Tiểu liên Thompson

Súng tiểu liên Thompson do tướng John T. Thompson thiết kế và đi vào sản xuất hàng loạt từ năm 1921 với nhiều phiên bản khác nhau. Thompson là tiểu liên chính của cảnh sát Mỹ cho tới khi nó bị thay thế bởi khẩu Heckler & Koch MP5 vào năm 1982. Nó cũng xuất hiện với vai trò là súng tiểu liên tiêu chuẩn của quân đội Mỹ trong Thế chiến thứ hai, Chiến tranh Triều Tiên và thời gian đầu của Chiến tranh Việt Nam. Nó cũng được nhiều nước đồng minh khác của Mỹ (như Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, Canada, Úc,...) sử dụng hết sức rộng rãi.

Súng tiểu liên Thompson
Submachine gun M1928 Thompson.jpg
Khẩu M1928A1 Thompson với nòng súng và ốp lót tay của M1A1 Thompson
LoạiSúng tiểu liên
Nơi chế tạo Hoa Kỳ
Lược sử hoạt động
Phục vụ1933 - 1982 (FBI và cảnh sát Mỹ)
19381971 (quân đội Mỹ)
Sử dụng bởi Liên Hiệp Quốc
 Hoa Kỳ
 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
 Cộng hòa Miền Nam Việt Nam
 Việt Nam
 Lào
 Israel
 Thái Lan
 Đài Loan
 Tây Đức
 Trung Quốc
 Hàn Quốc
 Pháp
 Campuchia
 Philippines
 Malaysia
 Singapore
 Indonesia
 Nhật Bản
 Canada
 Brasil
 Cuba
 Úc
 New Zealand
 Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland
Cuộc chiến tranhChiến tranh thế giới thứ hai
Sự kiện Vịnh Con Lợn
Chiến tranh Triều Tiên
Chiến tranh Đông Dương
Chiến tranh Việt Nam
Nội chiến Lào
Nội chiến Campuchia
Nội chiến Trung Quốc
Chiến tranh biên giới Lào-Thái Lan
Cách mạng Cuba
Chiến tranh Việt Nam-Campuchia
Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979
Xung đột Ả Rập-Israel
Lược sử chế tạo
Người thiết kếJohn T. Thompson
Năm thiết kế1917 - 1920
Nhà sản xuấtAuto-Ordnance Company
Birmingham Small Arms
Colt
Savage Arms
Giai đoạn sản xuất19211945
Số lượng chế tạo1,750,000 khẩu
Các biến thểM1919 Thompson "Annihilator"
M1921 Thompson "Chicago Typewriter"
M1928 & M1928A1 Thompson
M1A1 Thompson
Thông số
Khối lượng10,8 lb (4,9 kg)
Chiều dài33,5 in (851 mm) (M1928A1)
32 in (813 mm) (M1A1)
Nòng súng bình thường: 10,5 in (267 mm)
Khi gắn thiết bị giảm rung: 12 in (305 mm)

Đạn.45 ACP
Cơ cấu hoạt độngBlowback
Tốc độ bắnM1919 Thompson: phát/phút M1921 Thompson: 1000 phát/phút
M1928 & M1928A1 Thompson: 900 0 phát/phút
Vận tốc mũi280 m/giây
Chế độ nạpBăng đạn thẳng 20 và 30 viên (M1928A1 Thompson, M1A1 Thompson)
Băng đạn tròn 50 và 100 viên (M1928A1 Thompson, M1921 Thompson)

Ưu điểm và nhược điểmSửa đổi

 
Hình ảnh của tướng John T. Thompson, "cha đẻ" của khẩu tiểu liên Thompson.

Khẩu súng này có nhiều ưu điểm: tốc độ bắn nhanh, thay đạn dễ dàng, bắn khá chính xác,... Nhiều loại súng tiểu liên hiện đại thời nay vẫn dựa trên mẫu Thompson để sản xuất vì cơ cấu chốt khóa cơ bẩm của khẩu Thompson làm cho súng tản nhiệt nhanh hơn. Nhược điểm chính của mẫu súng này là khối lượng khá nặng nề và loại đạn .45 cho tầm bắn cũng như sức xuyên khá kém.

Vào năm 1938, quân đội Mỹ mới chấp nhận sử dụng khẩu Thompson trong biên chế của mình. Từ năm 1942, Mỹ chính thức tham gia trực tiếp vào Thế chiến 2. Khi đó, M1928A1 Thompson đã bộc lộ thêm nhược điểm là đắt. Vì vậy, M1A1 Thompson ra đời, được thiết kế lại để đơn giản và tối ưu hóa hơn, phù hợp với việc sản xuất thời chiến. Nó nhanh chóng đồng hành với khẩu M1928 Thompson trên cả hai mặt trận chống Nhật và chống Đức quốc xã.

Trong Chiến tranh Triều Tiên, những khẩu M2 Carbine đã thay thế vai trò của Thompson và khẩu M3 Grease Gun trong biên chế của quân đội Mỹ. Mặc dù vậy, một số đơn vị công binh, trinh sát, lái xe,... của quân đội Hoa Kỳ và Quốc quân Đại Hàn Dân Quốc vẫn còn sử dụng khẩu Thompson và khẩu M3 với số lượng ít.

Trong Chiến tranh Đông Dương, khẩu Thompson được sử dụng rộng rãi bởi cả hai phe Quân đội PhápQuân đội nhân dân Việt Nam. Quân Pháp dùng nó chủ yếu trong giai đoạn đầu cuộc chiến để thay thế cho những khẩu MAS-38 đã lỗi thời. Từ năm 1951 trở đi, Pháp đại trà hóa tiểu liên MAT-49 để thay thế cho những khẩu tiểu liên Thompson, Sten, M3 Grease Gun hay MP-40. Trong suốt thời gian Kháng chiến chống Pháp diễn ra thì Quân đội nhân dân Việt Nam sử dụng khẩu súng này khá phổ biến.

Các quốc gia sử dụngSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi

Tham khảoSửa đổi