USS Abraham Lincoln (CVN-72)

USS Abraham Lincoln (CVN-72), là con tàu thứ năm của lớp Nimitz siêu tải của Hải quân Hoa Kỳ. Đây là tàu hải quân thứ hai được đặt tên theo cựu tổng thống Abraham Lincoln. Cảng quê nhà của nó ở Norfolk, Virginia,[4] và thuộc Hạm đội Đại Tây Dương Hoa Kỳ.

USS Abraham Lincoln (CVN-72)
USS Abraham Lincoln (CVN-72) underway in the Atlantic Ocean on 30 January 2019 (190130-N-PW716-1312).JPG
USS Abraham Lincoln đang chạy ngoài khơi Đại Tây Dương vào ngày 30 tháng 1 năm 2019
Lịch sử
Hoa Kỳ
Tên gọi Abraham Lincoln
Đặt tên theo Abraham Lincoln
Trúng thầu 27 tháng 12 năm 1982
Xưởng đóng tàu Newport News Shipbuilding
Đặt lườn 3 tháng 11 năm 1984
Hạ thủy 13 tháng 2 năm 1988
Nhà tài trợ JoAnn K. Webb
Lễ đặt tên 13 tháng 2 năm 1988
Nhập biên chế 11 tháng 11 năm 1989
Cảng nhà Căn cứ Không lực Hải quân North Island, San Diego
Số tàu
Khẩu hiệu Shall Not Perish (Sẽ không bị diệt vong)
Biệt danh Abe
Tình trạng Đang hoạt động
Huy hiệu CVN-72 Crest.png
Đặc điểm khái quát
Lớp tàu Lớp Nimitz
Kiểu tàu Siêu tàu sân bay
Trọng tải choán nước 116.800 tấn Mỹ (104.300 tấn Anh)[1][2][3]
Chiều dài
  • Tổng thể: 332,8 m (1.091,9 ft)
  • Mức nước: 317 m (1.040,0 ft)
Sườn ngang
  • Tổng thể: 76,8 m (252,0 ft)
  • Mức nước: 40,8 m (133,9 ft)
Mớn nước
  • Điều hướng tối đa: 11,3 m (37,1 ft)
  • Giới hạn: 12,5 m (41,0 ft)
Động cơ đẩy
Tốc độ Hơn 30 hải lý trên giờ (56 km/h; 35 mph)
Tầm xa Không giới hạn trong 20–25 năm
Thủy thủ đoàn tối đa
  • Thủy thủ trên tàu: 3.200
  • Phi đội bay: 2.480
Hệ thống cảm biến và xử lý
  • Radar phòng không AN/SPS-48E 3-D
  • Radar phòng không AN/SPS-49(V)5 2-D
  • Radar dò mục tiêu AN/SPQ-9B
  • Radar kiểm soát không lưu AN/SPN-46
  • Radar kiểm soát không lưu AN/SPN-43C
  • Radar hỗ trợ hạ cánh AN/SPN-41
  • 4 × hệ thống dẫn đường Mk 91 NSSM
  • 4 × radar Mk 95
Tác chiến điện tử và nghi trang
  • Hệ thống tác chiến điện tử AN/SLQ-32(V)4
  • Hệ thống tác chiến điện tử AN/WLC-1H
  • Hệ thống đối phó ngư lôi AN/SLQ-25A Nixie
Vũ khí
Máy bay mang theo 90 x máy bay cánh cố địnhmáy bay trực thăng
USS Abraham Lincoln và các máy bay từ Carrier Air Wing 2 (CVW-2) thực hiện một cuộc trình diễn trên không ở Biển Đông vào ngày 8 tháng 5 năm 2006

Hàng không mẫu hạm USS Abraham Lincoln được hạ thủy ngày 13/2/1988, tại Norfolk, Virginia. Đây là tàu sân bay đầu tiên được trang bị máy bay chiến đấu F/A-18E/F Super Hornet, nâng cấp từ F/A-18C/D của hải quân.

Giữa tháng 12/2002, USS Abraham Lincoln, do hãng đóng tàu Newport News (Virginia) sản xuất, trở về Mỹ. Ngày 18/12, tàu sân bay này lên đường tới Australia.

Đặc điểm của USS Abraham Lincoln

- Hệ thống phản lực: 2 lò phản ứng hạt nhân

- Máy nâng máy bay: 4

- Đường băng: 4

- Tổng chiều dài: 332,85 mét

- Diện tích sàn sân bay: 18.211 m2

- Trọng lượng nước rẽ của tàu: 100.000 tấn

- Tốc độ: 35 hải lý/giờ

- Máy bay: 85

- Giá thành: khoảng 3,5 tỷ USD

- Vũ khí: 3 bệ phóng Mk 29 NATO Sea Sparrow, 4 Phalanx CIWS Mk 15 (20 mm)

- Cảng chính: Everett, Washington

Cuối tháng 12, theo các bản tin từ Hải quân Mỹ, USS Abraham Lincoln hoặc USS Kitty Hawk sẽ được tái triển khai ở vùng Vịnh, do căng thẳng leo thang giữa Baghdad và Washington. Vào thời điểm đó, người ta không rõ Lincoln vẫn tiếp tục được duy trì hay chỉ nhận báo động phòng mọi trường hợp. Ngày 31/12, tàu sân bay này nhận lệnh triển khai trên biển và sẵn sàng cho cuộc chiến ở vùng Vịnh.

Ngày 2/1/2003, USS Abraham Lincoln có mặt ở tây bắc Australia. Sau đó, hàng không mẫu hạm trở về Freemantle để được duy tu, bảo dưỡng trước khi trở lại vùng Vịnh.

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Polmar, Norman (2004). The Naval Institute guide to the ships and aircraft of the U.S. fleet. Naval Institute Press. tr. 112. ISBN 978-1-59114-685-8. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2016. nimitz class displacement.
  2. ^ “CVN-68: NIMITZ CLASS” (PDF).
  3. ^ “USS Abraham Lincoln”. Naval Vessel Register. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2012.
  4. ^ “Change in Permanent Duty Station for Carrier Strike Group Nine” (PDF). OPNAV NOTICE 5400 Ser DNS-33/llU228546. Office of the Chief of Naval OperationsU.S. Department of the Navy. ngày 1 tháng 8 năm 2011. Bản gốc (PDF) lưu trữ 22 Tháng Ba năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2011.

Liên kết ngoàiSửa đổi