Trịnh Thiết Trường

Trịnh Thiết Trường (chữ Hán: 鄭鐵長) (1390 -?),(làng Nhân Lý xưa - tên nôm là làng Si) thuộc tổng Đông Lý, phủ Thiệu Thiên, trấn Thanh Hoa, (nay thuộc thôn Đắc Trí ( bây giờ cũng hay được gọi làng Si),xã Định Bình ,huyện Yên Định,tỉnh Thanh Hóa). Ông là quan nhà Lê sơ trải các đời vua Lê Nhân Tông, Lê Nghi DânLê Thánh Tông; giữ các chức quan như Trung thư xá nhân, An phủ sứ, Hàn lâm viện Thị giảng, Đô cấp sự trung, quyền Công bộ Hữu Thị lang và từng được cử đi sứ sang nhà Minh[1].

Thi cửSửa đổi

Ông đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân năm Đại Bảo thứ 3 (1442) đời vua Lê Thái Tông. Khi đó ông đứng thứ 14 trong số 23 người đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân. Đi thi khoa này, ông quyết đoạt danh hiệu cập đệ (tức hàng tam khôi là trạng nguyên, bảng nhãn hay thám hoa), nhưng chỉ đỗ hạng tam giáp, do đó ông từ chối không nhận[1]. Khoa sau năm Thái Hòa thứ 6 (1448) đời vua Lê Nhân Tông, ông lại đi thi, lần này đỗ bảng nhãn[2][3]. Người có hành động tương tự như ông trong cùng kỳ thi 1442, nhưng tới kỳ thi sau (1448) vẫn chỉ đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân là Nguyễn Nguyên Chẩn[1][3], người xã Lạc Thực, huyện Thanh Lâm (nay là xã Đồng Lạc, huyện Nam Sách)[4]

Đỗ tiến sĩ vẫn chưa thoả sức

Chẳng mấy chốc Trịnh Thiết Trường đã cắp lều chõng đi thi Hương, rồi dự kì thi Hội, năm Nhâm Tuất (1442), dưới triều vua Lê Thái Tông – niên hiệu Đại bảo thứ 3. Đây là khoa thi đầu tiên, kể từ khi vua Lê Thái Tổ đánh đuổi được giặc  Minh, giành lại độc lập. Trong số 23 người đỗ tiến sĩ khoa này, có Trịnh Thiết Tường. Nhưng khi làm lễ xứng danh, gọi tên đến 3 lần vẫn không thấy ông Trường. Các sĩ tử có mặt và bá quan trong triều đều lấy làm tiếc, cho là vì đướng sá xa xôi, hoặc có điều gì bất trắc, nên vắng mất một tân khoa tiến sĩ.

Thực ra Trịnh Thiết Trường cũng có mặt trong số người đến nghe xướng danh. Song ông vẫn buồn rầu, vì không chiếm được bậc trạng nguyên, bảng nhãn như mong ước, mà chỉ đỗ tiến sĩ, chưa xứng với lực học của bản thân, nên quyết tâm chờ dự kì thi khác. Ông nói với mấy người bạn quen: ”Tôi muốn đỗ Đệ nhất giáp cho hiển danh, chứ Tam giáp thì chưa xứng với cái học bình sinh của tôi”.

Cái tin Trịnh Thiết Trường quyết thi lại và chiếm bảng Tam khôi, chưa chịu nhận mũ áo tiến sĩ vua ban là chuyện lạ, chưa bao giờ nghe, nên lan truyền rất nhanh trong giới sĩ tử cả nước. Người thì bảo ông Trường dại “thả mồi bắt bóng”, lần sau thi lại chắc gì đã đỗ tiến sĩ. Kẻ thì tấm tắc khen ông là người có chí lớn, thế nào cũng đỗ đạt cao, làm nên danh vọng cho xem...

Chỉ biết 6 năm sau, trong khoa thi Mậu Thìn (1448), niên hiệu Thái Hòa thứ 6, đời vua Lê Nhân Tông, Trịnh Thiết Trường lại về Kinh dự thi và ông đã chiếm được học vị bảng nhãn, bậc thứ hai trong Tam khôi, gây nên sự bàn tán sôi nổi, thán phục trong dư luận xã hội nước ta thời bấy giờ.

Cùng chiếm bảng vàng Đệ nhất giáp với ông có trạng nguyên Nguyễn Nghiêm Tư, người làng Phù Lương, huyện Vũ Giàng - Bắc Ninh và thám hoa Châu Thiên Uy, người làng Hương Quất, huyện Tứ Kì, tỉnh Hải Dương cũ.

Chuyện lạ về bảng nhãn Trịnh Thiết Trường đến tai vua Lê Nhân Tông. Nhà vua lấy làm vui lắm, bèn gia ân cho ông Trường và mấy vị đỗ Tam khôi được đi dạo chơi, thăm vườn Ngự uyển. Vua đích thân hướng dẫn họ xem và thưởng thức từng loại hoa. Trong khi hứng khởi. Vua Nhân Tông truyền cho phép các tân khoa được hái mỗi người một bông hoa tùy ý. Ai hái bông  nào thì vua sẽ lệnh xuất kho lấy vàng đúc bông hoa như thế để ban tặng.  Có một vị nào đó đã hái bông hoa bắp chuối, làm nhà vua phải xuất kho đúc hết 6 cân vàng. Riêng bảng nhãn Trịnh Thiết Trường đã tỏ ra khiêm tốn, chỉ ngắt một bông hoa nhài. Ông cho rằng loại hoa này tinh khiết, mùi hương thoang thoảng bền lâu...

Vua Lê Nhân Tông tỏ ra mến mộ tài đức của Trịnh Thiết Trường, nên đã đem công chúa Thuỵ Tân gả cho ông và trọng dụng ông, thăng ông đến chức Thượng thư bộ công, tước Nghi quận công.

Quan lộSửa đổi

Tháng 12 âm lịch năm 1448, ông được lấy làm Trung thư xá nhân[2].

Tháng 11 âm lịch năm 1449, ông được bổ làm An phủ sứ lộ Tân Hưng Hạ[2].

Ngày 14 tháng 10 âm lịch năm 1457, ông (khi đó là Hàn lâm viện thị giảng) cùng Trung thư khởi cư xá nhân Nguyễn Thiên Tích, Giám sát ngự sử Trần Xác làm phó sứ cho Nam đạo hành khiển tả nạp ngôn tri quân dân bạ tịch Lê Hy Cát sang nhà Minh mừng việc lên ngôi và lập Hoàng thái tử, cùng tạ ơn ban vóc lụa[2].

Tháng 4 âm lịch năm 1467, khi là Đô cấp sự trung, ông hặc tội Hình bộ Đỗ Tông Nam làm quan ăn hối lộ, Lại bộ Nguyễn Như Đổ tiến cử người xấu, cả hai đều xin giao cho pháp ty theo luật trị tội. Vua Lê Thánh Tông y theo[5].

Ngày Mậu Dần (14 tháng 5 âm lịch) năm 1467, Hàn lâm viện thị độc học sĩ hành Lại khoa đô cấp sự trung Trịnh Thiết Trường được phong làm Hàn lâm thị giảng học sĩ quyền Công bộ hữu thị lang[5].

Ghi chúSửa đổi

  1. ^ a b c Văn bia đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo năm thứ 3 (1442)[liên kết hỏng]
  2. ^ a b c d Đại Việt Sử Ký Bản Kỷ Thực Lục, Quyển XI, Kỷ nhà Lê, Nhân Tông Tuyên Hoàng Đế
  3. ^ a b Văn bia đề danh tiến sĩ khoa Mậu Thìn niên hiệu Thái Hòa năm thứ 6 (1448)[liên kết hỏng]
  4. ^ Ghi chú trong Văn bia đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo năm thứ 3 (1442) viết là thuộc huyện Thanh Hà là sai, do theo trang 111 sách Đồng Khánh dư địa chí thì tổng và xã Lạc Nghiệp trước đời Thiệu Trị có tên là Lạc Thực, với các tên gọi như Quan Đình, Đông Duệ, Trúc Khê v.v hiện nay vẫn còn, đều là các thôn thuộc xã Đồng Lạc, huyện Nam Sách. Tra cứu phần huyện Thanh Hà không thấy nói gì về địa danh Lạc Thực.
  5. ^ a b Đại Việt Sử Ký Bản Kỷ Thực Lục, Quyển XII, Kỷ nhà Lê, Thánh Tông Thuần Hoàng Đế