Thiếc selenua, còn được gọi là stannous selenua, là một hợp chất vô cơ có thành phần chính gồm hai nguyên tố là thiếcselen, với công thức hóa học được quy định là SnSe. Trong hợp chất này, thiếc có trạng thái oxy hóa là +2. Thiếc(II) selenua là một kim loại chalcogenit điển hình,[2] có nghĩa là nó bao gồm một anion nhóm 16 (Se2-) và một nguyên tố điện dương (Sn2+) và được sắp xếp trong một cấu trúc lớp.

Thiếc selenua
Tên khácTin(II) selenide
Nhận dạng
Số CAS1315-06-6
PubChem6432049
Số EINECS215-257-6
Ảnh Jmol-3Dảnh
SMILES
InChI
Thuộc tính
Công thức phân tửSnSe
Khối lượng mol197.67 g/mol
Bề ngoàiBột kim loại xám không mùi
Khối lượng riêng6.179 g/cm3
Điểm nóng chảy 861 °C (1.134 K; 1.582 °F)
Điểm sôi
Độ hòa tan trong nướckhông đáng kể
BandGap0.9 eV (gián tiếp), 1.3 eV (trực tiếp)[1]
Trừ khi có ghi chú khác, dữ liệu được cung cấp cho các vật liệu trong trạng thái tiêu chuẩn của chúng (ở 25 °C [77 °F], 100 kPa).
KhôngN kiểm chứng (cái gì ☑YKhôngN ?)

Thiếc(II) selenua có tính dẫn nhiệt thấp cũng như độ dẫn điện hợp lý, tạo ra khả năng sử dụng nó trong các vật liệu nhiệt điện.[3] Vào năm 2014, một nhóm nghiên cứu tại Đại học Northwestern đã thiết lập được kỷ lục thế giới về hiệu suất vật liệu nhiệt điện.[4]

Sử dụng khácSửa đổi

Các hợp chất thiếc selenua có thể được sử dụng cho các thiết bị quang điện, pin mặt trời, thiết bị chuyển mạch bộ nhớ,[5] và anốt cho pin liti-ion.[2]

Thiếc(II) selenua có một tác dụng bổ sung như một chất bôi trơn trạng thái rắn, do tính chất liên kết giữa các lớp.[6] Tuy nhiên, nó không phải là chất ổn định bền vững nhất của chalcogenit, bởi vì vonfram diselenua có liên kết liên kết yếu hơn rất nhiều, là chất trơ hóa học cao và có độ ổn định cao trong môi trường nhiệt độ cao, chân không cao.

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Carter, Robin; Suyetin, Mikhail; Lister, Samantha; Dyson, M. Adam; Trewhitt, Harrison; Goel, Sanam; Liu, Zheng; Suenaga, Kazu; Giusca, Cristina; Kashtiban, Reza J.; Hutchison, John L.; Dore, John C.; Bell, Gavin R.; Bichoutskaia, Elena; Sloan, Jeremy (2014). “Band gap expansion, shear inversion phase change behaviour and low-voltage induced crystal oscillation in low-dimensional tin selenide crystals”. Dalton Trans 43 (20): 7391. PMID 24637546. doi:10.1039/C4DT00185K. 
  2. ^ a ă Zhang, Chunli; Yin, Huanhuan; Han, Min; Dai, Zhihui; Pang, Huan; Zheng, Yulin; Lan, Ya-Qian; Bao, Jianchun; Zhu, Jianmin (2014). “Two-Dimensional Tin Selenide Nanostructures for Flexible All-Solid-State Supercapacitors”. ACS Nano 8 (4): 3761–70. PMID 24601530. doi:10.1021/nn5004315. 
  3. ^ Northwestern University. "Surprising material could play huge role in saving energy: Tin selenide is best at converting waste heat to electricity." ScienceDaily, ngày 17 tháng 4 năm 2014.
  4. ^ Zhao, L. D.; Lo, S. H.; Zhang, Y; Sun, H; Tan, G; Uher, C; Wolverton, C; Dravid, V. P.; Kanatzidis, M. G. (2014). “Ultralow thermal conductivity and high thermoelectric figure of merit in Sn Se crystals”. Nature 508 (7496): 373–7. PMID 24740068. doi:10.1038/nature13184. 
  5. ^ Boudjouk, Philip; Seidler, Dean J.; Grier, Dean; McCarthy, Gregory J. (1996). “Benzyl-Substituted Tin Chalcogenides. Efficient Single-Source Precursors for Tin Sulfide, Tin Selenide, and Sn(SxSe1−x) Solid Solutions”. Chemistry of Materials 8 (6): 1189. doi:10.1021/cm9504347. 
  6. ^ Erdemir, Ali (2008). “Crystal Chemistry and Solid Lubricating Properties of the Monochalcogenides Gallium Selenide and Tin Selenide”. Tribology Transactions 37 (3): 471. doi:10.1080/10402009408983319.