Mở trình đơn chính

Wikipedia β

Trịnh Đình Thảo (1901-1986) là một luật sư và một nhà chính khách Việt Nam. Ông từng là Bộ trưởng Bộ Tư pháp của Chính phủ Trần Trọng Kim (1945); nguyên Chủ tịch Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Cố vấn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (1969-1976); nguyên Đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá VI (1976-1981).

Mục lục

Tiểu sửSửa đổi

Ông sinh ngày 20 tháng 7 năm 1901, quê quán tại làng Chính Kinh, Nhân Mục, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.

Trước năm 1918, ông học trung học ở Hà Nội.

Từ năm 1919 đến năm 1928, ông học Luật, Văn, Kinh tế, Thương mại tại Pháp và tốt nghiệp Cử nhân Văn chương, Thạc sĩ Kinh tế và Thương mại, Tiến sĩ Luật khoa.

Tại Pháp, ông từng bào chữa cho một số Việt kiều trước tòa án ở Pháp; tham gia phong trào sinh viên Việt Nam tại Pháp.

Năm 1929, ông là Luật sư tại Tòa Thượng thẩm Sài Gòn.

Các hoạt động chính trịSửa đổi

Năm 1936, ông tham gia Phong trào Đông Dương Đại hội, đấu tranh đòi quyền dân chủ, dân sinh.

Năm 1945, ông làm Bộ trưởng Bộ Tư pháp của Chính phủ Trần Trọng Kim từ tháng 4 cho đến tháng 8.

Năm 1946, khi Pháp tái chiếm Sài Gòn, ông làm Luật sư Tòa Thượng thẩm Sài Gòn.

Năm 1950, ông tham gia đưa tang Trần Văn Ơn tại Sài Gòn.

Năm 1955, ông được suy tôn là Chủ tịch danh dự Phong trào Hòa bình ở Sài Gòn, chủ trương chống can thiệp của Mỹ và đòi chính quyền Ngô Đình Diệm tôn trọng Hiệp định Giơnevơ. Do những hoạt động tích cực của ông, nên chính quyền Ngô Đình Diệm nhiều lần ra lệnh bắt giam.

Năm 1956, ông làm cố vấn pháp luật cho đạo Cao Đài và chánh sách Hòa Bình Chung Sống của Hộ pháp Phạm Công Tắc.[1]

Tham gia Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt NamSửa đổi

Đầu năm 1968, ông bí mật ra vùng kiểm soát của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Ngày 21 tháng 4 năm 1968, ông tham gia thành lập và làm Chủ tịch Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam.[2] Ngày 6 tháng 6 năm 1969, khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập, ông làm Phó Chủ tịch Hội đồng Cố vấn. Mùa hè năm 1969, ông đẫn đầu Đoàn Đại biểu Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam ra thăm miền Bắc Việt Nam và gặp Hồ Chí Minh ngày 5 tháng 8 năm 1969 tại Hà Nội.[3]

Từ năm 1976 đến năm 1981, ông là Đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa VI, Ủy viên Ủy ban Dự thảo Hiến pháp; Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1977). Ngày 31 tháng 3 năm 1986, ông mất tại thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 86 tuổi.

Danh hiệu, tôn vinhSửa đổi

Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã phong tặng ông:

Tên ông cũng được đặt cho một số đường phố như tại Phường Hòa Thạnh, Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, tại phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang[5]...

Gia đìnhSửa đổi

Vợ ông là bà Ngô Thị Phú, người Sóc Trăng, từng là chủ hãng Trà Liên Hoa nổi tiếng, một doanh nhân thành đạt vào những năm 1960 tại Sài Gòn.[6]

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ http://www-personal.usyd.edu.au/~cdao/booksv/tvdhp/bavbcacd.htm
  2. ^ “Văn kiện Quốc hội toàn tập”. Bản gốc lưu trữ |url lưu trữ= cần |ngày lưu trữ= (trợ giúp). Truy cập Thứ Hai, ngày 10 tháng 5 năm 2010.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  3. ^ “Bác ơi! Tim Bác mênh mông thế... - Tuổi Trẻ Online”. Tuổi Trẻ Online. 18 tháng 5 năm 2005. Truy cập 26 tháng 1 năm 2016. 
  4. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên T.C4.90T
  5. ^ Quyết định về việc đặt tên đường thành phố Long Xuyên
  6. ^ “Kỷ niệm 35 năm Đại thắng mùa Xuân, thống nhất đất nước: Nhân sĩ - trí thức trong chiến khu miền Nam ngày ấy”. Báo Đại Đoàn Kết. Ngày 28 tháng 4 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 4 năm 2010. Truy cập Thứ Hai, ngày 10 tháng 5 năm 2010.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)

Liên kết ngoàiSửa đổi