Mở trình đơn chính

Trữ quân

người thừa kế không thể bị thay thế của một danh hiệu thế tộc hoặc chức vụ
Vị Trữ quân cuối cùng của lịch sử Việt Nam - Nguyễn Phúc Bảo Long.

Trữ quân (chữ Hán: 儲君), hoặc Tự quân (嗣君) hay Quốc Bổn (國本)[1], là cách gọi trung lập tước vị dành cho người đã được chính thức chọn lựa để sau này nối ngôi Hoàng đế hay Quốc vương của khối Đông Á.

Ở khối Đông Á, do việc cha truyền cho con là căn bản trong pháp luật, nên khi nói đến Trữ quân thì thường liên hệ danh xưng Thái tử hơn, mặc dù Thái tử chỉ là tước hiệu mà không phải danh phận. Ở Châu Âu, người kế vị thông thường đều được gọi là Heir apparent, và vấn đề kế vị rất phức tạp theo thể chế kéo theo việc hạn chế về ngôn ngữ, nên họ có những tước hiệu cụ thể để chỉ người thừa kế chắc chắn của mình hơn là những danh xưng phải theo sự phân chia chia vai vế như Đông Á.

Cũng như nhau về ý nghĩa và hoàn cảnh, [Trữ quân] cùng [Heir apparent] đều ám chỉ trung lập về một người sẽ kế vị chắc chắn, mà không bị biến đổi cách gọi do vai vế của người kế vị đối với vị quân chủ. Riêng về vấn đề giới tính, Trữ quân được sinh ra trong môi trường chỉ nhận quyền thừa kế của nam giới, nên không có xảy ra việc phải đổi cách gọi nếu người thừa kế là nữ. Còn Heir apparent có thể trở thành Heiress apparent, với thành tố -ess điển hình chỉ đến phái nữ.

Khái lượcSửa đổi

Các người thừa kế, tức Trữ quân, đều theo quy tắc ưu tiên nhất là [Con kế thừa cha], quy tắc này tồn tại ở toàn bộ nền quân chủ, từ Châu Mỹ, Châu Phi, Châu Á đến Châu Âu, chỉ có trường hợp cá biệt dựa theo lý do cụ thể của quy tắc tạo nên nền quân chủ ấy. Đặc biệt nhất là những Đế chế lớn ở Châu Âu như Đế chế La MãĐế quốc Byzantine, thì việc kế thừa đa phần đều dựa vào thực lực hơn là quy tắc cha truyền, hoặc bầu cử giữa các thế lực của Thánh chế La Mã.

Dựa theo mỗi chế độ của nhà nước đều có quy tắc thứ tự thừa kế khác nhau. Song ở Châu Âu, quy tắc ["Ưu tiên con trưởng"] được đẩy mạnh, có nghĩa nếu người con thừa kế qua đời trước quân chủ và có hậu duệ, thì người hậu duệ ấy vẫn có quyền thừa kế hơn là những người con khác của quân chủ. Quy tắc này được bảo vệ mạnh ở Châu Âu do hệ thống quân chủ có xu hướng quân chủ phân quyền, bị ảnh hưởng bởi pháp luật rất trật tự và có sự ràng buộc bởi tôn giáo. Trong khi ấy, ở những nền quân chủ chuyên chế khác như Đông Á hoặc Nam Á, quan niệm "cha truyền con nối" lại có chiều hướng đúng về ý nghĩa, khi người thừa kế qua đời, thì người con nhỏ hơn của quân chủ sẽ có cơ hội trở thành thừa kế, dù người thừa kế vừa qua đời vẫn còn hậu duệ đi nữa.

Ngoài ra, người thừa kế của các nền quân chủ đều ưu tiên nam giới, đặc biệt là ở Châu Á (Tây Á, Nam Á và Đông Á) cùng Châu Âu lục địa nói chung. Trước thế kỉ 20, tình trạng nữ giới kế thừa (nếu có) cũng đều phải bị ưu tiên bởi nam giới.

Trữ quân ở Đông ÁSửa đổi

Tên gọi khácSửa đổi

Do thường là con trai của vị vua đang trị vì, nên chức Trữ quân hay gọi là Thái tử (đối với Hoàng đế) và Thế tử (đối với Vương). Tuy nhiên, người kế vị không nhất thiết lúc nào cũng là con trai của vị vua đang trị vì, mà có thể là chú bác hoặc cháu nội, do đó còn có nhiều cách gọi khác, ví dụ:

  • Chú của Hoàng đế/Vương được chọn làm người nối ngôi thì gọi là Hoàng thái thúc (皇太叔)/ Vương thế thúc (王世叔).
  • Em của Hoàng đế/Vương được chọn làm người nối ngôi thì gọi là Hoàng thái đệ (皇太弟)/ Vương thế đệ (王世弟).
  • Cháu nội Hoàng đế/Vương được chọn làm người nối ngôi thì gọi là Hoàng thái tôn (皇太孫)/ Vương thế tôn (王世孫).

Những cách gọi như thế nào cũng còn tùy chế độ cụ thể chứ không hoàn toàn bị bó buộc chỉ mấy trường hợp. Thông thường, vị trí kế vị của một Hoàng đế được gọi chung là các Hoàng trữ (皇儲), của Quốc vương gọi là Vương trữ (王儲). Tuy vậy, họ cũng có thể được gọi là Hoàng tự (皇嗣) hay Vương tự (王嗣), trong đó ["Tự"] có nghĩa là "kế thừa". Hiện tại, hoàng gia Nhật Bản công bố Thu Tiểu cung Văn Nhân Thân vương là Trữ quân cho anh trai mình là Thiên hoàng Naruhito, ông không được gọi là ["Hoàng thái đệ"], mà được gọi với tôn xưng trung lập là [Hoàng tự điện hạ; 皇嗣殿下; こうしでんかKoshidenka].

Trường hợp truyền thống, con gái không có quyền thừa kế nên không có cách gọi nào tương đương. Đến thời Đường Trung Tông, An Lạc công chúa vận động cha mình để ngồi lên vị trí Trữ quân, còn tự gọi là Hoàng thái nữ (皇太女). Sau cùng ý kiến này bị bãi bỏ, và danh xưng ["Hoàng thái nữ"] này không bao giờ còn tồn tại nữa[2]. Tại Việt Nam cuối thời nhà Lý, khi chỉ định Chiêu Thánh công chúa kế vị, Lý Huệ Tông chọn danh xưng là Hoàng thái tử (ám chỉ Trữ quân) chứ cũng không dùng danh xưng Hoàng thái nữ. Nguyên văn trong Đại Việt sử ký toàn thư như sau: ["Mùa đông, tháng 10, xuống chiếu lập Chiêu Thánh công chúa làm Hoàng thái tử để truyền ngôi cho"; 冬十月詔昭聖公主爲皇太子以傳位].

Quy định lập Trữ quânSửa đổi

Các quốc gia khối Đông Á như Nhật Bản, Triều TiênViệt Nam đều chịu quan niệm lập Trữ quân tương tự Trung Quốc, đó là ưu tiên chọn con trai trưởng. Con gái về luật pháp không có quyền thừa kế ngai vị, tuy không ít các trường hợp ở cả ba quốc gia này có xuất hiện Nữ hoàng hoặc Nữ vương, song phần nhiều là trường hợp cá biệt cụ thể, hơn là một hệ thống thừa kế cố định.

Trung Quốc cổ đại xã hội kế tục chế độ là ["Đích trưởng tử kế thừa chế"; 嫡長子繼承製], tức là con trai lớn nhất của vợ cả (Hoàng hậu, Vương hậu, Vương phi) được ưu tiên lập làm Trữ quân. Tuy nhiên, đây dần trở thành thông lệ hơn là luật pháp, vì đôi khi vị trí Trữ quân cũng được chọn không phải cho con trai con vợ cả, mà tùy vào ý niệm của quân chủ quốc gia đó. Quy tắc "Đích trưởng tử kế thừa chế" xác nhận người thừa kế nguyên tắc cơ bản là: [Lập đích lập trưởng; 立嫡立長]. Trong trường hợp này, con vợ cả ("Đích xuất"; 嫡出) là được ưu tiên nhất, hơn nữa phải là con trưởng (Đích trưởng tử). Nếu không có con do vợ cả sinh ra, thì mới xét "người con trai lớn nhất" trong nhà, tức là các con vợ lẽ ("Thứ xuất"; 庶出). Trong lịch sử Đông Á không thiếu việc Trữ quân lại là Thứ xuất.

Thân phận người mẹ có quyết định quan trọng trong trường hợp này. Như Hán Vũ Đế Lưu Triệt từng là con vợ lẽ, khi sinh mẫu ông Hiếu Cảnh Vương hoàng hậu lúc đó chỉ là hầu thiếp của Hán Cảnh Đế. Tuy nhiên sau khi Vương thị được lập Hoàng hậu, Lưu Triệt trở thành "Đích tưởng tử", danh chính ngôn thuận được lập làm Hoàng thái tử dù vị trí của ông còn tới mấy người anh trai khác. Đường Mục Tông vốn là con thứ ba của Đường Hiến Tông, sinh mẫu ông Quách Quý phi tuy là nguyên phối, song không được lập làm Hoàng hậu, do vậy ông không có thân phận Đích trưởng tử, mà anh ông là Lý Ninh được chọn làm Thái tử. Sau khi Lý Ninh qua đời, Đường Mục Tông mới được chọn làm Thái tử. Ngoại trừ "Lập đích lập trưởng", còn có [Lập tử dĩ Hiền; 立子以賢], tức là vị quân chủ sẽ nhìn trong những đứa con của mình, ai có đủ đức hạnh thì sẽ lập làm Trữ quân. Việc dùng hình thức này khiến nguy cơ tranh đấu giữa các người con trai trở nên gay gắt hơn bao giờ hết, nên thường được xem là hạ sách.

Theo Hoàng Minh tổ huấn (皇明祖訓) thời nhà Minh quy định:"Phàm triều đình không có Hoàng tử, thì các anh em của Hoàng đế kế thừa. Cần lập người có thân phận con vợ cả. Nếu không có con vợ cả, thì lấy con cả của con vợ lẽ". Quy định nhà Minh gắt gao như vậy, phần nhiều Trữ quân phải có thân phận con vợ cả mới được ưu tiên lập, tuy triều đại này từng có Quốc Bổn chi tranh (國本之爭) rất căng thẳng thời Minh Thần Tông Vạn Lịch Đế, nhưng nhìn chung nhà Minh chấp hành rất nghiêm túc tổ huấn này.

Triều đại nhà Thanh, sau thời Thanh Thế Tông Ung Chính Đế, đã chấp hành một thể lệ gọi là [Bí mật kiến Trữ chế; 秘密建儲制]: Hoàng đế sẽ đem người được chọn làm Hoàng thái tử viết vào di chiếu, để sau bức biển ["Chính Đại Quang Minh"; 正大光明] trong Cung Càn Thanh. Khi Hoàng đế qua đời, các Cố mệnh Đại thần sẽ lấy di chiếu ra công bố thiên hạ. Tuy nhiên, Càn Long Đế vào năm thứ 60, đã công bố trước thiên hạ chọn Vĩnh Diễm làm Hoàng thái tử, thoái vị trở thành Thái thượng hoàng. Do đó Vĩnh Diễm đã có mấy tháng dùng thân phận Hoàng thái tử điều hành triều đình.

Lập con hay lập cháuSửa đổi

Khi người thừa kế sáng giá nhất qua đời, ở hầu hết nền quân chủ Đông Á đều xảy ra vấn đề kế tự và thường có tranh cãi. Hai nền quân chủ Trung Quốc và Việt Nam đều có xảy ra tình trạng không tuân theo quy tắc nhất định. Ví dụ từ thời nhà Hán, đã hình thành con nối ngôi cha gắt gao, là vì muốn lập nên trật tự vĩnh cữu, tránh sự xáo trộn như Tống Tuyên công nhường cho em trai là Tống Mục công lên ngôi, gây ra loạn 5 đời về sau của nước Tống.

Suốt chiều dài nền quân chủ Trung Quốc, quy tắc "con kế thừa cha" nhìn chung đều nghiêm ngặt, đây cũng là bởi vì các Thái tử qua đời sớm mà không có hậu duệ, hoặc là bị tội (như nhà Đườngnhà Tống). Sang thời nhà Minh, quy tắc Đích trưởng tử đẩy mạnh hơn cả, nên có trường hợp Minh Huệ Đế kế thừa ông nội Minh Thái Tổ, trước khi bị chú là Minh Thành Tổ cướp ngôi, và quy tắc của nhà Minh có ảnh hưởng đến nhà Thanh. Ở Việt Nam, quy tắc "con kế thừa cha" nhìn chung vẫn khuôn phép như của nền quân chủ Trung Quốc, chỉ có trường hợp điển hình và nổi tiếng là ở thời nhà Nguyễn, khi Hoàng thái tử Nguyễn Phúc Cảnh qua đời, và dù Thái tử có hậu duệ cũng như triều đình suy xét lập Nguyễn Phúc Mỹ Đường (khi ấy gọi là Hoàng tôn Đán) kế tự vị trí Trữ quân, song Vua Gia Long lại chọn em của Thái tử Cảnh là Hoàng tử Đảm.

Triều Tiên, vấn đề "con trưởng""con kế vị cha" gắn bó chặt chẽ. Ví dụ như trường hợp con trai của Triều Tiên Thế TổÝ Kính Thế tử qua đời sớm, và dù Thế tử đã có 2 con trai, Thế Tổ vẫn chọn con thứ là Hải Dương Đại quân trở thành Thế tử, sau đó đăng cơ. Về sau, tuy con trai Tư Điệu Thế tửLý Toán được ông nội là Anh Tổ chọn làm Trữ quân, là trường hợp "cháu kế thừa ông", nhưng đó là vì Anh Tổ không còn người con trai nào khác, nên thứ tự mới truyền xuống người cháu Đích tôn (cháu trai do chính thất của Thế tử sinh ra). Bên cạnh đó, Lý Toán kế thừa vị trí của Anh Tổ lại lấy tư cách là con của người con cả đã mất trước đó của Anh Tổ, Hiếu Chương Thế tử (sau được truy là Chân Tông), mà không lấy tư cách con của cha ruột Tư Điệu Thế tử, đây là quy tắc "con trưởng" rất gắt của xã hội Triều Tiên.

Còn tại Nhật Bản, nền quân chủ mấy nghìn năm này tuy có thời gian bị khống chế bởi người họ FujiwaraMạc phủ, song cơ bản vẫn tôn trọng quy tắc cha truyền cho con nếu có thể cho gia đình Thiên hoàng. Những trường hợp khác biệt đều vì những lý do chính trị đặc thù. Vai vế của Thiên hoàng với người thừa kế, theo nhiều trường hợp cũng là vấn đề gây tranh cãi. Ví vụ sự việc Thiên hoàng Sutoku bị Thiên hoàng Toba bức ép thoái vị, để con trai sủng phi của Toba là Thân vương Narihito lên ngôi. Dù trước đó Thiên hoàng Sutoku đã đem Narihito vào cung và gọi là [Dưỡng tử; 養子], phong làm Hoàng thái tử thừa kế của mình. Nhưng trong chiếu thư thoái vị (được soạn bởi Thiên hoàng Toba) lại tuyên bố Narihito là Hoàng thái đệ, tức lấy danh nghĩa là em trai của Thiên hoàng Sutoku lên ngôi. Tuy chỉ là vấn đề xưng hô, nhưng điều này đã dẫn đến việc Thiên hoàng Sutoku hoàn toàn không có chính danh để tiến hành ảnh hưởng lên Tân Thiên hoàng, và Thiên hoàng Toba vẫn nắm giữ đại quyền.

Lập Tự kế thừaSửa đổi

 
Vua Đồng Khánh - một "dòng bên thờ tự" điển hình, ông lên ngôi với tư cách là con của Vua Tự Đức.

Đây là một vấn đề liên quan đến pháp độ và "vai vế kế thừa" xảy ra khá thường xuyên và rất đặc thù ở các nền quân chủ Đông Á, không bao giờ xảy ra ở Châu Âu. Trường hợp này là khi Hoàng đế không có con thừa kế, thì đã bước vào giai đoạn phải chọn hậu duệ của nhánh hoàng tộc khác làm con, để nối vị và mang danh nghĩa nối tiếp dòng chính thống đang cai trị, đấy gọi là biện pháp [Thừa tự; 承嗣]. Với hình thức này, người tông thất được chọn trên thực tế phải mang danh nghĩa ["Là con của Hoàng đế tiền nhiệm, hoặc Hoàng đế tiền nhiệm trước đó"] thì mới có danh phận kế thừa, tương tự kiểu nhận con nuôi, cha mẹ tranh pháp lý mới khiến cho con nuôi có quyền thừa kế. Chính điều này dĩ nhiên sẽ hạn chế Hoàng đế kế tự ấy truy phong vị hiệu cho cha mẹ ruột của mình.

Thời Tây Hán, Xương Ấp vương Lưu Hạ cùng Hán Tuyên Đế Lưu Tuân là những trường hợp đầu tiên như vậy, cả hai đều là thừa tự của Hán Chiêu Đế. Song do Hán Tuyên Đế là cháu nội của Lệ Thái tử Lưu Cứ, nên việc truy phong có diễn ra đặc biệt hơn, cha ruột của ông là Lưu Tiến đã có thể được tôn làm ["Hoàng khảo"; 皇考], mẹ là Vương Ông Tu có thể làm ["Hậu"; 后], điều này là tiền lệ cho các Hoàng đế kế tự thời Đông Hán như Hán An Đế đã có thể truy tôn cho cha và mẹ ruột. Thời nhà Tống, quy tắc gắt gao, các Hoàng đế dòng bên không thể thậm chí truy phong cha ruột làm "Hoàng" như thời Hán. Sang đến thời nhà Minh, có Đại lễ nghị chính là thảo luận dâng tôn thế nào thời Minh Thế Tông, đối với cha ruột của ông là Chu Hữu NguyênTừ Hiếu Hiến hoàng hậu. Sang thời nhà Thanh, 2 vị Hoàng đế Quang TựTuyên Thống đều là con thừa kế từ dòng bên nhập qua, Quang Tự Đế lấy danh nghĩa là con của Hàm Phong, còn Phổ Nghi là của cả Đồng Trị lẫn Quang Tự. Cha ruột của hai người, Thuần Hiền Thân vương Dịch Hoàn cùng Thuần Thân vương Tái Phong đều chỉ có thể tiếp tục cúi đầu xưng thần, không có gì ưu đãi trừ việc ai cũng biết họ là cha ruột của Hoàng đế.

Chính những quy tắc phức tạp, phải có tôn ti trong việc tấn tôn vị hiệu này mà sử gia Lê Văn Hưu đã chỉ trích việc Lý Thần Tông tôn cha đẻ Sùng Hiền hầu làm Thái thượng hoàng. Khi ấy, Lý Thần Tông đã được Lý Nhân Tông chọn làm con thừa tự, phong làm Thái tử để kế vị, thì Thần Tông chỉ nên công nhận Nhân Tông mà thôi, nếu Thần Tông lại tôn cha ruột Sùng Hiền hầu thêm nữa thì "hóa ra là hai gốc ư?". Nguyên văn nhận xét của Lê Văn Hưu:

Trữ quân ở Châu ÂuSửa đổi

Heir apparent và Heir presumptiveSửa đổi

Ở Châu Âu về vấn đề kế vị rất không ổn định và thường xuyên có thay đổi về hôn nhân và khả năng sinh hạ người thừa kế, cho nên Trữ quân không phải lúc nào cũng là con của vị Vua đương nhiệm, mà có một nửa là anh em, chú bác hay thậm chí là họ hàng trong gia tộc dựa theo quy định kế vị mà Nghị viện hay cơ quan Hành pháp của quốc gia ấy quy định, điển hình sự kiện Vua James VI của Scotland kế vị Nữ vương Elizabeth vì là hậu duệ của Margaret Tudor - chị gái của Henry VIII của Anh, thông qua đạo luật thừa kế được phê duyệt.

Do đó, những danh từ nói đến Trữ quân ở Châu Âu lại có hai định nghĩa chính, là:

  1. [Heir apparent]: tức "Người kế vị một cách hiển nhiên". Những người này chắc chắn sẽ kế vị theo chế độ, cũng có thể gọi là Trữ quân chính thức.
  2. [Heir presumptive]: tức "Người vào lúc này có vẻ sẽ là người thừa kế". Những người này vào một thời điểm hiện hữu, được xem là người kế vị (chưa được gọi là Trữ quân), nhưng nếu một người khác trong hoàng gia được sinh ra, có quyền kế vị cao hơn thì người này ngay lập tức mất đi quyền kế vị.

Các Heir presumptive biểu hiện thường là người con của em trai lớn nhất của nhà Vua hoặc con gái lớn nhất của nhà Vua. Đặc biệt là ở vế thứ 2, xảy ra với cả Nữ vương VictoriaElizabeth II, vì cả hai tuy là nữ nhưng là người con hợp pháp duy nhất/lớn nhất của người em trai và bản thân nhà Vua, song nếu Vua William IV lẫn Vua George VI có thể có con trai hợp pháp, ngay lập tức Victoria và Elizabeth sẽ mất quyền kế vị.

Những Heir apparent ở phương Tây thường có tước hiệu riêng biệt và cụ thể, như Thân vương xứ Wales của Anh, tuy nhiên tùy vào vài trường hợp (thường nếu Heir apparent là nữ), thì một Heir apparent cũng không nhất thiết phải có tước vị tương ứng. Điển hình nhất là Elizabeth II, bà là một Heir apparent vì cha bà, Vua George VI, không có người nam duệ thừa kế, bà được chính phủ xứ Wales đề nghị nhận danh hiệu [Princess of Wales] để biểu thị vị trí của mình, song Vua George đã khước từ vì danh hiệu này vốn chỉ dành cho vợ của các Thân vương xứ Wales. Dẫu vậy, Elizabeth tiếp tục nhận những hoạt động biểu thị thừa kế của mình cho đến khi chính thức kế vị.

Luật lệ thừa kếSửa đổi

 
Trận Barnet trong Cuộc chiến Hoa Hồng của nước Anh.

Xã hội Châu Âu về cơ bản cũng là theo hình thức chọn con trưởng làm người thừa kế. Người con trưởng, cả nam lẫn nữ đều được ưu tiên hơn hẳn. Ngoài ra, những người con ngoài giá thú tức là không theo hôn nhân đều không có quyền thừa kế. Nữ vương Elizabeth I của Anh từng mất quyền kế vị vì từng bị tuyên bố là con hoang. Chế độ kế vị ở Châu Âu phần nhiều tùy vào từng quốc gia mà quy định. Như ở nước Anh là phải thuộc Kháng Cách sau thời đại Vua Henry VIII nhà Tudor, sau đó là xét về thứ tự hậu duệ của người trong triều đại, ví dụ sau đời Henry VIII thì hậu duệ của chị em nhà Vua cũng có quyền thừa kế, đó là lý do khiến Vua James kế vị Nữ vương Elizabeth, trở thành Quốc vương nhà Stuart của Scotland, cai trị Scotland lẫn nước Anh.

Ngoài ra, sự môn đăng hộ đối cũng là yêu cầu bắt buộc, đây cũng là vấn đề lớn dẫn đến một người có quyền thừa kế tài sản cha mẹ hay không. Theo Quý tiện kết hôn, là thông luật do giới quý tộc Châu Âu áp dụng trong cách thức kế thừa tước hiệu cũng như tài sản khi một người đàn ông trong giới quý tộc, nếu lấy một người đàn bà thường dân. Theo phép luật đó thì con cái của người đàn ông đó tuy được thừa nhận nhưng không thuộc trong danh sách gia tộc khi xét đến thừa hưởng tài sản và tước hiệu.

Khi một vị Vua thuộc dòng nam trưởng của một vương triều qua đời mà không có người thừa kế chính danh, thì những nam duệ khác của dòng thứ sẽ có quyền thừa kế nếu vị Vua chưa quyết định ai chắc chắn là người thừa kế. Chiến tranh Hoa HồngChiến tranh Kế vị Tây Ban Nha là hai cuộc xung đột điển hình nhất về vấn đề này, phát sinh là do sự tranh luận quyền kế vị giữa "nam giới thuộc dòng thứ" trong khi các bên đều có thế lực. Đây nhìn chung là sự đấu tranh thế lực hơn là pháp luật, do người chiến thắng sẽ có quyền điều chỉnh luật pháp để biến mình là người kế vị hợp pháp, như trường hợp nhà York.

Tôn giáo cũng là vấn đề của quyền kế tại. Tại Thụy Điển và hầu hết các nước ở Châu Âu đại lục, người thừa kế ngai vàng sẽ mất đi quyền kế vị nếu họ kết hôn mà không có sự chấp thuận của vị Vua ấy cùng Chính phủ và nhà thờ tôn giáo của quốc gia. Tại nước Anh, một người mất đi quyền kế vị nếu cải đạo thành Công giáo La Mã, và với người thường thì kết hôn trái đạo này cũng đồng nghĩa mất đi đất đai và tước hiệu. Sự kiện nổi tiếng nhất liên quan đến vấn đề này chính là Cách mạng Vinh quang ở Anh thời Vua James II, do ông đã nuôi dạy người thừa kế hợp pháp của mình, James Francis Edward Stuart, trở thành người đạo Công giáo. Nghị viện đã làm cách mạng, buộc Vua James thoái vị để con gái cả của ông, Mary, một người theo Kháng Cách lên ngôi, trở thành Mary II của Anh. Từ năm 2011, Khối thịnh vượng chung đã thông qua luật bãi bỏ sự khác biệt tôn giáo này, được gọi là Perth Agreement.

Quyền thừa kế của nữSửa đổi

Châu Âu đại lục còn có Đạo luật Salic cũng ảnh hưởng rất lớn đối với quy định thừa kế ở Châu Âu. Điểm đáng nói là bộ luật này không công nhận quyền kế vị của phụ nữ trong bất kì trường hợp nào, kể cả dòng dõi xa. Do sự ảnh hưởng của Francia và việc liên hôn, phần đông các quốc gia ở Châu Âu, đều theo đạo luật này. Chiến tranh Kế vị Áo phát sinh là do sự tranh luận quyền kế vị với "nữ giới thuộc dòng chính", xảy ra khi người thừa kế hợp pháp duy nhất còn lại của nhà Habsburg cho ngai vị của Thánh chế La Mã là nữ giới, tức Archduchess Maria Theresa, điều bị cấm đoán do ảnh hưởng của luật Salic. Về cơ bản, cuộc chiến này xảy ra như một "lý do thuận tiện" đưa ra bởi Phổ và Pháp để gây chiến, thách thức quyền lực Habsburg.

Cuộc Chiến tranh trăm năm giữa AnhPháp phát sinh chính là về vấn đề thừa kế vương vị. Khi đó, Charles IV của Pháp qua đời mà không có người thừa kế nào. Edward III của Anh đã nhân đó yêu cầu quyền kế vị ngai vàng Pháp, do ông là con trai của em gái Charles IV của Pháp tức Isabella của Pháp. Tuy nhiên, theo "Đạo luật Salic", khả năng thừa kế Vương vị không được công nhận thông qua dòng dõi nữ giới, nên triều đình Pháp bác bỏ tư cách của Edward III của Anh, mà thay vào đó là sự lên ngôi của Philippe VI của Pháp. Edward III của Anh tuy rằng thỏa hiệp, nhưng mầm móng trực tiếp của cuộc chiến tranh đã hình thành. Đạo luật Salic còn ảnh hưởng tiêu biểu ở trường hợp Nữ vương Victoria. Tuy luật lệ người Anh chấp nhận nữ giới kế thừa Vương vị nếu không có nam duệ, nhưng Vương quốc HanoverChâu Âu đại lục - chịu ảnh hưởng của luật Salic thì không; đó là lý do Victoria khi đăng vị Nữ vương nước Anh, nhưng lại không có quyền thừa kế Vương quốc Hanover (gốc tích của nhà Hanover), mà phải truyền cho người chú trong nhà là Ernest Augustus, trở thành Quốc vương của Hanover.

Quyền thừa kế của nữ giới, trong các vương pháp không xét giới tính trước thế kỉ 20, đều tuân theo quy tắc: ["Nếu không có người con trai hợp pháp, thì nữ giới mới xét đến quyền kế vị"]. Do đó, trong danh sách thứ tự thừa kế, trong cùng 1 thế hệ của người con trai trưởng lớn nhất chỉ sau Quốc vương, thì người nữ luôn xếp sau người nam, cho dù người nữ có là chị đi chăng nữa. Cuối thế kỉ 20, năm 1980, Vương quốc Thụy Điển chấp nhận [Quyền thừa kế tuyệt đối của con trưởng; Absolute Primogeniture], tức là người con lớn nhất bất kể giới tính sẽ có thể thừa kế ngai vàng, và đó chính là Công chúa Victoria của Thụy Điển. Sau đó, Vương quốc Bỉ vào năm 1991 cũng thông qua dự luật này, khiến Công chúa Élisabeth, Nữ Công tước xứ Brabant trở thành Trữ quân của Bỉ. Đến năm 2015, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland bắt đầu rục rịch áp dụng quy tắc mới này, song do 3 thế hệ con trưởng của Nữ vương đều là nam giới, nên quyền thừa kế cho nữ chỉ biểu thị ở việc Princess Charlotte xứ Cambridge ở danh sách bên trên em trai của mình, Prince Louis xứ Cambridge, trở thành một Công chúa Anh đầu tiên có quyền kế vị trên em trai của mình.

 
Nữ vương Anne - quyền thừa kế của bà vượt trên bất kì nam duệ nào của vương triều dù là nữ.

Nhưng trật tự của nữ giới trong hàng thừa kế, trước thời đại thế kỉ 20 cũng không phải lúc nào cũng tự động thua người nam. Nếu trường hợp Heir apparent là nam và qua đời trước quân chủ, song không có con trai mà chỉ duy nhất một con gái, thì quyền kế vị của người cha sẽ truyền cho con gái, bất chấp tước hiệu hay địa vị, song điều này chỉ xảy ra nếu biết chắc góa phụ của vị Heir apparent đó không đang mang thai người con nào, hoặc nếu có mang thai thì phải biết đứa bé sinh ra là nam hay nữ. Nếu là nam, thì cô con gái kia sẽ tự động không còn quyền thừa kế, nhưng nếu là nữ thì cô con gái vẫn sẽ có quyền, do quan niệm "con cả ưu tiên hơn con thứ" cũng áp dụng cho nữ giới. Sau khi xác định người nữ vẫn là duy nhất hoặc lớn nhất, thì cô ấy có quyền thừa kế vị trí của người cha hơn tất cả những họ hàng nào vai vế khác, cho dù những người đó là nam giới và có hậu duệ đi nữa. Trường hợp này rất điển hình có Nữ vương Victoria, bà là con gái duy nhất của người em lớn nhất của William IV, do vậy bà có quyền thừa kế trên người chú là Ernest Augustus, người sau đó lãnh tước Vương ở Hanover do Victoria không thể thừa kế tước vị này.

Trong lịch sử Anh, có trường hợp khá đặc biệt về thứ tự nữ thừa kế trong danh sách trước khi "quyền tuyệt đối của con trưởng" phổ biến vào thế kỉ 20, chính là thời Mary II của Anh. Sau Cách mạng Vinh quang, vào năm 1689, Nghị viện đồng thuận cho Mary cùng chồng là William III của Anh thành "Đồng quân vương" của Anh, Scotland và Ireland, nhưng chỉ chấp nhận hậu duệ giữa William và Mary, vì theo luật thừa kế thì Mary mới là dòng dõi chính thống: con gái của James II của Anh, trong khi William là con của người chị của Vua James, tức Công chúa Mary. Nếu con của William sinh ra mà người mẹ không phải là Mary, thì những người con đó đều phải xếp sau bản thân ông (do là anh họ Mary), cùng em gái của Mary là Công chúa Anne[4]. Theo đó, Anne là một Heir apparent suốt thời đại William, và thành công kế vị ngai vàng của Anh, Scotland và Ireland sau khi William qua đời.

Chức tướcSửa đổi

Các triều đại tại Đông Á (Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam, Triều Tiên) trước đây thường phong các tước vị khác nhau cho các Trữ quân, đôi khi có tước vị Hoàng thái tử rồi nhưng vẫn được phong Vương tước. Trong khi đó, có nhiều triều đại tại châu Âu chỉ dùng một hay vài tước nhất định cho các Trữ quân của họ.

Một vài tước của các Trữ quân là:

Những Trữ quân trên thế giớiSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ 《唐大诏令集·册遂王为皇太子文》:“建立储嗣,崇严国本。”
    《宋史·理宗纪》:“ 景献太子薨, 宁宗以国本未立,选太祖十世孙年十五以上者教育。”
  2. ^ 《新唐书》:帝复位,光艳动天下,侯王柄臣多出其门。尝作诏,箝其前,请帝署可,帝笑从之。又请为皇太女,左仆射魏元忠谏不可,主曰:“元忠,山东木强,乌足论国事?阿武子尚为天子,天子女有不可乎?”
  3. ^ Đại Việt sử ký toàn thư-Lý Thần Tông hoàng đế bản kỷ
  4. ^ "King James’ Parliament: The succession of William and Mary - begins 13/2/1689" The History and Proceedings of the House of Commons: volume 2: 1680-1695 (1742), pp. 255-77. Accessed: 16 February 2007.

Xem thêmSửa đổi