Mở trình đơn chính
Các quả bóng A, B và C vẫn trong cuộc vì chúng chưa hoàn toàn vượt qua đường biên. quả bóng D đã ra ngoài đường biên, và là bóng ngoài cuộc.

Trạng thái bóng trên sân (Bóng Trong Cuộc Và Bóng Ngoài Cuộc) là điều luật thứ 9 của Luật bóng đá, mô tả hai trạng thái của bóng trong một trận đấu.

Bóng Trong CuộcSửa đổi

Bóng được coi là trong cuộc từ lúc bắt đầu trận đấu cho đến khi:

  • Bóng vượt qua đường biên và ra ngoài sân.
  • Trận đấu được dừng lại bởi trọng tài (do cầu thủ phạm lỗi hay bị chấn thương nghiêm trọng,hoặc do bóng bị hỏng)

lưu ý rằng một quả bóng vẫn được tính là trong cuộc nếu:

  • Bóng bật vào sân từ cột dọc, xà ngang cầu môn hoặc cột cờ góc.
  • Bóng bật vào sân từ trọng tài hoặc trợ lý trọng tài đứng trong sân.

Khi bóng ở trong cuộc, cầu thủ có thể chơi bóng, tranh cướp bóng và ghi bàn. Cầu thủ cũng bị thổi phạt nếu phạm lỗi. một đội bóng không thể thay cầu thủ nếu bóng vẫn ở trong cuộc,.

Bóng Ngoài CuộcSửa đổi

Bóng được coi là ngoài cuộc khi:

  • Bóng đã vượt qua hẳn đường biên ngang, biên dọc dù ở mặt sân hay trên không.
  • Trọng tài thổi còi dừng trận đấu.

Quả bóng được gọi là "bóng chết" khi bóng ngoài cuộc; Cầu thủ không được phép chơi bóng hay gây cản trở cho đối phương, và bàn thắng cũng không thể được ghi.

Các cách bắt đầu lại trân đấuSửa đổi

khi bóng rơi vào trạng thái bóng chết. Trận đấu lúc này sẽ được khởi động lại bằng các cách chính sau:

  • Ném biên: Khi bóng rơi ra ngoài đường biên dọc do tác động của một cầu thủ đội nhà (dù ở trên mặt sân hay bay trên không). Đội đối phương sẽ được hưởng quyền ném bóng từ vị trí trên đường biên dọc mà bóng rời sân. Từ quả ném biên, bàn thắng chỉ được công nhận khi chạm chân cầu thủ khác[1]
  • Phát bóng: Khi bóng rơi ra ngoài đường biên ngang do tác động của cầu thủ tấn công đối phương. Đội phòng ngự sẽ được hưởng quyền phát bóng lên. Từ quả phát bóng, nếu bóng được đá vào cầu môn, bàn thắng được công nhận.[2]
  • Phạt góc: Khi bóng rơi ra ngoài đường biên ngang do tác động của cầu thủ phòng ngự. Đội tấn công sẽ được hưởng quyền đưa bóng vào trận đấu bằng cú đá từ điểm đá phạt góc (là điểm nối giữa đường biên dọc và đường biên ngang). Từ quả đá phạt góc, nếu bóng được đá vào cầu môn, bàn thắng sẽ được tính.[3]
  • Đá phạt gián tiếp: Khi có cầu thủ bị phạm lỗi nhẹ. Đội đối phương sẽ được hưởng quyền đưa bóng vào trận đấu, nếu đá bóng trực tiếp vào cầu môn, bàn thắng không được công nhận. Bàn thắng chỉ được công nhận khi bóng chạm chân một cầu thủ khác[4]
  • Đá phạt trực tiếp: Khi có cầu thủ bị phạm lỗi nặng (lỗi quy định trong điều 12 của Luật bóng đá, ví dụ bị phạm lỗi khi đang có lợi thế tấn công, bị phạm lỗi từ phia sau). Đội đối phương sẽ được quyền đưa bóng vào trận đấu và bàn thắng ghi vào cầu môn từ cú đá phạt này sẽ được tính.[4]
  • Phạt đền: Khi có cầu thủ tấn công bị phạm lỗi trong khu vực cấm địa của đội phòng ngự. Đội tấn công sẽ được hưởng cú đá phạt từ vị trí đá phạt 11 m, đây là cú đá chỉ có sự tham gia của một cầu thủ đội tấn công (người sút phạt đền) và thủ môn đội phòng ngự.[5]
  • Thả bóng: Khi trận đấu bị dừng lại không phải do bóng ra ngoài sân hoặc có cầu thủ bị phạm lỗi (ví dụ có cầu thủ bị chấn thương, có cổ động viên nhảy vào sân). Trọng tài sẽ là người cầm bóng và thả trước sự có mặt của một cầu thủ mỗi đội.[6]

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ (tiếng Anh) “Laws of the game (Law 15–The Throw-in)”. FIFA. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2007. 
  2. ^ (tiếng Anh) “Laws of the game (Law 16–The Goal Kick)”. FIFA. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2007. 
  3. ^ (tiếng Anh) “Laws of the game (Law 17–The Corner Kick)”. FIFA. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2007. 
  4. ^ a ă (tiếng Anh) “Laws of the game (Law 13–Free Kicks)”. FIFA. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2007. 
  5. ^ (tiếng Anh) “Laws of the game (Law 14–The Penalty Kick)”. FIFA. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2007. 
  6. ^ (tiếng Anh) “Laws of the game (Law 8)”. FIFA. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2007. 

Liên kết ngoàiSửa đổi