Mở trình đơn chính

Twice (nhóm nhạc)

Nhóm nhạc nữ người Hàn Quốc

Twice (cách điệu: TWICE, tiếng Hàn: 트와이스, tiếng Nhật: トゥワイス) là một nhóm nhạc nữ Hàn Quốc được thành lập và quản lý bởi công ty JYP Entertainment thông qua chương trình truyền hình thực tế Sixteen vào năm 2015. Nhóm gồm 9 thành viên: Nayeon, Jeongyeon, Momo, Sana, Jihyo, Mina, Dahyun, ChaeyoungTzuyu. Nhóm chính thức ra mắt vào ngày 20 tháng 10 năm 2015 với EP đầu tay The Story Begins.[2]

Twice
트와이스
Twice at Golden Disk Awards on January 5, 2019.png
Twice tại lễ trao giải Golden Disc Awards vào ngày 5 tháng 1 năm 2019.
Thông tin nghệ sĩ
Nguyên quánSeoul,  Hàn Quốc
Thể loại
Năm hoạt động2015 (2015) – nay
Công ty quản lýJYP Entertainment
Hãng đĩa
Hợp tác vớiJYP Nation
Websitetwice.jype.com (tiếng Hàn)
twicejapan.com (tiếng Nhật)
Thành viên hiện tại
Tên tiếng Hàn
TWICE LOGO.png
Logo chính thức
Hangul트와이스
Romaja quốc ngữTeuwaiseu
McCune–ReischauerT'ŭwaisŭ

Năm 2016, Twice dần trở nên nổi tiếng với bài hit "Cheer Up" - đĩa đơn xếp vị trí quán quân trên Gaon Digital Chart và trở thành đĩa đơn có thành tích xếp hạng tốt nhất của năm. Ca khúc còn xuất sắc đoạt giải Bài hát của năm trong hai lễ trao giải âm nhạc lớn: Melon Music AwardsMnet Asian Music Awards. Một ca khúc khác là "TT" trích từ EP thứ ba Twicecoaster: Lane 1 đã giành vị trí đầu bảng và trụ hạng trong 4 tuần liên tiếp. Đây cũng là album bán chạy nhất của nhóm nhạc nữ K-pop trong năm 2016 khi tiêu thụ được 350.852 bản vào dịp cuối năm. Chỉ trong 19 tháng sau khi ra mắt, Twice đã bán được hơn 1,24 triệu bản với 4 đĩa mở rộng và 1 album đặc biệt của nhóm.[3][4]

Twice chính thức ra mắt tại Nhật Bản vào ngày 28 tháng 6 năm 2017 với sự hợp tác của Warner Music Japan thông qua việc phát hành album tổng hợp đầu tiên mang tên #Twice. Album ra mắt ở vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng Oricon Albums, tiêu thụ 136.157 bản trong vòng 1 tuần và trở thành album bán chạy nhất của một nghệ sĩ K-pop tại Nhật ngay ở tuần ra mắt, tính từ khoảng 2 năm trở lại đây.[5][6] Sau đó, nhóm phát hành đĩa đơn maxi tiếng Nhật đầu tiên "One More Time" vào tháng 10. Với hơn 250.000 bản bán ra, Twice trở thành nhóm nhạc nữ Hàn Quốc đầu tiên được cấp chứng nhận Bạch kim của Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Nhật Bản (RIAJ) cho cả album và CD đĩa đơn trong cùng một năm.[7][8] Twice đứng thứ ba ở hạng mục Nghệ sĩ hàng đầu trên Bảng xếp hạng cuối năm 2017 của Billboard Japan.[9]

Tên gọiSửa đổi

Tháng 4 năm 2015, trước thềm chương trình truyền hình Sixteen, Park Jin-young tiết lộ nhóm nhạc sắp được ra mắt thông qua chương trình sẽ mang tên "Twice". Ông cũng giải thích ý nghĩa của tên gọi nhằm "gây bất ngờ cho khán giả không chỉ lần đầu qua thị giác mà còn cả lần thứ hai qua thính giác".[10]

Lịch sửSửa đổi

2013 – 2015: Hình thành qua Sixteen và ra mắt với The Story BeginsSửa đổi

Ngày 19 tháng 12 năm 2013, JYP Entertainment thông báo sẽ cho ra mắt một nhóm nhạc nữ mới trong nửa đầu năm 2014; đây sẽ là nhóm nhạc nữ tiếp theo do công ty tạo ra sau khi họ đã ra mắt Miss A vào năm 2010.[11] Ngày 27 tháng 2 năm 2014, hai thực tập sinh JYP là Lena và Cecilia đã được xác nhận là thành viên của nhóm, trong khi đó có tin đồn cho rằng các thành viên khác sẽ là những thực tập sinh của JYP như Nayeon, Jeongyeon, Jisoo (sau này cô đổi tên thành Jihyo) và Minyoung.[12][13] Dù vậy kế hoạch ra mắt nhóm sau đó đến cuối cùng đã bị hủy bỏ do sự rời đi của hai thực tập sinh Lena và Cecilia.[14]

 
Twice trình diễn "Like Ooh-Ahh" vào năm 2015

Vào ngày 11 tháng 02 năm 2015, Park Jin-young đã thông báo rằng sắp tới sẽ ra mắt một nhóm nhạc nữ 7 thành viên và sẽ được quyết định thông qua Sixteen - một chương trình cạnh tranh sống còn được phát sóng trên kênh Mnet vào cuối năm.[15] Chương trình bắt đầu vào ngày 5 tháng 5 và kết thúc với đội hình 7 thành viên ban đầu gồm: Nayeon, Jeongyeon, Sana, Jihyo, Mina, DahyunChaeyoung. Tuy nhiên, JYP cho rằng nhóm sẽ hoàn hảo hơn nếu tăng thành viên từ 7 lên 9 và quyết định chọn thêm Tzuyu theo ý kiến của khán giả vì cô là thí sinh nổi tiếng nhất trước khi chương trình kết thúc và Momo theo ý kiến của Park Jin Young vì ông nghĩ nhóm cần thêm một nhân tố có khả năng vũ đạo xuất sắc như Momo. Quyết định này gây tranh cãi vào lúc đó vì nhiều người phàn nàn về việc thí sinh đã bị loại lại có thể vào nhóm.[16][17][18]

Ngày 7 tháng 10, JYP Entertainment ra mắt trang web chính thức của nhóm và thông báo qua các trang mạng xã hội nhóm sẽ ra mắt với EP The Story Begins và bài hát chủ đề Like OOH-AHH. Ca khúc được mô tả mang âm hưởng color pop dance với các yếu tố như hip-hop, rockR&B.[19][20] Trong đội ngũ sáng tác có cả Black Eyed Pilseung - nổi tiếng nhờ cho ra những ca khúc thành công tiêu biểu như "Only You" của Miss A.[21][22] Album và video âm nhạc của bài hát được phát hành vào ngày 20 tháng 10. Nhóm còn tổ chức một showcase trực tiếp trong cùng một ngày, nơi họ biểu diễn tất cả các ca khúc trong EP.[23][24][25] The Story Begins gia nhập bảng xếp hạng Gaon Album Chart hàng tuần ở vị trí thứ tư và leo lên vị trí thứ ba hai tuần sau đó trong khi ca khúc chủ đề ra mắt ở vị trí thứ 22 trên bảng xếp hạng Gaon Digital Chart và leo lên vị trí thứ 10 sau ba tháng ra mắt.[26][27][28][29] Bài hát cũng lọt vào Billboard World Digital Song Sales ở vị trí thứ sáu.[30] Video âm nhạc ra mắt của nhóm đạt 50 triệu lượt xem trong vòng 5 tháng ra mắt, đã trở thành một trong những video âm nhạc ra mắt của các nhóm nhạc Kpop có lượt xem nhiều nhất trên YouTube.[31][32][33] Ngày 12 tháng 2, Twice nhận được đề cử và giải thưởng lần đầu tiên trong sự nghiệp tại Mnet Asian Music Awards 2015 với giải Nữ nghệ sĩ mới xuất sắc nhất.[34][35][36] Ngày 27 tháng 12, nhóm biểu diễn một phiên bản remix của ca khúc "Like OOH-AHH" trên SBS Gayo Daejeon, đây là lần đầu tiên Twice tham gia vào một chương trình âm nhạc cuối năm.[37][38]

2016 – 2017: Sự nổi tiếng, chuyến lưu diễn đầu tiên, ra mắt tại Nhật BảnSửa đổi

Ngày 11 tháng 4 năm 2016, JYP Entertainment đã thông báo lên Facebook và các trang mạng xã hội của Twice rằng nhóm sẽ phát hành mini album thứ hai mang tên Page Two và ca khúc chủ đề "Cheer up".[39] Ngày 25 tháng 4, Twice phát hành EP thứ hai Page Two bao gồm ca khúc chủ đề "Cheer Up", ca khúc "Precious Love" là bản remake của Park Ji-yoon và "I'm Gonna Be A Star" được xem như ca khúc chủ đề của chương trình Sixteen cùng bốn ca khúc khác.[40][41] "Cheer Up" ngay khi ra mắt đã càn quét các bảng xếp hạng trong nước và nhanh chóng leo lên vị trí dẫn đầu trên bảng xếp hạng Gaon Digital Chart và vị trí thứ ba trên bảng xếp hạng Billboard World Digital Song Sales chỉ trong tuần ra mắt.[42][43][44] Bài hát đạt thành công thương mại lớn khi xếp vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Gaon Digital Chart năm 2016.[45] Đồng thời tính đến cuối năm, ca khúc đứng đầu bảng xếp hạng Gaon Streaming Chart năm 2016 khi nhận được 111.556.482 lượt streaming trên các trang nhạc số thuộc khuôn khổ của Gaon cùng lượng tải kỹ thuật số trong năm 2016 là 1.839.566 lượt, đứng thứ hai của năm.[46][47] Album "Page Two" cũng lần lượt leo lên vị trí á quân và vị trí thứ sáu trên các bảng xếp hạng Gaon Album ChartBillboard World Albums.[48][49] Ngày 5 tháng 5, Twice chính thức giành được chiếc cúp chiến thắng chương trình âm nhạc đầu tiên đầu tiên trên M! Countdown trong đợt quảng bá ca khúc "Cheer Up", đúng tròn một năm kể từ ngày Sixteen lên sóng.[50] Sau đó, họ liên tục giành chiến thắng trên Music BankInkigayo.[51] Đến tháng 8, EP thứ hai Page Two của Twice đã bán được hơn 150.000 bản giúp Twice trở thành nhóm nhạc nữ đầu tiên tẩu tán được hơn 100.000 bản trong năm ấy.[52]

Vào ngày 23 tháng 9, Twice công bố hai màu sắc đại diện chính thức của nhóm là Apricot (màu mơ) và Neon Magenta (màu hồng neon).[53] Ngày 19 tháng 10, Twice tiết lộ lightstick chính thức của họ được gọi là "Candy Bong", được lấy cảm hứng từ bài hát "Candy Boy" trong EP đầu tiên của Twice.[54] Trong lễ kỷ niệm Twice's first anniversary tròn một năm ra mắt, nhóm đã tiết lộ bài hát mới "One in a Million", thông qua chương trình phát sóng trực tiếp trên Naver V Live vào ngày 20 tháng 10 lúc 22:30 KST.[55] Ngày 24 tháng 10, Twicecoaster: Lane 1 và video âm nhạc của bài hát chủ đề "TT" thể loại dance pop dịu êm và vui tươi được phát hành trực tuyến.[56][57] Sau khi ra mắt, "TT" đã giữ vững vị trí quán quân trong bốn tuần liên tiếp trên bảng xếp hạng Gaon Digital Chart cũng như đạt được vị trí á quân trên Billboard World Digital Song Sales[58][59] Ca khúc sau này đã đứng ở vị trí thứ 6 trên bảng xếp hạng Billboard Japan Hot 100 năm 2017 và là bài hát tiếng Hàn duy nhất góp mặt trong bảng xếp hạng.[60] Twicecoaster: Lane 1 cũng gia nhập vào Gaon Album Chart ở vị trí quán quân và gia nhập Billboard World Album ở vị trí thứ ba.[61][62] Album sau đó đạt doanh số 350.852 bản bán ra tại Hàn Quốc vào cuối năm 2016, trở thành album duy nhất của nhóm nhạc nữ Hàn Quốc bán ra hơn 200.000 bản.[63][64]

 
Twice biểu diễn tại Dream Concert vào ngày 15 tháng 10 năm 2016

Vào ngày 11 tháng 11, video âm nhạc "Like OOH-AHH" của nhóm đạt 100 triệu lượt xem trên Youtube đã đưa Twice trở thành nhóm nhạc nữ thứ tư của Kpop đạt được 100 triệu lượt xem và cũng là video âm nhạc ra mắt đầu tiên của mọi nhóm nhạc Kpop đạt được cột mốc này. Sáu ngày sau, video âm nhạc "Cheer Up" của Twice cũng đạt được thành tích tương tự.[65] Ngày 19 tháng 11, "Cheer Up" của Twice đã giành được giải Bài hát của năm tại Lễ trao giải Melon Music Awards lần thứ 8. Tiếp sau đó là giải thưởng Bài hát của năm tại Lễ trao giải Mnet Asian Music Awards lần thứ 18 vào ngày 2 tháng 12.[66][67] Cùng năm đó, "TT" cũng trở thành video đầu tiên của nữ nghệ sĩ Kpop vượt qua 200 triệu lượt xem và đạt 300 triệu lượt xem vào cuối năm.[68][69]

Ngày 10 tháng 1, JYP Entertainment đã thông báo đến người hâm mộ về tour diễn đầu tiên trong sự nghiệp của Twice chỉ sau một năm bốn tháng ra mắt. Tour lưu diễn của Twice mang tên: “Twiceland – The Opening” tổ chức trong 3 ngày từ 17 đến 19 tháng 2 tại sân vận động SK Olympic Handball Gymnasium đã bán sạch vé. Tour diễn được tổ chức đi qua Bangkok, Thái Lan vào ngày 8 tháng 4 và Singapore vào ngày 29 tháng 4 sau điểm dừng đầu tiên là Seoul.[70][71][72][73] Sau chuyến lưu diễn, Twice phát hành một album đặc biệt vào ngày 20 tháng 2 với tên gọi Twicecoaster: Lane 2 cùng với ca khúc chủ đề "Knock Knock". Đây là album tái phát hành của Twicecoaster: Lane 1.[74][75]

Twice tung ra trang web và các kênh truyền thông xã hội khác bằng tiếng Nhật vào đầu tháng 2.[76][77] Vào ngày 24 tháng 2, nhóm chính thức công bố rằng họ sẽ ra mắt tại Nhật với album tổng hợp mang tên #Twice được ấn định vào ngày 28 tháng 6 năm 2017.[78][79] Ngày 15 tháng 5, Twice phát hành EP thứ tư Signal với ca khúc chủ đề cùng tên do Park Jin-young sản xuất. Điều này đánh dấu sự hợp tác đầu tiên của nhóm với Park Jin-young. EP bao gồm 6 ca khúc, trong đó "Eye Eye Eyes" được thành viên JihyoChaeyoung cùng viết lời, và "Only You" do cựu thành viên Ha:tfelt của Wonder Girls phổ lời.[80][81]

 
Twice biểu diễn tại sự kiện Blue Run kỉ niệm lần thứ 30 của Pocari Sweat vào ngày 14 tháng 5 năm 2017

Ngày 14 tháng 6, Twice phát hành bản nhạc số "Signal (phiên bản tiếng Nhật)" cùng với video âm nhạc phiên bản ngắn, được xem là bản preview để đếm ngược đến thời điểm tung album. Một tuần sau, nhóm phát hành video âm nhạc đầy đủ của "TT" phiên bản tiếng Nhật.[82][83] Nhóm chính thức ra mắt tại Nhật Bản với việc phát hành #Twice vào ngày 28 tháng 6. Album bao gồm mười bài hát gồm cả hai phiên bản tiếng Hàn và tiếng Nhật của Like OOH-AHH, Cheer Up, TT, Knock Knock, Signal.[84] Vào ngày 2 tháng 7, Twice đã tổ chức showcase ra mắt mang tên "Touchdown in Japan" tại Tokyo Metropolitan Gymnasium với sự tham dự tổng cộng 15.000 người.[85][86][87] #Twice ra mắt ở vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng Oricon Albums với 136.157 bản được bán trong vòng bảy ngày kể từ khi phát hành.[5] Ngày 18 tháng 10, nhóm phát hành đĩa đơn tiếng Nhật đầu tiên "One More Time".[88][89][90] Đĩa đơn đạt được doanh số bán hàng lớn nhất trong ngày đầu tiên và là đĩa đơn bán chạy nhất của mọi nhóm nhạc nữ Hàn Quốc tại Nhật Bản tính đến thời điểm đó.[91][92] Cả #Twice và "One More Time" đều được chứng nhận Bạch kim của Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Nhật Bản (RIAJ).[93]

 
Twice tại MelOn Music Awards vào ngày 2 tháng 12 năm 2017

Vào ngày 30 tháng 10, Twice phát hành album phòng thu tiếng Hàn đầu tiên của nhóm, Twicetagram với ca khúc chủ đề "Likey". Video âm nhạc đã được quay ở Canada vào đầu tháng 9.[94][95] "Likey" được sáng tác bởi Black Eyed Pilseung và Jeon Gun. Đây là lần hợp tác thứ tư của nhóm với Black Eyed Pilseung. Tham gia sáng tác vào album này còn bao gồm các thành viên Hàn Quốc của Twice với vai trò phổ lời và cựu thành viên Hyerim của Wonder Girls, là người đồng sáng tác ca khúc thứ tám "Look at Me".[96][97] Album và bài hát chủ đề này lần lượt đứng đầu hai bảng xếp hạng của Billboard: World Albums và World Digital Song Sales, là vị trí số 1 đầu tiên của nhóm, đưa Twice trở thành nữ nghệ sĩ K-pop đầu tiên dẫn đầu cả hai bảng xếp hạng này. Nhóm cũng xuất hiện trong bảng xếp hạng album Heatseekers với album ra mắt ở vị trí thứ 10, cao hơn một bậc so với thứ hạng cao nhất của Signal ở vị trí số 11.[98] Ngày 11 tháng 12, album tái phát hành Twicetagram phiên bản Giáng sinh mang tên Merry & Happy với ca khúc chủ đề "Heart Shaker" được phát hành.[99][100]

Ngày 16 tháng 11, một thông báo chính thức được công bố qua cuộc họp báo ở Tokyo rằng nhóm sẽ tham dự chương trình Kōhaku Uta Gassen lần thứ 68, một lễ hội âm nhạc cuối năm có tỉ suất xem cao tại Nhật do NHK tổ chức.[101] Lễ hội diễn ra trực tiếp tại NHK Hall ngày 31 tháng 12, với màn trình diễn "phiên bản tiếng Nhật TT" của Twice. Twice là nghệ sĩ Hàn Quốc đầu tiên tham gia sự kiện này trong sáu năm qua và là nhóm nhạc Kpop thứ tư sau TVXQ, KaraGirls 'Generation.[102][103][104]

2018 – nay: "Candy Pop", What is Love?, BDZ, các chuyến lưu diễn, Yes or Yes, Fancy YouFeel SpecialSửa đổi

 
Twice trên thảm đỏ lễ trao giải Golden Disc Awards vào ngày 10 tháng 1 năm 2018.

Đĩa đơn maxi tiếng Nhật thứ hai của Twice "Candy Pop" được phát hành trước vào ngày 12 tháng 1 năm 2018 và CD đĩa đơn được lên kệ vào ngày 7 tháng 2. Nhóm cũng đã tổ chức chuyến lưu diễn đầu tiên của họ tại Nhật Bản mang tên Twice Showcase Live Tour 2018 "Candy Pop", bắt đầu từ ngày 19 tháng 1 tại tỉnh Aichi.[105][106] Ngày 9 tháng 4, Twice phát hành EP thứ 5 mang tựa đề "What Is Love? cùng với ca khúc chủ đề cùng tên được sáng tác bởi Park Jin Young. Ngày 16 tháng 5, nhóm phát hành đĩa đơn tiếng Nhật thứ ba mang tên "Wake Me Up" và đạt được chứng nhận bạch kim kép của RIAJ.[93][107] Chuyến lưu diễn thứ hai của nhóm: Twiceland Zone 2 – Fantasy Park đã bắt đầu khởi động tại Seoul vào ba ngày từ ngày 18 đến ngày 20 tháng 5,[108][109] thu hút hơn 90,000 người hâm mộ ở 6 thành phố khắp châu Á.[110]

Twice cũng đã thể hiện lại bản cover "I Want You Back" của The Jackson 5 làm nhạc phim chính cho bộ phim Nhật Bản Sensei Kunshu. Ngày 15 tháng 6, bài hát được phát hành dưới dạng đĩa đơn kĩ thuật số cùng với video âm nhạc.[111][112] Ngày 26 tháng 6, phiên bản video âm nhạc khác có sự kết hợp với dàn diễn viên bộ phim được phát hành.[113] Vào tháng 7, album tái phát hành của What Is Love? mang tên Summer Nights được phát hành cùng với ca khúc chủ đề "Dance the Night Away" do Wheesung viết lời.[114]

Vào ngày 12 tháng 9, Twice phát hành album phòng thu tiếng Nhật đầu tiên BDZ. Đĩa đơn cùng tên đã được phát hành trước dưới dạng đĩa đơn kỹ thuật số vào ngày 17 tháng 8.[115][116] Tiếp theo là chuyến lưu diễn của họ mang tên Twice 1st Arena Tour 2018 "BDZ", bắt đầu tại Chiba vào ngày 29 tháng 9.[117] Ngày 5 tháng 11, Twice trở lại với EP thứ 6 "Yes or Yes" cùng với ca khúc chủ đề cùng tên.[118][119] Video âm nhạc của ca khúc chủ đề thu được 31,4 triệu lượt xem trên Youtube trong ngày đầu ra mắt, trở thành video âm nhạc có lượt xem trong ngày đầu cao thứ bảy trên nền tảng này tính tại thời điểm đó.[120][121][122] Nhóm cũng đã phát hành album tổng hợp tiếng Nhật thứ hai #Twice2 vào ngày 6 tháng 3 năm 2019.[123][124] Album đã đạt chứng nhận bạch kim của RIAJ.[125]

Tháng 3 và tháng 4 năm 2019, Twice khởi động chuyến lưu diễn Nhật Bản "#Dreamday" thu hút tổng cộng 220,000 lượt người đến xem với 5 buổi trình diễn tại Osaka, TokyoNagoya.[124][126][127] Ngày 22 tháng 4, nhóm phát hành EP thứ bảy của họ Fancy You.[128] Video âm nhạc của ca khúc chủ đề cùng tên đạt được 42,1 triệu lượt xem trên nền tảng Youtube chỉ trong vỏn vẹn một ngày, đứng ở vị trí thứ bảy trong số các video âm nhạc có lượt xem cao nhất trong ngày đầu ra mắt.[129] Với việc phát hành Fancy You, Twice đã trở thành nhóm nhạc nữ Hàn Quốc tẩu tán được nhiều album nhất mọi thời đại khi bán ra tổng cộng 3.750.000 bản từ 12 album tại Hàn của họ, vượt qua kỉ lục đã tồn tại suốt 20 năm của nhóm nhạc nữ S.E.S.[130] Twice cũng đã bán hơn xấp xỉ 6 triệu album trên toàn cầu.[131]

Ngày 12 tháng 6 năm 2019, Twice đã trình làng hai đĩa đơn tiếng Nhật "Happy Happy" và "Breakthrough" mang các sắc thái âm nhạc khác nhau ở định dạng kỹ thuật số.[132] Vào ngày 17 tháng 7, JYP Entertainment công bố sẽ mở thêm 12 buổi hòa nhạc thuộc khuôn khổ chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới "TWICELIGHTS".[133] Cũng trong ngày này, định dạng đĩa cứng của "Happy Happy" được nhóm phát hành và định dạng đĩa cứng của "Breakthrough" cũng được phát hành sau đó một tuần.[127][132] Cả hai đĩa đơn đã giành được chứng nhận Bạch kim của RIAJ.[93][134]

Ảnh hưởngSửa đổi

Với mức độ nổi tiếng ở cả công chúng và cộng đồng fan lớn, Twice có những ca khúc hit liên tiếp. Chính vì những thành công trên, Twice được gán những tên gọi như "Nhóm nhạc quốc dân" (mới hoặc kế tiếp) hay "Nhóm nhạc nữ xu hướng hàng đầu".[135] Nhóm cũng nhận được những lời ca ngợi vì khả năng làm việc theo nhóm của họ cùng với vẻ thu hút độc đáo và riêng biệt của các thành viên. "Sự gây nghiện với killing part dễ thương lặp đi lặp lại", vũ đạo nổi bật và có điểm nhấn, bao gồm câu hát "shy shy shy" trong "Cheer Up", kiểu tạo dáng "TT" trong "TT " và "jjirit jjirit" ("tingling tingling") trong "Signal" đã trở thành cơn sốt vũ đạo, meme lan truyền và được nhiều người nổi tiếng bắt chước.[136][137][138][139] Nghệ sĩ nam giới thường chiếm ưu thế về doanh số bán đĩa do cộng đồng người hâm mộ rất lớn, nhưng Twice đã vượt qua ranh giới giới tính và tuổi nghề khi EP thứ hai của họ trở thành album bán chạy nhất của nhóm nhạc nữ K-pop và là album bán chạy thứ năm tính chung trong năm 2016.[45][140] Twice đứng vị trí đầu danh sách video âm nhạc phổ biến nhất trên YouTube Hàn Quốc trong hai năm liên tiếp với "Cheer Up" (2016) và "Knock Knock" (2017).[141]

Twice xếp thứ hai trong top 10 nghệ sĩ của cuộc khảo sát Gallup Hàn Quốc trong hai năm liên tiếp.[142][143][144] Năm 2016, Twice được nhắc đến trong "Báo cáo sự ảnh hưởng của giới trẻ năm 2016" của tạp chí Variety, danh sách hàng năm này thường gồm những diễn viên, nhà sáng tạo nội dung kĩ thuật số, nhạc sĩ và các nghệ sĩ trẻ khác, những người đã có ảnh hưởng đến showbiz trong năm vừa qua. Nhóm đứng ở vị trí 54, cũng là nhóm nhạc K-pop duy nhất trong danh sách. Năm 2017, Twice góp mặt trong Forbes Korea Power Celebrity, đứng thứ ba chung cuộc và đứng ở vị trí dẫn đầu trong số các nghệ sĩ thu âm. Họ cũng xuất hiện ở vị trí thứ 18 và là nghệ sĩ châu Á duy nhất trong bảng xếp hạng 21 Under 21 2017: Music's Next Generation của Billboard, là bảng xếp hạng hàng năm chỉ ra một số giọng hát trẻ nội lực nhất trên thế giới qua các thể loại âm nhạc khác nhau, có tính đến sự nổi tiếng, sự sáng tạo và ảnh hưởng của truyền thông xã hội.[145][146]

Trong cuộc bầu cử Tổng thống Hàn Quốc năm 2017, ứng cử viên và hiện là tổng thống Moon Jae-in từ đảng Dân chủ và ứng cử viên Yoo Seong-min từ đảng Bareun đã sử dụng bài "Cheer Up" của Twice với lời bài hát được sửa đổi cho phù hợp trong chiến dịch tranh cử của họ.[147][148]

Tại Nhật Bản, bất chấp sự vắng mặt của làn sóng Hàn Quốc từ truyền hình đến âm nhạc từ năm 2013, Twice ra mắt thành công vào tháng 6 năm 2017, bằng chứng là doanh số bán hàng rất lớn và đông đảo khán giả cho các sự kiện như KCON, showcase debut và Hi-Touch. Theo các chương trình và cuộc phỏng vấn địa phương, nhóm đã trở nên phổ biến ngay cả trước khi họ ra mắt chính thức, đặc biệt là với các thiếu nữ, bởi sự có mặt của các thành viên Nhật Bản (Momo, Sana và Mina) như câu nói "các fan có thể liên hệ và cảm thấy gần gũi với họ". NHK News chỉ ra nét đặc trưng của nhóm, là cầu nối quan hệ giữa hai nước, Nhật Bản và Hàn Quốc.[149][150][151][152][153] Twice nhận được sự chú ý khi xuất hiện trên nhật báo lớn nhất nước Nhật, Yomiuri Shimbun, và được miêu tả là "nhân vật chủ chốt mới trong sự thống trị thị trường làn sóng Hàn Quốc tại Nhật", trong khi báo chí Hàn Quốc cũng nhận xét rằng nhóm "đang khơi dậy lại sức nóng của K-pop ở Nhật Bản".[154][155][156] Vào tháng 11, Twice xếp vị trí thứ hai trên bảng xếp hạng Breakout Artists 2017 (Những nghệ sĩ đột phá) của Oricon. Họ cũng trở thành nữ nghệ sĩ nước ngoài đầu tiên đứng đầu cả ba mục xếp hạng dành cho tân binh trong bảng xếp hạng Oricon Ranking hàng năm lần thứ 50. Twice đạt được vị trí số 1 với tổng doanh số của một nghệ sĩ tân binh năm 2017, đạt 1,54 tỷ yen, cũng như những vị trí số 1 lần lượt trong số những album và đĩa đơn bán ra với #Twice và "One More Time".[157][158]

Đồng thời có báo cáo cho rằng Twice góp phần nhiều nhất cho sự tăng trưởng cổ phần của JYP Entertainment khi có sự tăng trưởng cổ phần gấp 7 lần so với 3 năm trước. Tính từ khi nhóm ra mắt vào năm 2015, cổ phần đã có sự tăng trưởng từ 4,500 won lên 31,400 won vào năm 2018.[159]

Đại sứ thương hiệuSửa đổi

 
Twice trong một sự kiện của Pocari Sweat vào tháng 05 năm 2017

Ngay cả trước khi Twice ra mắt chính thức, 9 thành viên đã kí kết hợp đồng làm người mẫu độc quyền cho thương hiệu đồng phục trường học Skoolooks cùng với Park Jin-young. Đến tháng 12 năm 2015, Twice đã ký kết 10 hợp đồng CF với tổng thu nhập 1,8 tỷ KRW.[160][161] Vào tháng 2 năm sau, họ là một trong những nhóm nhạc làm đại sứ thương hiệu có tỷ suất phát triển nhanh nhất trong ngành công nghiệp quảng cáo, đạt được 200 triệu won trong 6 tháng và 300 triệu won trong khoảng một năm.[162] Twice cũng là một trong những ngôi sao đại diện nổi tiếng của Lotte Duty Free. Họ cũng hợp tác với công ty giày Spris và tạo ra thương hiệu giày của chính mình mang tên "Twice by Spris".[163][164]

Vào đầu năm 2017, Twice được hãng sản xuất nước giải khát Donga Otsuka lựa chọn để quảng bá cho sản phẩm đồ uống thể thao hàng đầu của hãng là Pocari Sweat vào ngày kỷ niệm 30 năm thành lập. Họ trở thành nhóm nhạc thần tượng đầu tiên làm gương mặt đại diện cho sản phẩm nước uống mang tính biểu tượng. Pocari Sweat ghi nhận doanh thu 100 tỷ won trong nửa đầu năm này, tăng 10% so với năm 2016.[165][166] Tính đến năm 2017, Twice đã đại diện cho khoảng 30 thương hiệu khác nhau bao gồm mỹ phẩm, quần áo, trò chơi điện tử online, điện thoại di động, thực phẩm và đồ uống, thẻ tín dụng, túi xách và nhiều mặt hàng khác.[167] Quảng cáo thương mại trên truyền hình đầu tiên của Twice tại Nhật Bản nhằm quảng bá cho Ymobile đã được phát sóng trên toàn quốc từ ngày 2 tháng 2 năm 2018, quảng cáo có sự kết hợp giữa ca khúc pop phối lại "Y.M.C.A." và kí hiệu của Twice "TT pose".[168][169] Năm 2019, Twice trở thành đại sứ thương hiệu Hàn Quốc cho Estée Lauder.[170]

Thành viênSửa đổi

Nghệ danh Tên khai sinh Ngày sinh Nơi sinh Quốc tịch
Latinh Hangul Kana Latinh Hangul Kana Hanja Hán-Việt
Nayeon 나연 ナヨン Im Na-yeon 임나연 イム・ナヨン 林娜璉 Lâm Nhã Nghiên 22 tháng 9, 1995 (24 tuổi)   Gangdong-gu, Seoul, Hàn Quốc   Hàn Quốc
Jeongyeon 정연 ジョンヨン Yoo Jeong-yeon 유정연 ユ・ジョンヨン 兪定延 Du Trịnh Nghiên 1 tháng 11, 1996 (22 tuổi)   Suwon, Gyeonggi, Hàn Quốc
Momo 모모 も も Hirai Momo 히라이 모모 ひらい もも 平井桃 Bình Tỉnh Đào 9 tháng 11, 1996 (22 tuổi)   Kyoto, Nhật Bản   Nhật Bản
Sana 사나 サナ Minatozaki Sana 미나토자키 사나 みなとざき さな 湊崎 紗夏 Thấu Kì Sa Hạ 29 tháng 12, 1996 (22 tuổi)   Osaka, Nhật Bản
Jihyo 지효 ジヒョ Park Jihyo 박지수 パク・ジヒョ 朴志效 Phác Chí Hiệu 1 tháng 2, 1997 (22 tuổi)   Guri, Gyeonggi, Hàn Quốc   Hàn Quốc
Mina 미나 ミナ Myoui Mina / Sharon Myoui 묘이 미나 みょうい みな 名井 南 Danh Tỉnh Nam 24 tháng 3, 1997 (22 tuổi)   San Antonio, Texas, Hoa Kỳ   Nhật Bản /   Hoa Kỳ
Dahyun 다현 ダヒョン Kim Da-hyun 김다현 キム・ダヒョン 金多賢 Kim Đa Hiền 28 tháng 5, 1998 (21 tuổi)  Seongnam, Gyeonggi, Hàn Quốc   Hàn Quốc
Chaeyoung 채영 チェヨン Son Chae-young 손채영 ソン・チェヨン 孫彩瑛 Tôn Thái Anh 23 tháng 4, 1999 (20 tuổi)  Gangdong-gu, Seoul, Hàn Quốc
Tzuyu 쯔위 ツウィ Chou Tzuyu 조쯔위 チョウ・ツウィ 周子瑜 Chu Tử Du 14 tháng 6, 1999 (20 tuổi)   Quận Đông, Đài Nam, Đài Loan   Đài Loan

Theo một thống kê được thực hiện bởi Gallup Hàn Quốc vào năm 2018, 5 thành viên của Twice nằm trong danh sách top 20 thần tượng được yêu thích tại Hàn Quốc: Nayeon (hạng 6), Tzuyu (hạng 12), Jeongyeon và Sana (đồng hạng 17) và Momo (hạng 20).[144] Ở thống kê năm 2017, còn có sự góp mặt của Dahyun xếp hạng thứ 17, ngoài ra có thêm Nayeon (hạng 6), Tzuyu (hạng 9) và Jeongyeon (hạng 12).[143][171]

Danh sách đĩa nhạcSửa đổi

VideoSửa đổi

Video âm nhạcSửa đổi

Năm Ngày phát hành Tên Album
Tiếng Hàn
2015 20 tháng 10 Like Ooh-Ahh The Story Begins
2016 25 tháng 4 CHEER UP Page Two
24 tháng 10 TT TWICEcoaster: LANE 1
2017 20 tháng 2 KNOCK KNOCK TWICEcoaster: LANE 2
15 tháng 5 SIGNAL Signal
30 tháng 10 LIKEY Twicetagram
11 tháng 12 HEART SHAKER Merry & Happy
21 tháng 12 MERRY & HAPPY
2018 9 tháng 4 WHAT IS LOVE? What Is Love?
9 tháng 7 DANCE THE NIGHT AWAY Summer Nights
5 tháng 11 YES OR YES Yes Or Yes
12 tháng 12 THE BEST THING I EVER DID The Year Of "YES"
2019 22 tháng 4 FANCY Fancy You
2019 23 tháng 9 FEEL SPECIAL Feel Special
Tiếng Nhật
2017 6 tháng 6 Like OOH-AHH -Japanese ver.-(short ver.) #TWICE
13 tháng 6 SIGNAL -Japanese ver.-(Short ver.)
20 tháng 6 TT -Japanese ver.-
5 tháng 10 ONE MORE TIME One More Time
2018 12 tháng 1 CANDY POP Candy Pop
23 tháng 2 BRAND NEW GIRL
25 tháng 4 WAKE ME UP Wake Me Up
16 tháng 8 BDZ BDZ
2019 10 tháng 1 LIKEY -Japanese ver.- #TWICE2
7 tháng 2 What is Love? -Japanese ver.-
11 tháng 6 HAPPY HAPPY
BREAKTHROUGH
23 tháng 9 FEEL SPECIAL Feel Special

Video âm nhạc đã xuất hiệnSửa đổi

Năm Tên Nghệ sĩ Thành viên
2011 가면 안돼 San E Nayeon
2014 NO LOVE (Korean Ver.) Jun. K Nayeon
Girls Girls Girls Got7 Nayeon, Jungyeon
A Sana
Stop stop it(하지하지마) Dahyun, Momo, Mina, Chaeyoung, Tzuyu
FEEL (Korean Ver.) Junho Momo, Sana, Mina
2015 R.O.S.E (Korean Ver.) Wooyoung Dahyun
Only You(다른 남자 말고 너) Miss A Nayeon, Jungyeon, Momo, Mina, Chaeyoung, Tzuyu, Jihyo
2016 Fire J.Y.Park Nayeon, Jungyeon, Momo, Sana, Jihyo, Mina, Chaeyoung, Tzuyu
나비잠 (Sweet Dream) Heechul & Min Kyung-Hoon Momo
2017 Your Wedding(결혼식) Jun. K Nayeon
Instant love Junho Sana

Danh sách phimSửa đổi

PhimSửa đổi

Năm Tựa đề Vai diễn Ghi chú
2018 Twiceland Chính mình Định dạng ScreenX[a][172]

Chương trình thực tếSửa đổi

Năm Tựa đề Kênh Ghi chú
2015 Sixteen Mnet Chương trình truyền hình chọn ra các thành viên của Twice. Chương trình bắt đầu phát sóng vào ngày 5 tháng 5 năm 2016 (gồm 10 tập).
Twice TV Naver TV Cast, V Live Mùa đầu của chương trình chủ yếu xoay quanh các thành viên. Phát sóng tập đầu vào ngày 10 tháng 7 năm 2015 và tập cuối vào ngày 8 tháng 8 năm 2015 (gồm 5 tập).
Twice TV2 Phát sóng tập đầu vào ngày 23 tháng 10 năm 2015 và tập cuối vào ngày 25 tháng 12 năm 2015 (gồm 10 tập).
2016 Twice's Private Life Mnet Bắt đầu phát sóng vào ngày 1 tháng 3 năm 2016 (gồm 8 tập).
Twice TV Begins V Live Tổng hợp các tập đặc biệt xoay quanh các thành viên trong thời gian quảng bá ca khúc "Like Ooh-Ahh". Phát sóng tập đầu vào ngày 29 tháng 6 năm 2016 và tập cuối vào ngày 20 tháng 8 năm 2016 (gồm 8 tập).
Twice TV School Meal Club's Great Adventure School Meal Adventure là mùa đặc biệt với Dahyun, Chaeyoung và Tzuyu (gồm 2 tập).
Twice TV3 Naver TV Cast, V Live Các thành viên của Twice đi du lịch đến đảo Jeju trong kì nghỉ của họ. Phát sóng tập đầu vào ngày 29 tháng 4 năm 2016 và tập cuối vào ngày 17 tháng 6 năm 2016 (gồm 8 tập).
Twice TV4 Phát sóng tập đầu vào ngày 31 tháng 10 năm 2016 và tập cuối vào ngày 19 tháng 12 năm 2016 (gồm 8 tập).
Twice TV Special Tổng hợp các tập đặc biệt xoay quanh các thành viên trong thời gian quảng bá ca khúc "Knock Knock" và trong chuyến đi đến Australia (gồm 6 tập).
2017 Twice – Lost: Time JTBC, V Live Phát sóng tập đầu vào ngày 16 tháng 1 năm 2017 (gồm 21 tập).
Twice TV5: Twice in Switzerland V Live, MBC Every 1, MBC Music[173] Các thành viên Twice (ngoại trừ Jihyo) du lịch đến Thụy Sĩ trong kì nghỉ. Phát sóng tập đầu vào ngày 22 tháng 5 năm 2017 và tập cuối vào ngày 22 tháng 9 năm 2017 (gồm 24 tập).
Twice TV6 Naver TV Cast, V Live Các thành viên Twice du lịch đến Singapore trong kì nghỉ. Phát sóng tập đầu vào ngày 8 tháng 11 năm 2017 và tập cuối vào ngày 16 tháng 12 năm 2017 (gồm 12 tập).
2018 Twice TV 2018 Naver TV Cast, V Live, YouTube Tổng hợp các tập đặc biệt xoay quanh các thành viên trong năm 2018. Phát sóng tập đầu vào ngày 13 tháng 1 năm 2018 (gồm 12 tập).
Twice TV: What Is Love Tổng hợp các tập đặc biệt xoay quanh các thành viên trong thời gian quảng bá ca khúc "What Is Love?". Phát sóng tập đầu vào ngày 18 tháng 4 năm 2018 và tập cuối vào ngày 19 tháng 5 năm 2018 (gồm 10 tập).
Twice TV: Dance The Night Away Phát sóng tập đầu vào ngày 9 tháng 7 năm 2018 (gồm 5 tập).
Twice TV: Yes or Yes Phát sóng tập đầu vào ngày 12 tháng 11 năm 2018 (gồm 9 tập, 3 tập đặc biệt).
Twice TV: The Best Thing I Ever Did Phát sóng tập đầu vào ngày 21 tháng 12 năm 2018 (gồm 2 tập).
2019 Twice TV: Fancy Phát sóng tập đầu vào ngày 9 tháng 4 năm 2019 (gồm 15 tập).
Twice in Hawaii AbemaTV Phát sóng tập đầu vào ngày 19 tháng 7 năm 2019 (gồm 3 tập).

DVDSửa đổi

  • Page Two Monograph[174][175]
  • 2017 Season's Greetings[176]
  • Twicecoaster: Lane 1 Monograph[177]
  • Twice 1st Photo Book "One in a Million"[178]
  • Twice Super Event[179]
  • Twice Debut Showcase "Touchdown in Japan"[180]
  • Twicezine: Jeju Island Edition[181]
  • Signal Monograph[182]
  • 2018 Season's Greetings "First Love"[183]
  • Twiceland – The Opening[184]
  • Twicetagram Monograph[185]
  • Merry & Happy Monograph[186]
  • Twiceland – The Opening (Encore)[187]
  • Once Begins Twice Fanmeeting[188]
  • 2019 Japan Season's Greetings "Twice Airlines"[189]
  • 2019 Season's Greetings "The Roses"[190]
  • Twiceland Zone 2: Fantasy Park[191]

Lưu diễnSửa đổi

 
Twice biểu diễn tại KCON LA vào tháng 7 năm 2016

Chuyến lưu diễn chính

  • Twice 1st Tour: Twiceland – The Opening (2017)
  • Twice Showcase Live Tour 2018 "Candy Pop" (2018)
  • Twice 2nd Tour: Twiceland Zone 2 – Fantasy Park (2018)
  • Twice 1st Arena Tour 2018 "BDZ" (2018)
  • Twice Dome Tour 2019 "#Dreamday" (2019)
  • Twice World Tour 2019 "Twicelights" (2019)

Concert chính

  • Twice Debut Showcase "Touchdown in Japan" (2017)

Giải thưởng và đề cửSửa đổi

Năm 2016, Twice đã giành cúp chương trình âm nhạc đầu tiên với "Cheer Up" vào tập 472 phát sóng ngày 5 tháng 5 của M Countdown.[192] Một năm sau, với tổng cộng 36 chiếc cúp chương trình âm nhạc trong năm 2017, Twice đạt kỷ lục có nhiều cúp chiến thắng nhất trong vòng một năm.[193] Tính đến tháng 5 năm 2018, Twice trở thành nghệ sĩ đầu tiên dành được 7 chiến thắng Triple Crown (chiến thắng vào ba tuần) trên chương trình Inkigayo.[194]

Ở các lễ trao giải thưởng lớn, Twice cũng giành được nhiều giải thưởng lớn và danh giá như Bài hát của năm với "Cheer Up" trong hai giải thưởng âm nhạc lớn là Melon Music AwardsMnet Asian Music Awards vào năm 2016. Năm 2017, "Signal" trong EP thứ tư cùng tên của Twice đã giành được giải thưởng Bài hát của năm lần thứ hai tại Mnet Asian Music Awards 2017.[195] Twice đã chiến thắng giải thưởng Bài hát của năm lần thứ ba liên tiếp tại Mnet Asian Music Awards 2018 với bài hát "What Is Love?" từ album cùng tên, giúp nhóm trở thành nhóm nhạc duy nhất dành chiến thắng giải thưởng này trong 3 năm liên tiếp.[196]

Ngày 3 tháng 11 năm 2017, Twice nhận được Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch tại Korean Popular Culture and Arts Awards,[197] là giải thưởng được tổ chức từ năm 2010 "nhằm vinh danh những đối tượng có đóng góp với văn hoá nhạc pop đương đại và nghệ thuật nói chung, bao gồm các diễn viên, ca sĩ, diễn viên hài, người mẫu".[198] Ngày 19 tháng 8 năm 2019, Twice được thông báo sẽ nhận giải thưởng "Hallyu Culture Grand Prize", còn được gọi là giải thưởng của Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch Hàn Quốc tại Triển lãm Văn hóa Hallyu Newsis 2019 vào ngày 23 tháng 8.[199][200][201]

Ghi chúSửa đổi

  1. ^ ScreenX là một hệ thống chiếu phim đa chiều cung cấp trải nghiệm xem phim toàn cảnh 270 độ tại rạp.

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ “TWICE”. Warner Music Japan. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2019. 
  2. ^ Lee, Nancy. “[Video] Twice Enters Girl Group Competition with 'Like OOH-AHH'. Mwave. CJ E&M Corp. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2015. 
  3. ^ “TWICE surpassed 1 mln album sales”. YonhapNews. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017. 
  4. ^ “Girl Group TWICE Sells Over 1 Million Albums”. The Chosunilbo (Chosun Media). Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2017. 
  5. ^ a ă #Twice on Oricon Album Chart (2017):
  6. ^ Kim, Eun-ae. “트와이스, 日 오리콘 차트 사흘째 1위..2년간 앨범 최다판매”. Naver (bằng tiếng Hàn) (Osen). Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2015. 
  7. ^ “TWICE's Japanese debut album sells over 250,000 copies”. Yonhap News (Yonhap News Agency). Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2017. 
  8. ^ Jeong, An-ji. “[공식]트와이스 日 첫 싱글, 플래티넘 싱글 인증 "韓 걸그룹 최초". Naver (bằng tiếng Hàn) (Chosun Sports). Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2017. 
  9. ^ “ビルボードジャパン 2017年年間チャート発表”. Billboard Japan (bằng tiếng Nhật) (Billboard Japan). Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2017. 
  10. ^ Won, Ho-Jung (29 tháng 4 năm 2015). “‘Sixteen’ compete for spot in JYP’s next girl group”. Korea Herald (bằng tiếng Anh) (The Korea Herald). Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019. 
  11. ^ Yun, Seong-yeol. “[단독] JYP, 역대급미모 新걸그룹 출격..'내년 상반기·6인조'. StarNews (bằng tiếng Triều Tiên). StarNews. Truy cập Ngày 7 tháng 7 năm 2015. 
  12. ^ Yoon, Seong-yeol. “[단독]'선미 피처링' 리나, JYP新걸그룹 데뷔..미모·실력 겸비”. Naver (bằng tiếng Hàn). Star News. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2015. 
  13. ^ Kim, Jae-heun. “K-pop mogul wants severe competition for girl band”. The Korea Times. The Korea Times. Truy cập Ngày 7 tháng 7 năm 2015. 
  14. ^ “10 Must-Know Facts About K-pop Darlings TWICE”. Billboard. Billboard. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2017. 
  15. ^ Yoo, Ji-hye. “[단독] Mnet-JYP 손잡았다...걸그룹 제작 프로 론칭”. Naver (bằng tiếng Hàn). MBN. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2015. 
  16. ^ Yoon, Hyo-jin. '식스틴 논란' JYP 측 "모모 추가합격, 완성도 높은 트와이스를 위해 결정" (공식입장)”. Naver (bằng tiếng Hàn) (The Financial news). Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2017. 
  17. ^ Kim, Min-gi. “JYP측 "트와이스 모모 합류 이유있어…내정설, 사실 아니다". Naver (bằng tiếng Hàn) (Money Today). Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2017. 
  18. ^ Kang, Seo-jeong. “JYP 측 "논란 겸허히 받아들인다..서툰 점 양해해달라"[공식입장 전문]”. Naver (bằng tiếng Hàn) (OSEN). Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2017. 
  19. ^ “TWICE 2015.10.20 THE STORY BEGINS”. Twitter. JYP Entertainment. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2017. 
  20. ^ “The Story Begins”. JYP Entertainment. JYP Entertainment. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2017. 
  21. ^ “Twice′s Tzuyu and Mina Talk About Adjusting to Life in Korea”. Mwave. Newsen. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2015. 
  22. ^ Hong, Se-yeong. “JYP 측 "신인 걸그룹 트와이스 오는 20일 전격 데뷔" [공식입장]”. Sports Donga (bằng tiếng Hàn). Sports Donga. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2015. 
  23. ^ Kim, Myeong-seon. “트와이스, 평균나이 19세·최강 비주얼 그룹의 탄생”. TV Report (bằng tiếng Hàn). TV Report. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2015. 
  24. ^ Won, Ho-jung. “Twice's 'Story Begins'. K-pop Herald. Herald Corporation. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2015. 
  25. ^ Lee, Sang-eun. “트와이스, 데뷔곡 '우아하게' 공개에 눈물바다 "초심 잃지 않겠다". Kyeongin Ilbo (bằng tiếng Hàn). Kyeongin Ilbo. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2015. 
  26. ^ “2015년 44주차 Album Chart” [Week 44 of 2016 Album Chart]. Gaon Music Chart (bằng tiếng Hàn). Truy cập Ngày 13 tháng 5 năm 2016. 
  27. ^ “2015년 46주차 Album Chart”. Gaon Music Chart (bằng tiếng Hàn). Truy cập Ngày 13 tháng 5 năm 2016. 
  28. ^ “2015년 44주차 Digital Chart”. Gaon Music Chart (bằng tiếng Hàn). Korea Music Content Industry Association. Truy cập Ngày 15 tháng 8 năm 2017. 
  29. ^ “2016년 04주차 Digital Chart”. Gaon Music Chart (bằng tiếng Hàn). Korea Music Content Industry Association. Truy cập Ngày 15 tháng 8 năm 2017. 
  30. ^ “World Digital Song Sales – The week of January 2, 2016”. Billboard. Truy cập Ngày 15 tháng 8 năm 2017. 
  31. ^ Ahn, Sung-mi. “Twice to return on April 25”. K-pop Herald. Herald Corporation. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2016. 
  32. ^ Kim, Gyeong-min. “트와이스 '우아하게', 데뷔곡 단일 MV 유튜브 최다 조회수 기록”. Xports News (bằng tiếng Hàn). Xports Media. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2016. 
  33. ^ “TWICE's music video hits 50 million”. Yonhap News. Yonhap News Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2016. 
  34. ^ “Best New Female Artist”. Mnet Asian Music Awards. CJ E&M Corp. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2017. 
  35. ^ Lee, Nancy. “[2015 MAMA] iKON and Twice Win Best New Artist Awards”. Mwave (CJ Digital Music). Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2017. 
  36. ^ Lee, Ji-hyeon. '골든디스크' 세븐틴-트와이스, JTBC2 신인상 수상 '글로벌 인기'. Nate (bằng tiếng Hàn) (Sports Chosun). Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2017. 
  37. ^ '가요대전' 트와이스 쯔위, 레드 체크 의상으로 성탄절 분위기 물씬~”. Nate (bằng tiếng Hàn). Herald Corporation. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2015. 
  38. ^ “[2015 가요대전] 트와이스 'OOH-AHH하게' 참을 수 없는 상큼함”. Nate (bằng tiếng Hàn). Sports Donga. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2015. 
  39. ^ Lee Han-soo (Ngày 24 tháng 4 năm 2016). “TWICE returns with new album”. The Korea Times. Truy cập Ngày 24 tháng 4 năm 2016. 
  40. ^ Jung, Eun-jin. “Twice to move on to 'Page Two'. The Korea Herald. Truy cập Ngày 25 tháng 4 năm 2015. 
  41. ^ Lee, Han-soo (24 tháng 4 năm 2016). “TWICE returns with new album”. Korea Times (bằng tiếng Anh) (The Korea Times). Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2019. 
  42. ^ Park, Sae-jin (26 tháng 4 năm 2016). “TWICE hits million mark with 'Cheer Up' on YouTube in less than a day”. Aju Daily (bằng tiếng Anh) (Aju Business Daily). Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2019. 
  43. ^ “BNTNews- TWICE to Sweep the Music Chart”. BNT News UK (International BNT News). Ngày 25 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2019. 
  44. ^ “국내 대표 음악 차트 가온차트!”. Gaon Chart. Gaon Music Chart. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2019. 
  45. ^ a ă “2016년 Digital Chart”. Gaon Chart (bằng tiếng Hàn). Korea Music Content Industry Association. Truy cập Ngày 22 tháng 5 năm 2017. 
  46. ^ “2016년 Download Chart”. Gaon Chart (bằng tiếng Hàn). Korea Music Content Industry Association. Truy cập Ngày 1 tháng 7 năm 2017. 
  47. ^ “2016년 Streaming Chart”. Gaon Chart (bằng tiếng Hàn). Korea Music Content Industry Association. Truy cập Ngày 1 tháng 7 năm 2017. 
  48. ^ “2016년 18주차 Album Chart” (bằng tiếng Hàn). Gaon Music Chart. Ngày 5 tháng 5 năm 2016. Truy cập Ngày 4 tháng 5 năm 2016. 
  49. ^ “World Music: Top World Albums Chart”. Billboard. Truy cập Ngày 3 tháng 5 năm 2016. 
  50. ^ Yoon, Jun-pil. '엠카운트다운' 트와이스, 1위 수상 "'식스틴' 첫 방송 1주년…1위 주셔서 감사". TenAsia (bằng tiếng Triều Tiên). Korea Entertainment Media. Truy cập Ngày 5 tháng 5 năm 2016. 
  51. ^ Yoon, Jun-pil. '‘인기가요' 트와이스, '치어 업'으로 1위…지상파 2연속 1위”. TenAsia (bằng tiếng Triều Tiên). Korea Entertainment Media. Truy cập Ngày 8 tháng 5 năm 2016. 
  52. ^ “TWICE Sells 150,000 Records”. bntnew. 
  53. ^ “TWICE OFFICIAL COLORS APRICOT + NEON MAGENTA”. Twitter. JYP Entertainment. Truy cập Ngày 25 tháng 9 năm 2016. 
  54. ^ “TWICE reveal their official 'Candy Bong' light stick”. SBS PopAsia. Truy cập Ngày 19 tháng 10 năm 2016. 
  55. ^ Jeon, Won. “트와이스 사나, 1주년 기념 파티서 눈물 "옛날 생각나". Naver (bằng tiếng Hàn). My Daily. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2016. 
  56. ^ “TWICE reveals highlights of its new EP 'TWICEcoaster: Lane 1'. Yonhap. Yonhap News Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 10 năm 2016. Truy cập Ngày 24 tháng 10 năm 2016. 
  57. ^ “TWICE's new EP bets on cheerful vibe”. Yonhap. Yonhap News Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2018. Truy cập Ngày 24 tháng 10 năm 2016. 
  58. ^ "TT" trên Gaon Digital Chart:
  59. ^ “World Digital Song Sales”. Billboard. Ngày 12 tháng 11 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2016. 
  60. ^ “2017 Year-End Rankings”. Billboard Japan (bằng tiếng Nhật). Ngày 8 tháng 12 năm 2017. Truy cập Ngày 8 tháng 12 năm 2017. 
  61. ^ “2016년 44주차 Album Chart”. Gaon Chart (bằng tiếng Hàn). Korea Music Content Industry Association. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2019. 
  62. ^ “World Albums”. Billboard. Ngày 12 tháng 11 năm 2016. Truy cập Ngày 31 tháng 10 năm 2016. 
  63. ^ “트와이스… 새로운 '넘사벽' 그룹의 출현”. Naver TV Cast (bằng tiếng Hàn) (Naver). 22 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2019. 
  64. ^ “2016년 Album Chart”. Gaon Chart. Korea Music Content Industry Association. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2019. 
  65. ^ “TWICE's music video hits 100 million views'. Yonhap. Yonhap News Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2016. 
  66. ^ Lee, Sang-won. “Winners from the 2016 MelOn Music Awards”. Kpop Herald. Herald Corporation. Truy cập Ngày 8 tháng 3 năm 2017. 
  67. ^ Lee, Bora. “[2016 MAMA] Twice Wins the HotelsCombined Song of the Year Award”. Mwave. CJ E&M enewsWorld. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2017. 
  68. ^ “TWICE's 'TT' music video tops 200 mln YouTube views”. Yonhap News Agency. Ngày 26 tháng 5 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2017. Truy cập Ngày 23 tháng 6 năm 2017. 
  69. ^ Jun, R. “TWICE's 'TT' music video tops 300 mln YouTube views”. Yonhap News Agency. Yonhap News. Truy cập Ngày 22 tháng 12 năm 2017. 
  70. ^ Min, Susan. “Twice to Hold First Solo Concert Since Debut”. Mwave. Mwave. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2017. 
  71. ^ Min, Susan. “Twice Sells Out of Tickets for First Solo Concert”. Mwave. Mwave. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2017. 
  72. ^ Han, Ah-reum. '첫 단콘' 트와이스, 5000개 야광봉과 함께 빛나다(종합)”. Star News (bằng tiếng Hàn). Star News. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2017. 
  73. ^ Yoon, Min-sik. “(Photo) Twice wraps up encore Seoul concert”. The Korea Herald. Herald Corporation. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2017. 
  74. ^ “Girl group TWICE to release special album”. Yonhap News. Yonhap News Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2017. 
  75. ^ Yoon, Min-sik. “Twice reveals new teaser image for upcoming album”. Kpop Herald (Herald Corporation). Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2017. 
  76. ^ “TWICE to debut in Japan in June”. Yonhap News. Yonhap News Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2017. 
  77. ^ “女子中高生に人気の"TTポーズ"を生んだ、ピコ太郎超えの韓国グループとは?”. Oricon News (bằng tiếng Nhật). Oricon ME Inc. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2017. 
  78. ^ “2017年6月28日にデビューにしてベストアルバム「#TWICE」リリースで日本上陸!!”. Twice Japanese website (bằng tiếng Nhật). Warner Music Japan. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2017. 
  79. ^ Yoon, Min-sik. “Twice to debut in Japan”. K-pop Herald. Herald Corporation. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2017. 
  80. ^ Jie, Ye-eun. “Twice confirms new album release in May”. Kpop Herald (Herald Corporation). Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2017. 
  81. ^ Hong, Dam-young. “Twice sends 'Signal' with fourth EP”. Kpop Herald (Herald Corporation). Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2017. 
  82. ^ “SIGNAL -Japanese ver.- TWICE” (bằng tiếng Nhật). Recochoku. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2017. 
  83. ^ “[JYP ENT] TWICE 'TT' MV (Japanese Ver.)”. Facebook. BSPictures Co., Ltd. Ngày 21 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2017. 
  84. ^ “Twice Japan Debut Best Album #Twice”. Twice Japanese website (bằng tiếng Nhật). Warner Music Japan. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2017. 
  85. ^ Lee, Seung-rok. “[MD재팬] 트와이스, 7월 도쿄서 日 첫 단독 쇼케이스…본격 진출”. Naver (bằng tiếng Hàn) (My Daily). Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2017. 
  86. ^ “7月2日(日)TWICE DEBUT SHOWCASE "Touchdown in JAPAN"開場・開演時間発表!”. Twice Japanese Website (bằng tiếng Nhật). Warner Music Japan. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2017. 
  87. ^ “TWICE、日本初ワンマンに1万5000人熱狂!日本人メンバーも笑顔で凱旋<ライブレポ・セットリスト>”. Model Press (bằng tiếng Nhật). Ngày 2 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2018. 
  88. ^ “TWICE to drop new song 'One More Time' in Japan”. Yonhap News (Yonhap News Agency). Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2017. 
  89. ^ Kelley, Caitlin. “TWICE to Release 'One More Time,' First Japanese Single, in October”. Billboard (Billboard). Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2017. 
  90. ^ Kelley, Caitlin. “K-Pop Girl Group Twice Share Cartoonish 'One More Time' Video”. Billboard (Billboard). Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2017. 
  91. ^ Lee, Eun-jeong. "일본서 K팝 열기 재점화"…트와이스 싱글 오리콘차트 1위”. Naver (bằng tiếng Hàn) (Yonhap News Agency). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2017. 
  92. ^ “TWICE's new Japanese single sells over 130,000 copies”. Yonhap News (Yonhap News Agency). Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2017. 
  93. ^ a ă â ゴールドディスク認定 一般社団法人 日本レコード協会 (bằng tiếng Nhật). Recording Industry Association of Japan. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2017.  Ghi chú: Để truy xuất các chứng nhận, 1) Nhập TWICE vào khung "アーティスト", 2) nhấp 検索
  94. ^ Jeong, Joon-hwa. “[단독] 트와이스, 캐나다에서 신곡 M/V 촬영..컴백 임박”. Naver (bằng tiếng Hàn) (Sports Chosun). Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2017. 
  95. ^ Baek, Ah-young. “트와이스, 9인 9색 하트가 터지는 타이틀곡 'Likey'로 30일 정규 1집 'Twicetagram' 컴백!”. Naver News (bằng tiếng Hàn) (iMBC). Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2017. 
  96. ^ Jeong, Ji-won. "트와이스 위한 히든트랙"…블아필, 1년만 'Likey' 지원사격”. Naver (bằng tiếng Hàn) (Osen). Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2017. 
  97. ^ “(LEAD) TWICE thrilled to release first full-length album 'Twicetagram'. Yonhap. Yonhap News Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2016. 
  98. ^ Benjamin, Jeff. “TWICE Earn First No. 1s on Both World Albums & World Digital Song Sales Charts”. Billboard (Billboard Music). Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2017. 
  99. ^ “TWICE to drop repackaged edition of 'Twicetagram' next month”. Yonhap News. Yonhap News Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2017. 
  100. ^ “Merry & Happy”. Naver Music (bằng tiếng Hàn). Naver. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2017. 
  101. ^ Smith, Alyssa. “Twice and Daichi Miura among 10 debuts at this year's 'Kohaku'. The Japan Times (The Japan Times LTD). Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2017. 
  102. ^ “<速報>「第68回 NHK紅白歌合戦」出場歌手発表”. Model Press (bằng tiếng Nhật) (Model Press). Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2017. 
  103. ^ “韓国グループから6年ぶり紅白・TWICE、選考理由は?NHKも"TTポーズ"ブーム評価<第68回NHK紅白歌合戦>”. Model Press (bằng tiếng Nhật) (Model Press). Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2017. 
  104. ^ “6年ぶりの韓流"復活" ひふみんのTTポーズに「かわいい!」”. Sankei (bằng tiếng Nhật) (Sankei Shimbun). Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2017. 
  105. ^ “TWICE to drop new Japanese single album”. Yonhap News (Yonhap News Agency). Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2018. 
  106. ^ “JAPAN 2nd SINGLE「Candy Pop」の先行配信スタート!”. Twice Official Japanese website (bằng tiếng Nhật). Warner Music Japan. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2018. 
  107. ^ Min-suk, Yoon (22 tháng 5 năm 2018). “Twice marks a hit in Japan for 3rd straight time”. www.koreaherald.com (bằng tiếng Anh) (The Korea Herald). Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019. 
  108. ^ Hong Dam-young (ngày 25 tháng 3 năm 2018). “Twice to release album on April 9”. The Korea Herald. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2018. 
  109. ^ “TWICE、日本3rdシングル「Wake Me Up」を5月にリリース!ABC-MART新TVCM出演も決定”. M-On! Music (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2018. 
  110. ^ Yim, Hyun-su. “Twice ends 2nd Asia tour, wowing thousands of fans”. Kpop Herald (Herald Corporation). Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2018. 
  111. ^ “竹内涼真×浜辺美波「センセイ君主」TWICE歌う主題歌MV公開”. Natalie (bằng tiếng Nhật) (Natasha, Inc.). Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018. 
  112. ^ Park, Sae-jin. “Girl band TWICE to sing remake of Jacksons 'I Want You Back'. Aju Business Daily (Ajunews Corporation). Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2018. 
  113. ^ “竹内涼真や浜辺美波がTWICEとダンス!「センセイ君主」コラボMV完成”. Natalie (bằng tiếng Nhật) (Natasha, Inc.). Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2018. 
  114. ^ Herman, Tamar. “TWICE Get Ready to 'Dance the Night Away' in Tropical New Video: Watch”. Billboard (Billboard). Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2018. 
  115. ^ “TWICE to release first full-length album in Japan”. Yonhap News Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2018. 
  116. ^ Herman, Tamar. “TWICE Save Happiness in Music Video for Japanese Single 'BDZ': Watch”. Billboard (Billboard). Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2018. 
  117. ^ “TWICE、今秋アルバム発売&アリーナツアー開催を発表”. Billboard Japan (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2018. 
  118. ^ Choi, Ji-won. “Twice to release third album of the year Nov. 5”. The Korea Herald. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2018. 
  119. ^ Yim, Hyun-su. “Twice signals winter hit with new single 'Yes or Yes'. Kpop Herald (Herald Corporation). Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2018. 
  120. ^ “트와이스 'YES or YES' 음원 차트 1위…포브스 "뮤직비디오 세계 7위 기록". Hankyung. Korea Economic Daily. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2019. 
  121. ^ Kelley, Caitlin (Ngày 8 tháng 11 năm 2018). “TWICE's 'Yes or Yes' Becomes The Seventh-Biggest 24-Hour YouTube Debut Of All Time”. Forbes (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ Ngày 8 tháng 11 năm 2018. Truy cập Ngày 14 tháng 11 năm 2018. 
  122. ^ Benjamin, Jeff (Ngày 15 tháng 11 năm 2018). “TWICE Hit New Peak on YouTube Songs Chart With 'Yes or Yes'. Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ Ngày 1 tháng 12 năm 2018. Truy cập Ngày 1 tháng 12 năm 2018. 
  123. ^ “TWICE 2nd BEST ALBUM「#TWICE2」”. TWICE OFFICIAL SITE (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2019. 
  124. ^ a ă “트와이스, 한류 걸그룹다운 ‘기록’…오리콘 데일리 앨범차트 나흘째에도 선두”. Hankook Ilbo (bằng tiếng Hàn) (Hankook Ilbo Media Group). Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019. 
  125. ^ 박보람 (ngày 11 tháng 4 năm 2019). “TWICE wins 6th Japanese discographic platinum certificate”. Yonhap News Agency. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2019. 
  126. ^ “TWICE、22万人を動員した初のドームツアーを完走 7月に2週連続シングル発表で第二章の幕開け 8日から出演CMもオンエア開始”. Excite News (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2019. 
  127. ^ a ă Yoon, Min-sik (7 tháng 4 năm 2019). “Twice wraps up dome tour in Japan, amassing 220,000 fans”. Korea Herald (bằng tiếng Anh) (The Korea Herald). Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2019. 
  128. ^ Herman, Tamar. “TWICE Announce 'Fancy You' Album and 2019 World Tour Dates”. Billboard. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2019. 
  129. ^ Kelley, Caitlin (Ngày 30 tháng 4 năm 2019). “TWICE's 'Fancy' Becomes YouTube's Seventh-Biggest Debut In 24 Hours”. Forbes. Truy cập Ngày 10 tháng 5 năm 2019. 
  130. ^ “트와이스, 국내 음반 판매량 누적 375만장 돌파…韓日 누적 600만장”. Naver (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2019. 
  131. ^ Kelley, Caitlin. “K-pop Girl Group TWICE Has Sold Over 6 Million Albums Worldwide”. Forbes (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2019. 
  132. ^ a ă “트와이스, 일본 데뷔 2주년 기념 ‘이례적 앨범 프로모션’”. Sports Donga (bằng tiếng Hàn) (The Dong-a Ilbo). Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019. 
  133. ^ “TWICE announces Japanese leg of ongoing world tour”. Yonhap (bằng tiếng Anh) (Yonhap News Agency). Ngày 17 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019. 
  134. ^ Min-suk, Yoon (14 tháng 8 năm 2019). “[Anniversary Special] 21 years after ‘Japanese invasion,’ Korean pop culture stronger than ever”. Korea Herald (bằng tiếng Anh) (The Korea Herald). Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019. 
  135. ^ "Nhóm nhạc nữ xu hướng hàng đầu":
  136. ^ Jo, Hyun-joo. “소녀시대 닮아가는 '막강 화력' 트와이스”. Naver (bằng tiếng Hàn) (Hankyung). Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2017. 
  137. ^ Moon, Wan-sik. "샤샤샤~"부터 'TT'까지..지금은 트와이스 시대!”. Naver (bằng tiếng Hàn) (Star News). Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2017. 
  138. ^ Jeong, Jun-hwa. “[Oh!쎈 초점] '샤샤샤~'부터 'TT춤'까지..트와이스, 마성의 킬러”. Naver (bằng tiếng Hàn) (Osen). Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2017. 
  139. ^ Kim, Mi-ji. “[트와이스 컴백①] "찌릿 찌릿"…트와이스 '시그널', 'TT' 넘는 열풍 만들까”. Naver (bằng tiếng Hàn) (Xports News). Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2017. 
  140. ^ Herman, Tamar. “10 Must-Know Facts About K-pop Darlings TWICE”. Billboard (Billboard Music). Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2017. 
  141. ^ Kim, So-yeon. “Twice's 'Knock Knock' tops most popular music video on YouTube”. The Korea Herald (Herald Corporation). Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2017. 
  142. ^ “한국갤럽 Gallup Report 2016/12/20n” (PDF) (bằng tiếng Hàn). Gallup Korea. Ngày 20 tháng 12 năm 2016. 
  143. ^ a ă “2017년 올해를 빛낸 가수와 가요 - 최근 11년간 추이, 아이돌 선호도 포함” (bằng tiếng Hàn). Gallup Korea. Ngày 19 tháng 12 năm 2017. 
  144. ^ a ă “2018년 올해를 빛낸 가수와 가요 - 최근 12년간 추이 포함” (bằng tiếng Hàn). Gallup Korea. Ngày 30 tháng 11 năm 2018. 
  145. ^ Cho, Deuk-jin. “엑소 위에 박보검·송중기, 아이돌 천하 깬 드라마 스타”. Naver News (bằng tiếng Hàn) (Joongang Ilbo). Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2017. 
  146. ^ Billboard Staff (ngày 28 tháng 9 năm 2017). “21 Under 21 2017: Music's Next Generation”. Billboard. Billboard Music. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2017. 
  147. ^ “Politics of campaign jingles”. The Dong-A Ilbo (Dong-A Ilbo). Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2017. 
  148. ^ Kim, Ji-young. “문재인도, 유승민도 선거송 'Cheer up'. Naver News (bằng tiếng Hàn) (Sedaily). Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2017. 
  149. ^ St. Michel, Patrick. “Twice shows just how resilient K-pop can be”. The Japan Times (The Japan Times LTD). Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2017. 
  150. ^ Kim, Ye-na. “日 여학생 80% "데뷔 앞둔 트와이스 이미 알고 있다". Nate (bằng tiếng Hàn) (TV Report). Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2017. 
  151. ^ "예쁘고, 귀엽고, 친근하고"…日, 트와이스 현지 인기 분석”. Dispatch (bằng tiếng Hàn) (Dispatch). Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2017. 
  152. ^ Lee, Mi-hyun. “[초점IS] 소녀시대·카라와 다른 트와이스의 日 '신공략'. Joins (bằng tiếng Hàn) (Ilgan Sports). Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2017. 
  153. ^ “[터치! 코리아] 트와이스가 놓은 韓日 가교도 허무나”. Chosun (bằng tiếng Hàn) (Chosun). Ngày 11 tháng 5 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019. 
  154. ^ Nam, Sang-hyun; Kim, Ah-young; Ryu, Seol-li; Seo, Mi-rae. “Global Hallyu Issue Report (April 2017)”. Korea Foundation for International Culture Exchange (KOFICE) (Deok-joong Kim (KOFICE Secretary General)). Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2017. 
  155. ^ “트와이스, 일본 요미우리 신문 집중 조명... "일본 한류 콘텐츠 시장 석권의 새주인공". Gaon Music Chart (bằng tiếng Hàn) (Korea Music Content Industry Association). Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2017. 
  156. ^ Twice trên Naver News:
  157. ^ “2017ブレイクアーティストランキング”. Oricon News (bằng tiếng Nhật) (Oricon ME Inc.). Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2017. 
  158. ^ “【オリコン年間】TWICE、新人部門3冠達成 海外女性アーティスト初”. Oricon News (bằng tiếng Nhật) (Oricon ME Inc.). Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2017. 
  159. ^ Kim, Da-woon. “[분석] JYP 주가 7배 끌어올린 '트와이스 효과' 어디까지?”. Naver News (bằng tiếng Hàn) (iNews24). Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2018. 
  160. ^ Hong, Dong-hee. “스쿨룩스 측 "박진영 교복 광고 포스터 전량 수거". Herald Pop (bằng tiếng Hàn) (Herald Corporation). Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2017. 
  161. ^ Lee, Jeong-hyeok. “트와이스, '돈 벼락' 맞았다? 데뷔 한 달 만에 CF 10개 계약해 18억원 벌어”. Sports Chosun (bằng tiếng Hàn) (Sports Chosun). Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2015. 
  162. ^ Uhm, Dong-jin. “[피플is] 트와이스 대세론, 모델료로 말한다 '3억'. JoongAng Ilbo (bằng tiếng Hàn) (Ilgan Sports). Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2017. 
  163. ^ “Model”. Lotte Duty Free (bằng tiếng Hàn). Lotte Hotel. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2017. 
  164. ^ Lee, Do-yeon. “스프리스, 걸그룹 '트와이스' 브랜드로 세계 시장 진출”. Yonhap News (bằng tiếng Hàn) (Yonhap News Agency). Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2017. 
  165. ^ “TWICE wins endorsement deal for Pocari Sweat”. Yonhap News (Yonhap News Agency). Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2017. 
  166. ^ Choi, Won-hyuk. “동아오츠카, 포카리스웨트 2년 연속 최고매출 경신 전망”. Herald Pop (bằng tiếng Hàn) (Herald Corporation). Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2017. 
  167. ^ Twice quảng cáo thương hiệu:
  168. ^ “TWICEがついに日本初CM出演!制服姿でキュートなダンスを披露… ワイモバイル 「転校生」篇が本日より放映”. Kstyle (bằng tiếng Nhật) (LINE Corporation). Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2018. 
  169. ^ “TWICEが日本で初のCM出演、ワイモバ学園で"Yポーズ". Natalie (bằng tiếng Nhật) (Natasha, Inc.). Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2018. 
  170. ^ Hwang, Jee-young. "예쁨+시크" 트와이스, 에스티 로더 한국 앰버서더 선정”. Naver (bằng tiếng Hàn) (Ilgan Sports). Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2019. 
  171. ^ Peterson, Jacques (ngày 20 tháng 12 năm 2017). “IU dominated Gallup Korea's yearly music poll”. SBS. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2019. 
  172. ^ “TWICE's world tour to screen in 270 degree ScreenX format”. Yonhap News (Yonhap News Agency). Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2018. 
  173. ^ “TWICE TV5 -TWICE in SWITZERLAND-”. Twitter. JYP Entertainment. 24 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2017. 
  174. ^ “TWICE PAGE TWO”. Twitter (bằng tiếng Anh). JYPStore. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2016. 
  175. ^ “TWICE PAGE TWO MONOGRAPH”. Twitter (bằng tiếng Hàn). TWICE. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2016. 
  176. ^ “TWICE 2017 SEASON'S GREETINGS”. Twitter (bằng tiếng Anh). JYPStore. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2016. 
  177. ^ “<TWICEcoaster: LANE1> MONOGRAPH”. Twitter (bằng tiếng Anh). JYPStore. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2017. 
  178. ^ Twice 1st Photo Book "One in a Million":
  179. ^ “TWICE SUPER EVENT DVD”. Twitter (bằng tiếng Anh). TWICE. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2017. 
  180. ^ “LIVE DVD & Blu-ray『TWICE DEBUT SHOWCASE "Touchdown in JAPAN"』”. Twitter (bằng tiếng Nhật). TWICE JAPAN OFFICIAL. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2017. 
  181. ^ "Twicezine: Jeju Island Edition":
  182. ^ “TWICE SIGNAL MONOGRAPH PRE-ORDER STARTS 2017.09.18(MON)”. Twitter (bằng tiếng Anh). JYPStore. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2017. 
  183. ^ “TWICE SEASON'S GREETINS 2018 FIRST LOVE COMING SOON”. Twitter (bằng tiếng Anh). TWICE. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2017. 
  184. ^ “TWICELAND -THE OPENING- DVD & BLU-RAY COMING SOON”. Twitter (bằng tiếng Anh). TWICE. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2017. 
  185. ^ “TWICE twicetagram MONOGRAPH PRE-ORDER STARTS 2018.02.12 MON”. Twitter (bằng tiếng Anh). TWICE. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2018. 
  186. ^ “TWICE Merry & Happy MONOGRAPH PRE-ORDER STARTS 2018.03.12 MON”. Twitter (bằng tiếng Anh). TWICE. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2018. 
  187. ^ "Twiceland – The Opening (Encore)":
  188. ^ "Once Begins Twice Fanmeeting":
  189. ^ "2019 Japan Season's Greetings "Twice Airlines"":
  190. ^ “TWICE 2019 SEASON'S GREETINGS THE ROSES PRE-ORDER STARTS 2018.11.26”. Twitter (bằng tiếng Anh). TWICE. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2018. 
  191. ^ “TWICELAND ZONE 2: Fantasy Park DVD & BLU-RAY”. Twitter. Twitter. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2019. 
  192. ^ Lee, Ah-young. “트와이스, '식스틴' 1주년에 '엠카' 1위 차지 "더욱 성장하겠다". Naver (bằng tiếng Hàn) (Xports News). Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2017. 
  193. ^ Lee Jung-ho. “트와이스, 음방 36관왕 역대 최다기록으로 2017년 마무리”. Naver (bằng tiếng Hàn). Star News. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2018. 
  194. ^ Jeong Ji-won. “트와이스, 7연속 '인가' 트리플크라운…또 신기록 수립” [TWICE, seven consecutive 'Inkigayo' Triple Crowns... Established another new record]. OSEN (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2018. 
  195. ^ “Twice wins Song of Year Award at 2017 MAMA with 'Signal'. Yonhap News (Yonhap News Agency). Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2017. 
  196. ^ “Winning big at Mnet Asian Music Awards brings tears to eyes of BTS”. The Korea Times. Ngày 15 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2018. 
  197. ^ Ji, Mi-kyung. “엑소·박보검·지성·윤여정 등 28人 2017 대중문화예술상 수상”. Naver (bằng tiếng Hàn) (Osen). Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2017. Truy cập Ngày 30 tháng 10 năm 2017. 
  198. ^ Lee, Sang-won (25 tháng 10 năm 2016). “Korean Popular Culture and Arts Awards announces winners”. K-Pop Herald. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2018. 
  199. ^ “트와이스, 한류문화대상 영예···23일 '뉴시스 한류 엑스포'. Newsis (bằng tiếng Hàn) (Newsis). Ngày 19 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019. 
  200. ^ “뉴시스 '한류 엑스포' 23일 롯데호텔 개최”. Daum (bằng tiếng Hàn) (Daum). 19 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2019. 
  201. ^ “방탄소년단·김준수·트와이스, 한류문화대상···뉴시스 한류엑스포(종합)”. Naver TV Cast (bằng tiếng Hàn) (Naver). 22 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2019. 

Liên kết ngoàiSửa đổi