嶺院宮; 1679)
  • Nữ tỳ: Higashikuze Hiroko (東久世博子; 1672–1752), con gái của Higashikuze Michikado.
    • Con trai thứ 11: Hoàng tử Toku (徳宮; 1692–1693)
    • Con trai thứ 12: Hoàng tử Riki (力宮; 1697)
  • Phi tần: Tōshikibu-no-Tsubone (藤式部局; ? - 1746), con gái củaImaki Sadaatsu.
    • Con trai thứ 13: Hoàng tử Sonsyō (尊賞法親王; 1699–1746) (tu sĩ Phật giáo)
    • Con gái thứ 11: Công chúa Bun'ō (文応王; 1702–1754)
  • Phi tần: Gojyō Tsuneko (五条経子; 1673–?), con gái của Gojyō Tametsune.
    • Con trai thứ 9: Hoàng tử Saku (作宮; 1689–1692)
    • Con trai thứ 10: Hoàng tử Syō'ou (性応法親王; 1690–1712) (tu sĩ Phật giáo)
    • Con gái thứ 9: Công chúa Bunki (文喜女王; 1693–1702)
    • Con gái thứ 10: Công chúa Gensyū? (元秀女王; 1696–1752)
  • Phi tần: Irie Itsuko (入江伊津子; ?–1763), con gái của Irie Sukenao.
    • Con trai thứ 14: Hoàng tử Kachi (嘉智宮; 1709–1713)
    • Con gái thứ 12: Công chúa Tome (留宮; 1711–1712)
  • Phi tần: Matsumuro Atsuko (松室敦子; ?–1746), con gái của Matsumuro Shigeatsu.
    • Con trai thứ 16: Hoàng tử Arisugawa-no-miya Yorihito (有栖川宮職仁親王; 1713–1769) - Arisugawa-no-miya thứ 5
    • Con gái thứ 13: Công chúa Yoshiko (吉子内親王; 1714–1758), được hứa hôn với Tướng quân Tokugawa Ietsugu.
    • Con trai thứ 18: Hoàng tử Gyōkyō (尭恭法親王; 1717–1764) (tu sĩ Phật giáo)
  • Phi tần: Matsumuro Nakako (松室仲子; 1707–1751), con gái của Matsumuro Shigenaka.
    • Con trai thứ 17: Hoàng tử Son'in (尊胤法親王; 1715–1740) (tu sĩ Phật giáo)

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Imperial Household Agency (Kunaichō): 霊元天皇 (112)
  2. ^ Ponsonby-Fane, Richard. (1959). The Imperial House of Japan, pp.  117.
  3. ^ The Imperial House of Japan, pp.
  4. ^ Ponsonby-Fane, Richard. (1959). The Imperial House of Japan, tr. 117.
  5. ^ a ă â Titsingh, p. 414.
  6. ^ Ponsonby-Fane, Richard (1956). Kyoto: The Old Capital of Japan, 794–1869, p. 342