USS Kitty Hawk (CV-63)

USS Kitty Hawk (CVA-63/CV-63) là một siêu hàng không mẫu hạm của Hải quân Hoa Kỳ. Nó là chiếc đầu tiên trong số bốn chiếc của lớp tàu sân bay mang tên nó nhập biên chế, và cũng là chiếc cuối cùng xuất biên chế; Kitty Hawk cũng là chiếc tàu sân bay chạy năng lượng thông thường cuối cùng phục vụ cùng Hải quân Hoa Kỳ. Nó là chiếc tàu thứ hai của Hải quân Mỹ được đặt cái tên này, theo tên thị trấn Kitty Hawk, North Carolina, nơi anh em nhà Wright thực hiện chuyến bay trên máy bay đầu tiên.

USS Kitty Hawk (CV-63)
USS Kitty Hawk (CV-63)
USS Kitty Hawk trên đường đi vào cuối thế kỷ 20
Lịch sử
Hoa Kỳ
Tên gọi USS Kitty Hawk
Đặt tên theo Kitty Hawk, North Carolina[1]
Trúng thầu 1 tháng 10 năm 1955[2]
Hãng đóng tàu New York Shipbuilding Corporation[2]
Đặt lườn 27 tháng 12 năm 1956[2]
Hạ thủy 21 tháng 5 năm 1960[2]
Đỡ đầu bởi bà Camilla F. McElroy[1]
Nhập biên chế 29 tháng 4 năm 1961[2]
Xuất biên chế 12 tháng 5 năm 2009[2]
Xếp lớp lại CV-63, 29 tháng 4 năm 1973[1]
Xóa đăng bạ 20 tháng 10 năm 2017
Biệt danh "Battle Cat"[3]
Danh hiệu và
phong tặng
Đơn vị Tuyên dương Tổng thống[1][4]
Tình trạng Loại bỏ, sẽ được tháo dỡ
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu Lớp tàu sân bay Kitty Hawk
Trọng tải choán nước list error: <br /> list (help)
61.351 tấn Anh (62.335 t) (tiêu chuẩn)
81.985 tấn Anh (83.301 t) (đầy tải) [2]
Độ dài list error: <br /> list (help)
990 ft (300 m) (mực nước)
1.069 ft (326 m) (chung) [2]
Sườn ngang list error: <br /> list (help)
130 ft (40 m) (mực nước)
282 ft (86 m) (tối đa) [2]
Mớn nước 38 ft (12 m)[2]
Động cơ đẩy list error: <br /> list (help)
8 x nồi hơi Foster Wheeler;
4 x turbine hơi nước Westinghouse;
4 x trục;
công suất 280.000 mã lực càng (210 MW)
Tốc độ 33 kn (61 km/h; 38 mph)
Tầm xa 12.000 dặm (19.000 km)
Thủy thủ đoàn 5.624[2]
Vũ trang list error: <br /> list (help)
24 × tên lửa đối không Sea SparrowRIM-116 Rolling Airframe;
3–4 × hệ thống phòng thủ tầm gần Phalanx CIWS
Máy bay mang theo

list error: mixed text and list (help)
85 máy bay; không đoàn tiêu biểu (2000):

Khi chiếc Independence (CV-62) được cho xuất biên chế vào ngày 30 tháng 9 năm 1998, Kitty Hawk trở thành chiếc tàu chiến Hoa Kỳ có thời gian phục vụ đứng hàng thứ hai, chỉ sau chiếc tàu buồm USS Constitution (Enterprise (CVN-65) sau này vượt qua nó vào năm 2012; chúng là hai trong số ba tàu sân bay mang cờ hiệu First Navy Jack).[a]

Trong suốt mười năm, Kitty Hawk là tàu sân bay được bố trí tiền phương thường trực tại Căn cứ Hải quân Yokosuka, Nhật Bản. Nó được chiếc George Washington (CVN-73) thay thế trong vai trò này vào tháng 10 năm 2008, quay trở về Hoa Kỳ, và buổi lễ đánh dấu con tàu ngừng hoạt động được tổ chức vào ngày 31 tháng 1 năm 2009. Con tàu chính thức được cho xuất biên chế vào ngày 12 tháng 5 năm 2009, sau gần 49 năm phục vụ.[6] Kitty Hawk được thay thế bởi chiếc George H.W. Bush. Tên nó được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 20 tháng 10 năm 2017; con tàu hiện đang neo đậu tại Bremerton, Washington và sẽ bị tháo dỡ.

Thiết kế và chế taoSửa đổi

Kitty Hawk được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng New York Shipbuilding Corporation tại Camden, New Jersey vào ngày 27 tháng 12 năm 1956. Nó được hạ thủy vào ngày 21 tháng 5 năm 1960, được đỡ đầu bởi bà Camilla F. McElroy, phu nhân Bộ trưởng Quốc phòng Neil H. McElroy. Con tàu được hạ thủy bằng cách cho ngập nước ụ tàu; phương pháp trượt xuống theo cách thông thường không được áp dụng do khối lượng lớn của nó, và cũng do nguy cơ va chạm với bờ sông Delaware phía bên Philadelphia. Nó nhập biên chế tại Xưởng hài quân Philadelphia vào ngày 29 tháng 4 năm 1961 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Đại tá Hải quân William F. Bringle.[1][4]

Lịch sử hoạt độngSửa đổi

1961 - 1964Sửa đổi

 
Tổng thống John F. Kennedy và Thống đốc California Pat Brown theo dõi một cuộc phô diễn vũ khí bên trên Kitty Hawk, 6 tháng 6 năm 1963
 
Kitty Hawk và tàu khu trục Turner Joy đang được tiếp nhiên liệu từ chiếc Kawishiwi, 1964

Sau khi hoàn tất chạy thử máy dọc theo bờ biển Đại Tây Dương, Kitty Hawk khởi hành từ Căn cứ Hải quân Norfolk, Virginia vào ngày 11 tháng 8 năm 1961. Con tàu có một chặng dừng ngắn tại Rio de Janeiro, Brazil, nơi nó đón lên tàu Bộ trưởng Hải quân Brazil để thị sát nhân một lượt diễn tập cùng năm tàu khu trục Brazil. Nó tiếp tục hành trình vòng qua mũi Horn vào ngày 1 tháng 10, và đi đến Valparaíso, Chile vào ngày 13 tháng 10, tiếp tục chuyến đi hai ngày sau đó và đi đến Callao, Peru vào ngày 20 tháng 10, nơi nó tiếp đón Tống thống Peru lên thăm tàu. Khi đi đến San Diego, California, Đô đốc George W. Anderson, Tư lệnh Tác chiến Hải quân, đã hạ cánh xuống con tàu vào ngày 18 tháng 11 để thị sát cuộc tập trận chống tàu ngầm của các tàu khu trục Henry B. Wilson (DDG-7)tàu ngầm Blueback (SS-581), thao diễn bắn tên lửa RIM-2 Terrier của tàu tuần dương Topeka cũng như hoạt động không quân của Kitty Hawk.[1][4]

Kitty Hawk đi vào Xưởng hải quân San Francisco vào ngày 23 tháng 11 năm 1961 để nâng cấp, rồi sau những hoạt động tại chỗ ngoài khơi bờ biển San Diego, con tàu khởi hành từ San Francisco vào ngày 13 tháng 9 năm 1962 để đi sang khu vực Tây Thái Bình Dương. Nó gia nhập Đệ Thất hạm đội vào ngày 7 tháng 10, và thay phiên cho tàu sân bay Midway (CV-41) trong vai trò soái hạm của hạm đội. Sau khi tham dự tuần lễ Triển lãm Hàng không Cộng hòa Philippine, nó rời cảng Manila vào ngày 30 tháng 11 để đón tiếp Đô đốc Harry D. Felt, Tổng tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương, cho một cuộc phô diễn vũ khí hải quân hiện đại vào ngày 3 tháng 12. Con tàu đã viếng thăm Hong Kong vào đầu tháng 12, rồi đi đến Yokosuka, Nhật Bản vào ngày 2 tháng 1 năm 1963.[1][4]

Kitty Hawk tiến hành nhiều cuộc tập trận phối hợp cùng Đội tàu sân bay 7 trong tháng 1tháng 2.[7] Vào ngày 4 tháng 1, Trong khuôn khổ cuộc Tập trận Checkertail, nó cùng ba tàu sân bay tấn công khác tung ra cuộc không không kích giả định nhắm vào Bộ chỉ huy Phòng không Okinawa. Từ ngày 27 tháng 1 đến ngày 2 tháng 2, đang khi tiến hành cuộc Tập trận “Picture Window III” tại khu vực phía Bắc Nhật Bản, máy bay nước ngoài không rõ nhận dạng đã bị ngăn chặn và theo dõi; nhiều khả năng đây là máy bay chiến đấu Liên Xô thuộc Quân khu Viễn Đông Liên bang Nga hoặc của Không lực Hải quân Liên Xô. Trong cuộc Tập trận “Red Wheel” tại khu vực phía Nam Nhật Bản từ ngày 16 đến ngày 19 tháng 2 dưới sự chỉ đạo của Tư lệnh Đội tàu sân bay 7, nó giúp tăng cường khả năng tấn công bằng vũ khí thông thường và hạt nhân của Đệ Thất hạm đội đồng thời duy trì khả năng phòng không và chống tàu ngầm. Cuộc tập trận này cũng nhằm đánh giá khả năng của một đội tìm-diệt để bảo vệ cho hai đội đặc nhiệm tàu sân bay. Trong giai đoạn này con tàu đã viếng thăm các cảng Kobe, BeppuIwakuni trước khi quay trở về San Diego vào ngày 2 tháng 4.[1][4]

Vào ngày 6 tháng 6 năm 1963 Tổng thống John F. Kennedy cùng các quan chức quân sự và dân sự cao cấp đã viếng thăm Kitty Hawk để thị sát một cuộc thao diễn lực lượng đặc nhiệm tàu sân bay dọc theo bờ biển California. Sau một loạt các đợt thực hành cơ động và chiến thuật tại vùng bờ Tây và vùng biển Hawaii, chiếc tàu sân bay lại lên đường hướng sang Viễn Đông. Đang khi trên đường hướng đến Nhật Bản, nó nhận được tin tức về sự kiện ám sát Tổng thống Kennedy; và con tàu đã treo cờ rủ khi nó tiến vào cảng Sasebo vào ngày 25 tháng 11, ngày tổ chức lễ tang cho cố Tổng thống, cũng như đã thay mặt cho hạm đội bắn pháo chào tiễn biệt. Sau những đợt tập trận và tuần tra trong biển Đông cũng như chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu tại căn cứ ở Philippines, nó quay trở về San Diego vào ngày 20 tháng 7 năm 1964.[1][4]

1965 - 1972Sửa đổi

 
Một chiếc A-6 Intruder thuộc Liên đội VA-75 hạ cánh trên Kitty Hawk, trong đợt bố trí phục vụ 1967-1968 tại Việt Nam

Kitty Hawk được đại tu tại Xưởng hải quân Puget Sound, rồi hoạt động huấn luyện ôn tập dọc theo vùng bờ Tây. Nó khởi hành từ San Diego vào ngày 19 tháng 10 năm 1965 để đi Hawaii, rồi tiếp tục hành trình để đến Căn cứ Hải quân vịnh Subic, Philippines, nơi nó chuẩn bị để hoạt động tác chiến ngoài khơi bờ biển Việt Nam.[1][4]

Kitty Hawk quay trở về San Diego vào tháng 6, 1966 để đại tu và huấn luyện cho đến ngày 4 tháng 11, 1966, khi nó lại được phái sang phục vụ tại vùng biển Đông Nam Á. Nó đi đến Yokosuka, Nhật Bản vào ngày 19 tháng 11, thay phiên cho tàu chị em Constellation (CV-64) trong vai trò soái hạm cho Chuẩn đô đốc David C. Richardson, Tư lệnh Lực lượng Đặc nhiệm 77. Nó rời Yokosuka vào ngày 26 tháng 11 để đi đến trạm Yankee ngang qua vịnh Subic, và từ ngày 5 tháng 12, máy bay của nó liên tục thực hiện các phi vụ can thiệp tại Bắc Việt Nam. Trong giai đoạn này nó đã đón tiếp nhiều vị khách nổi bật, trong số đó có các nghệ sĩ William Randolph Hearst, Jr.; Bob Considine; Dr. Billy Graham; Nancy SinatraJohn Steinbeck. Nó tiếp tục ở lại khu vực để hỗ trợ các hoạt động tác chiến của Hoa Kỳ tại Đông Nam Á, cho đến khi khởi hành từ vịnh Subic vào ngày 28 tháng 5, 1968 để quay trờ về Hoa Kỳ ngang qua Nhật Bản. Nó về đến San Diego vào ngày 19 tháng 6, và sau một tuần lễ đã đi đến Xưởng hải quân Long Beach, Long Beach, California để bảo trì. Con tàu quay trở lại San Diego vào ngày 25 tháng 8, và tiến hành huấn luyện ôn tập nhằm chuẩn bị cho những hoạt động trong tương lai.[1][4]

Kitty Hawk được tặng thưởng danh hiệu Đơn vị Tuyên dương Tổng thống do đã hoạt động xuất sắc và anh dũng trong giai đoạn từ ngày 23 tháng 12, 1967 đến ngày 1 tháng 6, 1968, vốn bao gồm các hoạt động trong cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân. Trong giai đoạn này nó chịu đựng một tai nạn hỏa hoạn đang khi ở lại trong Căn cứ Hải quân vịnh Subic, và ở trong tình trạng báo động trong 51 giờ liên tục. Trong lượt phục vụ tiếp theo từ ngày 15 tháng 1 đến ngày 27 tháng 8, 1969 ngoài khơi Việt Nam và tại vùng biển ngoài khơi Bắc Triều Tiên sau vụ tàu trinh sát USS Pueblo (AGER-2) bị bắt giữ nó cũng được tặng thưởng danh hiệu Đơn vị Tưởng thưởng Hải quân. Sau chuyến đi này nó quay trở về để nghỉ ngơi trong một tháng, rồi được đại tu tại Xưởng hải quân Puget SoundBremerton, Washington.[1][4]

Trong lượt phục vụ tiếp theo của Kitty Hawk trong Chiến tranh Việt Nam, vào ngày 12 tháng 10, 1972, đang khi đi đến địa điểm hoạt động trong vịnh Bắc Bộ, một vụ bạo loạn do phân biệt chủng tộc đã xảy ra giữa khoảng 200 thủy thủ, khiến khoảng 50 người bị thương. Tòa án quân sự sau đó đã kết án 27 thủy thủ trong vụ xung đột này.[8]

1973 - 1977Sửa đổi

Từ tháng 1 đến tháng 7, 1973, Kitty Hawk chuyển cảng nhà San Diego từ đến San Francisco. Nó đi vào ụ tàu của Xưởng hải quân Hunters Point vào ngày 14 tháng 1, 1973 để được cải biến từ một tàu sân bay tấn công (CVA) thành một tàu sân bay đa chức năng (CV), phạm vi hoạt động không còn bó gọn trong chức năng tấn công, và khả năng chống tàu ngầm trở thành một vai trò chủ yếu. Kitty Hawk là tàu sân bay đầu tiên tại khu vực Thái Bình Dương mang ký hiệu tàu sân bay đa dụng CV. Việc cải biến bao gồm bổ sung mười trạm cân chỉnh máy bay trực thăng mới, trang bị trung tâm phân tích để đọc tín hiệu sonar/sonobuoy cùng những thiết bị phụ trợ, và thay đổi một phần lớn quy trình vận hành con tàu. Một thay đổi quan trọng khác là bổ sung Trung tâm Xếp loại và Phân tích chống ngầm (ASCAC: Anti-Submarine Classification and Analysis Center) trong thành phần Trung tâm Thông tin Tác chiến (CIC: Combat Information Center), hoạt động phối hợp cùng những máy bay chống ngầm được biên chế cùng Không đoàn Tàu sân bay CVW-11.[1][4]

Cũng trong giai đoạn sửa chữa trong xưởng tàu này, Bộ phận Động cơ của Kitty Hawk cũng có những thay đổi lớn; việc sử dụng dầu đốt tiêu chuẩn hải quân (dầu đen) được chuyển đổi hoàn toàn sang loại dầu nhẹ thân thiện môi trường hơn. Bộ phận Không quân cũng bổ sung nhiều thay đổi lớn cho sàn đáp, mở rộng tấm chắn hơi phản lực và trang bị máy phóng mạnh hơn để có thể phục vụ kiểu máy bay chiến đấu Grumman F-14 Tomcat mới mà con tàu dự định được phối thuộc trong lượt hoạt động tiếp theo. Việc mở rộng tấm chắn hơi phản lực số 1 khiến buộc phải thay đổi thiết kế của thang nâng máy bay số 1, khiến cho nó trở thành tàu sân bay duy nhất vào lúc đó có thang nâng máy bay nghiêng ra ngoài 6 độ theo hướng từ sàn chứa máy bay lên sàn đáp. Kitty Hawk rời ụ tàu vào ngày 28 tháng 4, 1973, và sang ngày hôm sau, đúng vào ngày sinh nhật thứ 12 của nó, được xếp lại lớp như một tàu sân bay đa chức năng (CV).[1][4]

 
Tàu sân bay Kitty Hawk, nhìn từ Vườn Thực vật Hoàng gia, Sydney

Kitty Hawk rời Xưởng hải quân Hunters Point để chạy thử máy trước khi ghé đến Trân Châu Cảng trong ba ngày để nghỉ ngơi trước khi lên đường hướng sang khu vực Tây Thái Bình Dương. Tuy nhiên lúc đang trên đường đi, trong một quy trình bảo trì thường lệ cho hệ thống phun nhiên liệu tại phòng động cơ số 1 vào ngày 11 tháng 12, 1973, một vòng đệm của ống dẫn nhiên liệu JP5 bị khiếm khuyết đã khiến dầu đốt bị rò rỉ và gây ra một đám cháy tại phòng động cơ số 1 rồi lan rộng ra các khoang khác. Chiếc tàu sân bay phải chuyển sang trạng thái báo động trong suốt 38 giờ, và do khói đen dày đặc ở các hầm tàu bên dưới, thủy thủ đoàn được lệnh tập trung lên sàn đáp cho đến khi khống chế được hỏa hoạn và sạch khói. Do phải tắt hai, và sau đó là ba, động cơ turbine của con tàu, nó bị nghiêng khoảng 7 độ sang mạn trái; và hậu quả là phải di chuyển nhiều máy bay sang mạn phải để cân bằng con tàu, cho đến khi đám cháy được hoàn toàn kiểm soát và phục hồi hoạt động cho hai hệ thống động cơ turbine. Con tàu hướng đến Philippines và neo đậu tại vịnh Subic để điều tra nguyên nhân tai nạn và được sửa chữa, nhưng phải mất ba ngày trước khi đến được cảng. Sáu thủy thủ đã thiệt mạng trong tai nạn, và 34 người khác bị ngạt khói cùng những chấn thương nhẹ khác.[1][4]

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

Ghi chúSửa đổi

  1. ^ Truyền thống này chấm dứt vào năm 2002, khi Bộ trưởng Hải quân chỉ thị cho mọi tàu hải quân treo lá cờ hiệu này trong giai đoạn Chiến tranh chống khủng bố.[5]

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m Kitty Hawk II (CVA-63). Dictionary of American Naval Fighting Ships. Navy Department, Naval History & Heritage Command. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2010. 
  2. ^ a ă â b c d đ e ê g h “Kitty Hawk”. Naval Vessel Register. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2010. 
  3. ^ Stephenson-Pino, Sharon (31 tháng 10 năm 2003). “Battle Cat Floats Into the Halloween Season Early”. U.S. Navy, Fleet Activities Yokosuka Public Affairs. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2019. 
  4. ^ a ă â b c d đ e ê g h i “USS KITTY HAWK CV 63”. uscarriers.net. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2020. 
  5. ^ Whitten, Chris. “First Navy Jack in the War on Terrorism”. NavyJack.info. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2019. 
  6. ^ “Navy Decommissions USS Kitty Hawk”. U.S. Navy, Kitty Hawk Public Affairs. 12 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2019. 
  7. ^ “Aviation Historical Summary, USS Kitty Hawk, OPNAV Form 5750-2, 30 September 1962 – 30 March 1963” (PDF). U.S. Navy. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2019. 
  8. ^ United States House Committee on Armed Services (2 tháng 1 năm 1973). “Report by the Special Subcommittee on Disciplinary Problems in the US Navy”. U.S. Navy. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2019. 

Thư mụcSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi

Tiền vị
USS Independence (CV-62)
Tàu chiến cũ nhất còn hoạt động của Hải quân Hoa Kỳ
1998–2009
Kế vị
USS Enterprise (CVN-65)

Tọa độ: 47°33′9″B 122°39′21″T / 47,5525°B 122,65583°T / 47.55250; -122.65583 (USS Kitty Hawk (CV-63))