Bộ tranh Tố Nữ

Tranh tố nữ[1] (chữ Hán: 素女圖; Tố nữ đồ), là tên một thể loại tranh vẽ dòng tranh Hàng Trống của Việt Nam.

Tranh Tố Nữ thuộc thể loại tranh Tứ Bình (bao gồm 4 bức tranh), thể hiện 4 thiếu nữ Việt Nam có trang phục xưa, vấn tóc đuôi gà, mặc áo dài và đều đang đứng với 4 cử chỉ khác nhau: cô thổi sáo, cô cầm sênh tiền, cô cầm quạt và cô gảy đàn nguyệt. Mỗi người một vẻ đẹp và mang nét mặt thể hiện tâm hồn thiếu nữ Việt Nam xưa. Đi kèm theo mỗi bức tranh là có một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt viết bằng chữ Hán. Có một dị bản của bộ tranh tứ bình này: cô thổi sáo, cô kéo nhị, cô gảy đàn tỳ bà và cô gảy đàn nguyệt. Dị bản đó có giả thiết cho rằng nó là dòng tranh Đông Hồ.

Bộ tranh này mang đậm nét văn hoá của Việt Nam, là một trong những đề tài tranh vẽ tiêu biểu của dòng tranh dân gian Hàng Trống.

Mô tảSửa đổi

 
Phục dựng tranh tố nữ do người mẫu thể hiện - Tố nữ phiên bản người thực

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã làm bài thơ Đề tranh Tố Nữ:

Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình
Chị cũng xinh mà em cũng xinh
Đôi lứa như in tờ giấy trắng
Ngàn năm còn mãi cái xuân xanh
Xiếu mai chi dám tình trăng gió
Bồ liễu thôi đành phận mỏng manh
Còn thú vui kia sao chẳng vẽ
Trách người thợ vẽ khéo vô tình

Nhà thơ Chế Lan Viên cũng có nhắc đến bức tranh này trong thơ của mình:

Điệu lục bát và màu xanh nơi ruộng rẫy
Bức tranh làng Hồ, cô tố nữ dáng quê hương...

Tranh tố nữ ngày nay còn được dùng trong việc trình diễn nghệ thuật, chụp ảnh. Ví dụ điển hình là vở diễn thực cảnh "Tinh hoa Bắc Bộ", sử dụng hiệu ứng 3D và sử dụng diễn viên mặc trang phục và nhạc cụ như trong tranh tố nữ để trình diễn trên sân khấu mặt nước.

Truyền thuyết dân gianSửa đổi

Có giả thiết cho rằng tranh tố nữ Việt Nam có xuất xứ từ tranh tứ đại mỹ nhân của Trung Quốc.

Trong dân gian có câu truyện Bích Câu kỳ ngộ liên quan đến bức tranh Tố Nữ. Truyện kể rằng vào đời Lê Thánh Tông, có một thư sinh tên là Trần Tú Uyên. Khi đi chơi chợ Cầu Đông, chàng đã mê mẩn một bức tranh Tố Nữ và mua, đem về nhà treo ở thư phòng. Rồi cứ mỗi bữa ăn, chàng lại dọn hai cái bát, hai đôi đũa, mời Tố Nữ cùng ăn và thỉnh thoảng lại chuyện trò, đối đãi như người thực. Một hôm Tú Uyên ở trường học về, thấy mâm cơm đã dọn sẵn. Hôm sau chàng giả cách ra đi, nhưng lẻn về đứng rình một chỗ. Quả nhiên, thấy Tố Nữ trong tranh hiện ra thành người thực...

Có người thắc mắc tại sao bốn bức tranh dân gian Việt Nam vẽ bốn cô thiếu nữ mặc áo dài Việt Nam lại đề tựa thơ tiếng Hán, chứ không phải tiếng Việt? Câu chuyện Bích câu kỳ ngộ trên cho thấy Bộ tranh Tố nữ đã ra đời trước thời Lê Thánh Tông (1492-1497)[2]. Trong khi đó, tác phẩm chữ Quốc ngữ hoàn chỉnh đầu tiên được biết đến nay là Bộ từ điển Việt - Bồ - La của nhà truyền đạo Alexandre de Rhodes ra đời năm 1651 và mãi đến tận thế kỷ XIX, chữ Quốc ngữ mới được sử dụng phổ biến [3]. Có lẽ vì thế mà bốn bài thơ trên bộ tranh nguyên gốc được viết bằng chữ Hán.

Dưới đây là bản bằng chữ Hán, phiên tiếng Hán Việt và lược dịch tiếng Việt của bốn bài thơ trên:

CÔ THỔI SÁO CÔ CẦM QUẠT CÔ CẦM SÊNH CÔ GẢY ĐÀN

Nguyên văn:

誰家玉笛暗飛聲

散入春風滿洛城

此際曲中聞折柳

何人不起故園情

.

Phiên âm:

Thùy gia ngọc địch ám phi thanh

Tán nhập xuân phong mãn Lạc Thành

Thử dạ khúc Trung văn chiết liễu

Hà nhân bất khởi cố viên tình

.

Lược dịch:

Nhà ai sáo ngọc tiếng mơ màng

Theo gió xuân vào khắp Lạc – Dương

Văng vẳng đêm nay bài "Chiết liễu"

Ai người không chạnh nỗi tha hương

Nguyên văn:

紅牙催拍燕飛忙

一片行雲到畫堂

舞罷高簾偷目送

不知誰是楚襄王

.

Phiên âm:

Hồng nha thôi phách yến phi mang

Nhất phiến hành vân đáo họa đường

Vũ bãi, cao liêm thâu mực tống

Bất tri thùy thị Sở Tương Vương

.

Lược dịch:

Thẻ hồng dồn phách én bay phăng

Lững thững guồng mây đến họa đường

Múa hết, rèm cao đưa khóc hạnh

Chẳng ai hay đó Sở Tương Vương

Nguyên văn:

一點櫻桃起絳唇

兩行碎玉噴陽春

好花風裊年枝茂

按徹揚州蓮步新

.

Phiên âm:

Nhất điểm anh đào khải giáng thuần

Lưỡng hàng toái ngọc phuốn dương xuân

Hảo hoa phong niểu niên chi mậu

Án triệt Dương châu liên bộ tân

.

Lược dịch:

Môi son vừa hé nụ anh đào

Răng ngọc hai hàng nhả điệu cao

Trước gió nghìn cành hoa nhún nhảy

Gót sen lần nhịp đến Dương Châu

Nguyên văn:

窓前坐對月初鳴

好把琴來曲點情

但寫徽音為雅趣

只將玉律敘音聲

.

Phiên âm:

Song tiền tọa đối nguyệt sơ minh

Hảo bả cầm lai khúc điểm tình

Đãn tả huy âm vi nhã thú

Chỉ tương ngọc luật tự âm thanh

.

Lược dịch:

Trước song ngồi ngắm nguyệt đầu canh

Ôm chiếc cầm trăng dạo khúc tình

Hễ cứ đánh đàn làm nhã thú

Lại đem ngọc luật tựa âm thanh

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ 1000 câu hỏi - đáp về Thǎng Long - Hà Nội, Tập 2 - Chính trị quốc gia, 2000 - trang 78
  2. ^ Vua Lê Thánh Tông
  3. ^ Quá trình hình thành và phát triển của chữ Quốc ngữ