Mở trình đơn chính

Thượng tướng Trần Sâm (1918 - 2009) là một nhà hoạt động quân sự, nhà quản lý khoa học kỹ thuật của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông nguyên là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IV, Bộ trưởng Bộ Vật tư (1976 - 1982),Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam. Ông quê ở làng Duân Kinh, xã Hải Xuân, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, Việt Nam.

Trần Sâm
Chức vụ
Nhiệm kỳ- 1962 - 1965
 – 1982 - 1986
Bộ trưởngVõ Nguyên Giáp (1946 - 1980)
Văn Tiến Dũng (1980 - 1987)
Lê Đức Anh (1987 - 1990)
Nhiệm kỳ1982 – 1987
Tiền nhiệmHoàng Thế Thiện
Kế nhiệmPhan Khắc Hy
Nhiệm kỳ1976 – 23 tháng 4 năm 1982
Tiền nhiệmTrần Danh Tuyên
Kế nhiệmHoàng Đức Nghi
Nhiệm kỳ1975 – 1976
Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật
Nhiệm kỳ1974 – 1975
Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội
Nhiệm kỳ1966 – 1980
Nhiệm kỳ1965 – 1974
Nhiệm kỳ13 tháng 6 năm 1963 – 1965
Tiền nhiệmTrần Quý Hai
Kế nhiệmĐinh Đức Thiện
Phó Chủ nhiệmTrần Thọ
Nhiệm kỳ1960 – 1963
Tiền nhiệmNguyễn Trinh Tiếp
Kế nhiệmHoàng Đình Phu
Thông tin chung
Quốc tịchFlag of Vietnam.svg Việt Nam
Sinh(1918-04-05)5 tháng 4, 1918
làng Duân Kinh, xã Hải Xuân, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, Liên bang Đông Dương
Mất13 tháng 8, 2009(2009-08-13) (91 tuổi)
Đảng pháiĐảng Cộng sản Việt Nam
Binh nghiệp
ThuộcFlag of the People's Army of Vietnam.svg Quân đội nhân dân Việt Nam
Năm tại ngũ19461990
Cấp bậcVietnam People's Army Colonel General.jpg Thượng tướng
Khen thưởngVietnam Hochiminh Order ribbon.png Huân chương Hồ Chí Minh
Vietnam Military Exploit Order ribbon.png Huân chương Quân công hạng nhất × 2
Vietnam Feat Order ribbon.png Huân chương Chiến công hạng nhất × 2
Vietnam Resistance Order ribbon.png Huân chương Kháng chiến hạng nhất

Tiểu sửSửa đổi

  • Thượng tướng Trần Sâm sinh ngày 5/4/1918 tại tỉnh Quảng Trị. Tên khai sinh là Trần Hầu; bí danh là Trần Bá, Đinh Vu.
  • Ông tham gia cách mạng từ năm 1938 và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1939.
  • Tháng 8/1945, ông tham gia lãnh đạo khởi nghĩa và giành chính quyền ở huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Tháng 9 năm đó, ông được bầu làm Ủy viên Ủy ban tỉnh Quảng Trị.
  • Khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ năm 1946, ông gia nhập Vệ quốc đoàn và trưởng thành từ chính trị viên Chi đội Thiện Thuật, đến Trung đoàn trưởng Trung đoàn 101 (Trung đoàn Trần Cao Vân - Trung đoàn chủ lực của Trị Thiên Huế).
  • Ngày 18/5/950, ông được cử vào Bộ Tư lệnh Liên khu 4.
  • Từ năm 1950 đến 1953, ông là Phó chỉ huy trưởng Phân khu Bình Trị Thiên rồi Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 4, Quân đội Nhân dân Việt Nam.
  • Từ năm 1953 đến năm 1957, ông là Cục trưởng Cục Quân lực thuộc Bộ Tổng Tham mưu.
  • Năm 1954, ông là Ủy viên Đảng ủy tiếp quản Thủ đô, là một trong số 11 uỷ viên do ông Trần Quốc Hoàn làm Bí thư.
  • Từ năm 1957 đến 1960, ông giữ chức Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Quân đội Nhân dân Việt Nam. Năm 1959 ông được phong quân hàm Thiếu tướng, giữ chức Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, kiêm Viện trưởng Viện Kỹ thuật Quân sự Việt Nam, Bộ Quốc phòng (từ năm 1960).
  • Năm 1960, Viện Kỹ thuật Quân sự trực thuộc Tổng cục Hậu cần, Bộ Quốc phòng được thành lập trên cơ sở Viện Nghiên cứu Quân giới, ông đã được cử làm Viện trưởng đầu tiên, từ năm 1960 đến năm 1963.
  • Từ năm 1963 đến năm 1965, ông giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam kiêm Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch nhà nước, kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần.
  • Năm 1966 ông giữ chức Phó bí thư Thành ủy Hà Nội.
  • Sau đó, ông là Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam qua các giai đoạn (1965 -1974 và 1975 -1976).
  • Ông là Phó chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật trong thời gian từ năm 1974 đến năm 1975.
  • Tại đại hội IV năm 1976, ông được bầu Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, giữ chức Bộ trưởng Bộ Vật tư (đến tháng 4 năm 1982).
  • Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, ông được giữ chức Bộ trưởng Bộ Vật tư (1976 - 1982).
  • Từ năm 1982 - 1986, ông trở lại Bộ Quốc phòng giữ chức thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng Kinh tế, hàm Thượng tướng[1]
  • Ông được phong quân hàm Thiếu tướng (tháng 8/1959), Trung tướng (tháng 4/1974), Thượng tướng (tháng 1/1986).
  • Ông là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá IV, đại biểu Quốc hội các khoá III, V, VII. Ông đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều huân chương khác.
  • Thượng tướng Trần Sâm là người quyết định đưa máy tính điện tử vào ứng dụng trong Quân đội và đã đề nghị Nhà nước nhập chiếc máy tính đầu tiên là Minsk-32 cho Quân đội Nhân dân Việt Nam[2]
  • Ông mất ngày 13 tháng 8 năm 2009[3]

Giải thưởngSửa đổi

Ông được Nhà nước Việt NamĐảng Cộng sản Việt Nam tặng thưởng những danh hiệu[4] sau:

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ “Nhớ Thượng tướng Trần Sâm”. QĐND. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2009. 
  2. ^ “Người đưa máy tính vào quân đội”. PCWORLD. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2009. 
  3. ^ “Thượng tướng Trần Sâm từ trần”. TNO. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2009. 
  4. ^ “Tổ chức trọng thể lễ tang Thượng tướng Trần Sâm”. DANTRI. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2009.