Võ thuật trong tiểu thuyết Kim Dung

bài viết danh sách Wikimedia

Các môn phái, bang hộiSửa đổi

Nhiều môn phái, bang hội trong các tác phẩm của Kim Dung được nhắc lại nhiều lần. Có những phái có thật ngoài đời mặc dù các chi tiết đã được Kim Dung thêm nhiều. Các môn phái, bang hội, giáo phái hay gặp nhất trong các tác phẩm của Kim Dung là:

Ngoài ra, còn có một số bang hội, môn phái ít được nhắc đến như Cự Kình bang, Hải Sa bang, Thần Quyền môn, Vu Sơn bang, Ngũ Phượng Đao Cửu môn, Thanh Long phái, Tam Giang bang, Lương Thuyền bang, Hổ Cứ tiêu cục, Yến Vân tiêu cục, Tấn Dương tiêu cục...

Những môn phái này chia ra hai phe chánh - tà thường xuyên đối chọi nhau, phe chính được kêu là Danh môn chính phái, phe tà bị gọi là Tà ma ngoại đạo. Về chất lượng của các bang, phái, trong truyện Kim Dung thường nhắc đến Thiếu Lâm (mệnh danh là Thái Sơn và Bắc Đẩu trong võ lâm), Cái Bang và Minh Giáo, về môn phái thì Thiếu Lâm là nhất, về bang hội thì Cái Bang mạnh nhất, còn về giáo phái thì Minh Giáo mạnh nhất.

Ám KhíSửa đổi

Băng Phách Ngân ChâmSửa đổi

Xuất hiện trong truyện Thần điêu hiệp lữ, Băng Phách Ngân Châm là ám khí độc môn của phái Cổ Mộ, cùng với Ngọc Phong Châm là 2 thứ ám khí cực kỳ lợi hại do Lâm Triều Anh sáng chế ra. So với Ngọc Phong Châm có độc tính ôn hòa thì Băng Phách Ngân Châm âm độc hơn rất nhiều, người bị trúng phải ngân châm mặt mày sẽ tím tái, tay chân lạnh cóng như bị đóng băng, nếu không có thuốc giải sẽ chết vì cóng.

Lâm Triều Anh, từ trung niên trở đi, võ công đạt tới cảnh giới xuất thần nhập hóa, không cần dùng đến nó. Sư phụ của Tiểu Long Nữ truyền cho nàng "Ngọc Phong Châm" và truyền cho Lý Mạc Sầu "Băng Phách Ngân Châm". Sau này, Lý Mạc Sầu không chịu thề chung thân sống trong Cổ Mộ để tiếp nhận y bát, sư phụ của Lý Mạc Sầu đã trục xuất nàng ta ra khỏi sư môn, không truyền cho những môn công phu khác nữa. Ngày sau, khi hành tẩu giang hồ Lý Mạc Sầu lại chính dựa vào môn ám khí này cùng Ngũ Độc Thần Chưởng mà hoành hành giang hồ, khiến cho người nghe danh "Xích Luyện Tiên Tử" đã bỏ chạy mất dạng.

Hắc Huyết Thần ChâmSửa đổi

Xuất hiện trong truyện Tiếu ngạo giang hồ, Hắc Huyết Thần Châm là ám khí độc môn của Khúc Dương, trưởng lão Nhật Nguyệt Thần Giáo. Đây là một loại ám khí kịch độc, hình dạng kim, màu đen tuyền, nhưng kích thước còn nhỏ hơn kim khâu, khi phóng ra thì như một luồng mưa bay đến, ai bị trúng châm chắc chắn vong mạng.

Kim HoaSửa đổi

Theo truyện Ỷ thiên Đồ long ký, Kim Hoa là ám khí nổi tiếng của Tử Sam Long Vương (Kim Hoa Bà Bà). Nhưng vì bộ ám khí này nổi tiếng quá, nêu sau này, mọi người đều gọi bà là Kim Hoa Bà Bà. Những đóa Kim Hoa đều vô cùng lấp lánh, bên trong được đúc bằng thép, bên ngoài thì mạ vàng khiến cho tốc độ và uy lực của nó cực kỳ mạnh mẽ. Tương truyền, Kim Hoa Bà Bà từng đuổi đánh Trần Hữu Lượng tại Linh Xà Đảo. Tới cả Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn cũng phải chật vật với loại ám khí này, chỉ tiếc là thanh đao mà ông sử dụng có từ tính quá cao, và là khắc chế cứng của Kim Hoa ám khí nên Kim Hoa Bà Bà mới đành thúc thủ mà thôi.

Kim Xà ChuySửa đổi

Theo truyện Bích huyết kiếm, Kim Xà Chuy là loại ám khí bá đạo đã từng được Kim Xà Lang Quân sử dụng để danh chấn giang hồ. Tương truyền, loại ám khí này dài hai tấc tám phân, hình như một con rắn đang ngẩng đầu nên có tên là Kim Xà Chuy, ở đầu có 3 ngạnh cắm sâu vào da thịt đối phương, mỗi chiếc nặng vài lạng vàng, do đó mỗi lần sử dụng là ném đi vài lạng vàng. Khi sử dụng, Kim Xà Chuy có tốc độ bắn ra cực lớn, kèm theo đó là số lượng cũng tương đối nhiều, khiến cho kẻ địch khó lòng né tránh. Tuy không quá nổi tiếng vì nhiều người chỉ tập trung vào Kim Xà bí kíp và Kim Xà Kiếm, nhưng Kim Xà Chuy cũng là một trong những thứ lợi hại trên võ lâm bấy giờ.

Mãn Thiên Hoa VũSửa đổi

Mãn Thiên Hoa Vũ (Hoa rải đầy trời) là một chiêu thức võ công tập trung sức mạnh và tinh thần phóng ra hàng loạt ngân châm để tiêu diệt địch thủ, đây là một chiêu thức ám sát được các sát thủ trong võ lâm rất đắc ý, chiêu thức không những hiểm độc mà còn có khả năng sát thương nhiều đối thủ.

Theo truyện Bích huyết kiếm, Quỷ Ảnh Tử Mộc Tang đạo nhân dạy Mãn Thiên Hoa Vũ cho Viên Thừa Chí sau khi thua liền hai ván cờ vây. Mãn Thiên Hoa Vũ của Quỷ Ảnh Tử Mộc Tang đạo nhân không ném ngân châm mà ném những con cờ vây.

Theo truyện Anh hùng xạ điêu, Hồng Thất Công đã dạy Mãn Thiên Hoa Vũ cho Hoàng Dung để chống lại bầy rắn độc của Âu Dương Phong.

Theo truyện của các tác giả khác thì chiêu này là một trong Thập Đại Ám Khí của Đường Môn (Đường Gia Bảo), một Gia Tộc dùng công phu ám khí và độc dược, thuốc nổ ở đất Ba Thục - Tứ Xuyên xưng hùng giang hồ được xưng là Ám Khí Thế Gia, người giang hồ xưa thường có câu: "Thà gặp Diêm La Vương, đừng chọc Đường Môn Nhân!"

Ngọc Phong ChâmSửa đổi

Xuất hiện trong truyện Thần điêu hiệp lữ, Ngọc Phong Châm là ám khí độc môn của phái Cổ Mộ, cùng với Băng Phách Ngân Châm là 2 thứ ám khí cực kỳ lợi hại do Lâm Triều Anh sáng chế ra. Ngọc Phong Châm mỏng manh như sợi tóc, chế bằng sáu phần vàng, bốn phần thép, tẩm qua chất độc của loài ong vò vẽ được nuôi bởi người của Cổ Mộ, tuy mỏng manh, nhưng chất vàng rất nặng, nên khi phóng có thể bay xa. Ám khí này tuy có độc tính ôn hoà hơn Băng Phách Ngân Châm nhưng vẫn khiến người trúng phải ngứa ngáy khó chịu, đau đớn tột cùng, nếu muốn giải độc phải dùng Ngọc Phong Tương (mật ong) của Cổ Mộ phái. Đây là ám khí thành danh của cặp đôi Dương Quá - Tiểu Long Nữ.

Sinh Tử PhùSửa đổi

Xuất hiện trong truyện Thiên Long Bát Bộ, Sinh Tử Phù là môn võ công đặc dị do Tiêu Dao Tử (Người Sáng Lập Phái Tiêu Dao) sáng chế, về sau được truyền lại cho đại để tử của ông là Thiên Sơn Đồng Lão . Đây là một loại ám khí, nhưng không phải làm từ gỗ hay kim loại mà là dùng nội lực hóa thủy thành băng rồi phong ấn vào cơ thể địch nhân. Khi bị trúng "Sinh Tử Phù" thì cơ thể sẽ đau đớn, ngứa ngáy đến không thể chịu nổi. Nếu không dùng thuốc giải đặc chế của "Linh Thứu Cung" thì sẽ vật vã khổ sở, muốn sống không được, chết cũng không xong.

Chính nhờ "Sinh Tử Phù" này mà "Thiên Sơn Đồng Lão" đã chi phối 36 động, 72 đảo. Mỗi năm người của "Linh Thứu Cung" sẽ đi phát thuốc giải một lần, đi đến đâu cũng hách dịch ra yêu sách. Bọn người của 36 động, 72 đảo tuy căm phẫn vì bị ức hiếp nhưng vẫn không dám phản kháng vì như thế vẫn tốt hơn là bị "Sinh Tử Phù" hành hạ. Tuy nhiên thuốc giải cũng chỉ là tạm thời. Để hóa giải hoàn toàn "Sinh Tử Phù" cần phải dùng đến tuyệt học của Tiêu Dao phái là Thiên Sơn Lục Dương Chưởng, vốn là công phu chí dương. Trong mỗi "Sinh Tử Phù" có bao nhiêu phần âm bao nhiêu phần dương, lại nằm trong huyệt đạo nào thì chỉ có người gieo mới nắm rõ. Lúc bấy giờ mới cần dùng nội lực của Thiên Sơn Lục Dương Chưởng cân bằng lại rồi hút Sinh Tử Phù ra ngoài.

Thất Tuyệt ChâmSửa đổi

Theo truyện Anh hùng xạ điêu, Anh Cô vốn tên là Lưu Anh, một quý phi trong cung Nam Đế Đoàn Hoàng gia nước Đại Lý.

Lưu quý phi gặp gỡ và có tình cảm với Lão Ngoan Đồng Chu Bá Thông sinh ra một đứa con.

Đứa bé bị Thiết Chưởng Thủy Thượng Phiêu Cừu Thiên Nhận bang chủ Thiết Chưởng Bang ở Tương Giang đánh một đòn chí tử. Lưu quý phi ôm con đến nhờ Đoàn Hoàng gia cứu nhưng Đoàn hoàng gia không cứu vì ghen.

Thần Toán Tử Anh Cô muốn trả thù, nhưng biết rõ công phu Nhất Dương Chỉ trên ngón tay của Nam Đế Đoàn Hoàng gia rất lợi hại, nên cố sức suy nghĩ tìm cách khắc chế. Anh Cô trong nghề thêu thùa bèn từ nữ công nghĩ ra diệu pháp, trên đầu ngón trỏ đeo một cái kim hoàn nhỏ, trên đầu kim hoàn có một mũi châm dài ba phân, trên châm tẩm chất độc, sau mấy năm khổ luyện, có thể đâm trúng con ruồi bay trên không, ngón tay bật ra mũi châm có thể xuyên qua người con ruồi. Lúc lâm địch, mũi châm của Anh Cô đầu tiên đả thương ngón tay trỏ (huyệt Thương Dương) của địch thủ. Đó là công phu Thất Tuyệt Châm trong thiên hạ không ai cứu được.

Thiết Táo HạtSửa đổi

Thiết Táo Hạt (phun hạt táo) xuất hiện trong truyện Thần điêu hiệp lữ, là công phu do Cầu Thiên Xích khổ luyện. Năm xưa, sau khi bị Công Tôn Chỉ lừa chuốc rượu rồi cắt đứt gân tay gân chân, đẩy xuống vực sâu, bà may mắn đã không chết. Tuy tàn phế nhưng nội công vẫn còn, và cố sống qua ngày nhờ những cây táo dại gần đó, trong hốc đá 14 năm bà luyện tập công phu phun hạt táo. Sau này chính bà đã dùng tuyệt kĩ này bắn mù mắt Công Tôn Chỉ sau khi phế công phu Bế Huyệt của hắn. Nếu không phải có Công Tôn Lục Ngạc (con gái của Cừu Thiên Xích và Công Tôn Chỉ) che chắn, thì Công Tôn Chỉ đã bị bắn chết.

Nói về môn võ công này, cố nhà văn Kim Dung từng mô tả: "Mười mấy năm qua bà ta chỉ khổ luyện môn võ công này, kình lực vô cùng mạnh mẽ, sự chuẩn xác của nó không thua kém bất cứ ám khí lợi hại nào trong thiên hạ".

Thiết Tật LêSửa đổi

Xuất hiện trong truyện Anh hùng xạ điêuThần điêu hiệp lữ, Thiết tật lê là 1 loại ám khí to nặng làm bằng kim loại, được Kha Trấn Ác sử dụng rất thành thục. Ông tuy mù nhưng đôi tai rất thính, nhận biết vị trí đối phương qua tiếng động khi giao đấu, từ đó bắn ra bách phát bách trúng. Ông đã dùng ám khí này làm mù mắt Mai Siêu Phong.

Tỳ Bà Đinh (Cầm Sát Đinh)Sửa đổi

Theo truyện Thư kiếm ân cừu lục, đây là ám khí đặc biệt lợi hại của Hàn Ngũ Nương vùng Lạc Dương, và cũng nhờ thứ ám khí này mà bà đã trở nên nổi tiếng trên giang hồ, được đích thân Trần Gia Lạc ngưỡng mộ. Theo mô tả của tác giả, Tỳ Bà Đinh có 12 mũi, được giấu trong ruột của một cây đàn tỳ bà, uy lực cực kỳ ghê gớm, mỗi lần Tỳ Bà Đinh được phóng ra, nạn nhân chỉ có thể nín thở tránh đòn, khi mà tốc độ của loại ám khí này là khá lớn, cộng thêm việc có móc ngược, khiến cho chúng như bắt rễ bên trong cơ thể nạn nhân, và khi gỡ ám khí ra đồng nghĩa với việc phải đổi lấy một tảng thịt lớn, đau đớn không tài nào tả xiết.

Văn Tu ChâmSửa đổi

Theo truyện Ỷ Thiên Đồ Long ký, Văn Tu Châm là ám khí sở trường của Ân Tố Tố, và đã được cô nương này sử dụng với mục đích chiếm đoạt Đồ Long Đao từ tay của Du Đại Nham mà ông không hề hay biết. Văn Tu Châm cực kỳ nhỏ bé, khó bị phát hiện, người nào trúng phải chỉ cảm thấy nhói một cái như bị muỗi đốt. Tuy nhiên độc tính của nó lại cực cao, khi theo thời gian, độc phát tác, khiến cho cơ thể nạn nhân ngứa ngáy khắp người như bị hàng nghìn con kiến đốt làm nạn nhân khó lòng chịu đựng được mà phải tự sát. Ngoài ra Ân Tố Tố còn có thể phi hàng trăm mũi châm chỉ với một cú phất tay áo, và những mũi châm mỏng manh ấy thậm chí còn đủ sức đánh vỡ một chiếc bình sứ cứng cáp thành hơn chục mảnh nữa. Lúc trên Băng Hoả đảo, Ân Tố Tố đã dùng ám khí này làm mù mắt Tạ Tốn khi ông đang lên cơn điên dại.

Ám Nhiên Tiêu Hồn ChưởngSửa đổi

Theo truyện Thần điêu hiệp lữ, Ám Nhiên Tiêu Hồn Chưởng là loại chưởng pháp kỳ lạ bậc nhất do Dương Quá sáng tạo nên trong 16 năm chờ đợi Tiểu Long Nữ, và cũng chỉ có mình chàng sử dụng được môn võ tương tư sầu khổ, vô cùng đau đớn tuyệt vọng này. Khi tâm trạng vui vẻ hạnh phúc, vô ưu vô lo thì bộ chưởng pháp này mất đi thần hiệu.

Môn võ này được sáng tạo khi Dương Quá chỉ còn một tay nên lấy nội công làm gốc, không dùng các biến hóa đa đoan để thủ thắng. Nhiều chiêu thức trong Ám Nhiên Tiêu Hồn Chưởng được bắt nguồn từ các võ công mà Dương Quá đã biết, ví dụ như: Cửu Âm Chân Kinh, Nghịch Hành Kinh Mạch.

Ám Nhiên Tiêu Hồn Chưởng có 17 chiêu thức:

  1. Tâm Kinh Nhục Khiêu
  2. Khởi Nhân Ưu Thiên
  3. Vô Trung Sinh Hữu
  4. Đà Nê Đới Thủy
  5. Bồi Hồi Không Cốc
  6. Lực Bất Tòng Tâm
  7. Hành Thi Tẩu Nhục
  8. Đảo Hành Nghịch Thi
  9. Hồn Dại Mộng Oanh
  10. Phế Tẩm Vong Thực
  11. Cô Hình Chích Ảnh
  12. Âm Hận Thôn Thanh
  13. Lục Thần Bất Thân
  14. Cùng Đồ Mạt Lộ
  15. Diện Vô Nhân Sắc
  16. Tường Nhập Phi Phi
  17. Ngai Nhược Mộc Kê

Anh Hùng Tam ChiêuSửa đổi

Võ công phế vật xuất hiện trong truyện Lộc Đỉnh ký, do Hồng An Thông giáo chủ Thần Long Giáo truyền cho Vi Tiểu Bảo khi ở trên Thần Long đảo (Xà đảo).

Ảo Âm Chỉ (Huyễn Âm Chỉ)Sửa đổi

Ảo Âm chỉ xuất hiện trong tiểu thuyết Ỷ thiên Đồ long ký, là độc môn tuyệt học của Hỗn Nguyên Phích Lịch Thủ - Thành Côn.

Ảo Âm Chỉ khá giống Sinh Tử Phù, khi phát chỉ thì một đạo âm hàn nội lực bắn vào ở bên trong cơ thể đối thủ, hơn nữa sẽ du tẩu toàn thân, đồng thời di động gây đau đớn toàn thân, nếu không phải thuần dương nội lực rất khó hóa giải.

Theo truyện Ỷ thiên Đồ long ký, Thành Côn chỉ bằng Ảo Âm Chỉ ở Quang Minh đỉnh đánh trọng thương bảy đại cao thủ, sau đó bị Cửu Dương Thần Công của Trương Vô Kỵ sở phá.

Âm Dương Đảo Loạn Nhẫn PhápSửa đổi

Âm Dương Đảo Loạn Nhẫn Pháp là môn võ học gia truyền của dòng họ Công Tôn - chủ nhân Tuyệt Tình Cốc, công phu này sử dụng Hắc kiếm-Kim đao phối hợp tấn công. Trong truyện Thần điêu hiệp lữ, Công Tôn Chỉ dùng công phu này để đối phó với Tiểu Long Nữ và Dương Quá. Khi thi triển, tay trái sử dụng Hắc kiếm, tay phải sử dụng Kim đao. Điểm quái dị của môn võ công này là người dùng có lúc sử dụng kiếm pháp thuần tuý, lúc thì dùng đao pháp thuần tuý, nhưng có lúc lại dùng đao để thi triển kiếm pháp, hay ngược lại dùng kiếm để thi triển đao pháp. Chiêu số xuất thủ tương phản hoàn toàn với cái lý của võ học, đao pháp với kiếm pháp cứ bất chợt hiển thị, luân phiên dị hợp, biến hóa khôn lường, làm cho đối phương hoa mắt, phân tâm không thể phán đoán chính xác chiêu thức để tìm cách hoá giải.

Âm Dương Đối Nghịch CôngSửa đổi

Theo truyện Hiệp khách hành, đây là môn nội công được ghi trên một bộ tượng đất gồm 2 phần Âm (đỏ) và Dương (xanh). Bộ tượng đất này ban đầu được sở hữu bởi Tạ Yên Khách. Sau này ông ta truyền cho Thạch Phá Thiên (Cẩu Tạp Chủng) nhưng theo thứ tự ngược lại nhằm hại chết cậu để người khác không thể lấy cậu sai khiến mình. Cẩu Tạp Chủng luyện công đến lúc đỉnh điểm, hai luồng nội lực âm và dương xung kích nhau, sắp bị tẩu hỏa nhập ma thì ngẫu nhiên Triển Phi (một hương chủ của Trường Lạc Bang) đánh cậu nhưng lại khiến cậu đả thông được kinh mạch, khiến nội lực âm dương dung hòa làm một trong cơ thể. Từ đó cậu mang trong người nội công hùng mạnh của 2 luồng chân khí Âm-Dương khiến bách độc khó xâm, đồng thời có thể phản lại đòn đánh của đối thủ với lực theo tỉ lệ thuận với lực ra đòn. Từ đó cậu trở thành đệ nhất nội công trong truyện.

Âm Sơn Chưởng Đại Cửu ThứcSửa đổi

Âm Sơn Chưởng Đại Cửu Thức xuất hiện trong tiểu thuyết Ỷ thiên Đồ long ký do Cái Bang Quý trưởng lão sử dụng.

Bách Biến Quỷ ẢnhSửa đổi

Hồi ở núi Hoa Sơn, Mộc Tang đạo nhân không dạy môn khinh công tuyệt tác Bách Biến Quỷ Ảnh (Bóng ma trăm biến) cho Viên Thừa Chí là vì lúc ấy võ nghệ của Thừa Chí hãy còn non nớt, học được cũng vô dụng, và cũng chưa chắc đã hiểu.

Lần này vì Thừa Chí có hẹn ở Vũ Hoa đài với Quy nhị nương, vợ Thần Quyền Vô Địch Quy Thân Thụ, nhị sư huynh của Thừa Chí. Biết chàng không ra tay thì Quy nhị nương không để yên nhưng lại không thể đánh thật được nên Mộc Tang đạo nhân mới mượn Ôn Thanh Thanh gián tiếp truyền cho chàng.

Võ nghệ tuy không được tinh xảo, nhưng Thanh Thanh nhờ có trí nhớ hơn người lại thêm tinh khôn, biết Mộc Tang truyền cho mình là giả, mà truyền cho Thừa Chí là thật. Nên lúc đó, nàng cứ cố nhớ từ khẩu quyết, hành động, tay chân, thân pháp, vân vân. Nàng đều nhớ thuộc không sót một tí nào và đọc lại nguyên văn và biểu diễn cho Thừa Chí xem.

Sau đó Viên Thừa Chí cố công suy nghĩ đem hỗn hợp "Trường quyền Thập Đoạn Cẩm" của phái Hoa Sơn với "Bách Biến Quỷ Ảnh" như vậy kiêm cả sở trường của hai môn sáng tạo một môn võ tuyệt kỹ mới. Chàng nhờ Tiêu Uyển Nhi và mười vị sư huynh đệ của Kim Long bang, mỗi người xách một thùng nước đứng chung quanh luyện võ trường, chàng đứng ở giữa. Mỗi người tạt nước vào trong lúc chàng nhảy nhót luồn cúi, tránh Đông né Tây. Chờ mấy thùng nước đã tạt hết, chỉ có tay áo bên phải và chân trái hơi bị ướt thôi.

Bách Hoa Tá QuyềnSửa đổi

Xuất hiện trong truyện Thư kiếm ân cừu lục, Bách Hoa Tá Quyền là quyền thuật độc môn mà Thiên Trì Quái Hiệp Viên Sĩ Tiêu sáng tạo ra. Trước kia ông đi bái phỏng rất nhiều danh gia võ học, học lén hoặc khiêu khích đánh nhau để xem chiêu thức của họ. Ông còn kiếm được nhiều quyền phổ của các môn phái, danh gia khác, một phần là do cướp đoạt, phần là do đánh cắp. Đến tuổi trung niên, khi mà đã am tường quyền thuật các nhà các phái, ông từ đó sáng tạo ra Bách Hoa Tá Quyền.

Quyền pháp này bao gồm võ công cả trăm nhà phái, nhưng độc đáo nhất là ở chữ "Tá". Mỗi chiêu mỗi thức đều giống thủ pháp các phái chính tông, nhưng thật ra không phải, vừa xuất chiêu thì đối thủ tưởng là chiêu đó, nhưng khi đón đỡ mới biết đòn tấn công lại không phải thế, chỗ tinh diệu chính là giống mà không giống, tạo được bất ngờ. Ai thấy quyền thế sai lệch như vậy cũng cho là học chưa đến chỗ, nhưng cũng vì sai lệch nên đối phương mới không chống đỡ được. Đã là cao thủ võ lâm thì kiến văn phải uyên bác, võ học phải tinh thông, nên đối với võ công các phái đều đã có định kiến trong lòng, vì thế mới khó tránh khỏi "Bách Hoa dễ địch, Giả Tá khó phòng".

Về sau Viên Sĩ Tiêu nhận Trần Gia Lạc làm đồ đệ và truyền cho môn công phu này.

Bạch Hồng ChưởngSửa đổi

Xuất hiện trong truyện Thiên Long Bát Bộ, Bạch Hồng Chưởng là võ học của Tiêu Dao Phái, tuyệt kĩ độc môn của Lý Thu Thủy. Đây là một loại chưởng pháp vận dụng kình lực cực kì lợi hại, khi xuất ra có thể khống chế kình lực thay đổi phương hướng của chưởng lực tùy ý, đối thủ gặp phải khó lòng mà thoát.

"Đúng Sai Như Ý, Bạch Hồng Chưởng Lực".

Ban Nhược Chưởng (Bát Nhã Chưởng)Sửa đổi

Ban Nhược Chưởng là một trong bảy mươi hai tuyệt kỹ của phái Thiếu Lâm, căn bản luyện từ Vi Đà Chưởng mà luyện lên dần, luyện rồi sẽ không bao giờ hết, chưởng lực càng luyện càng mạnh mẽ, chiêu số càng luyện càng tinh thuần, quả đúng là không bờ bến, tinh yếu vô cùng. Trong Thiên Long Bát Bộ, Ban Nhược Chưởng là một trong những tuyệt kỹ mà Hư Trúc đã sử dụng để đấu với Cưu Ma Trí.

Bát Hoang Lục Hợp Duy Ngã Độc Tôn Công(Thiên Trường Địa Cửu Bất Lão Trường Xuân Công)Sửa đổi

Theo Thiên Long Bát Bộ, đây là võ công do tổ sư phái tiêu dao Tiêu Dao Tử sáng tạo ra chân truyền cho Thiên Sơn Đồng Lão. Bản chất của công phu này là cải lão hoàn đồng, làm cho cơ thể trẻ lại còn nội công thì tăng tiến. Người luyện Duy ngã độc tôn công mỗi 30 năm phải tiến hành cải lão một lần, mỗi lần lại mất thêm 30 ngày. Trong thời gian đó cơ thể sẽ tạm thời mất hết võ công, mỗi ngày đều phải uống máu tươi để điều hòa kinh mạch.

Bát Quái Du Long ChưởngSửa đổi

Xuất hiện trong truyện Ỷ Thiên Đồ Long kýLộc Đỉnh ký, Bát Quái Du Long Chưởng là chưởng pháp của phái Võ Đang. Cốt yếu chưởng pháp theo nguyên lý bát quái, bao gồm tám tám sáu mươi tư thức, chưởng pháp biến hóa lặp lại nhiều lần, nhưng mỗi lần lặp lại đều biến hóa khác với chiêu trước.

Theo truyện Lộc Đỉnh ký, Thái Hậu giả-Mao Đông Châu đã dạy môn võ này cho Khang Hi.

Bát Quái QuyềnSửa đổi

Bát Quái Quyền xuất hiện trong tiểu thuyết Ỷ thiên Đồ long ký do Cái Bang Trịnh trưởng lão sử dụng.

Bắc Minh Thần CôngSửa đổi

Bắc Minh Thần Công là một loại thượng thừa nội công tâm pháp trong truyện Thiên Long Bát Bộ của Kim Dung. Có nguồn gốc từ phái Tiêu Dao được Đoàn Dự phát hiện cùng lúc với Lăng Ba Vi Bộ. Đây là một môn nội công có tác dụng hút nội lực của người khác để cho bản thân sử dụng. Toàn bộ Bắc Minh Thần Công gồm 36 bức hình dùng để miêu tả. Có ba người học được bộ võ công này là Vô Nhai Tử, Đoàn Dự, Hư Trúc. Trong đó, chỉ có Vô Nhai Tử là học xong toàn bộ còn Đoàn Dự chỉ học xong bức đầu tiên, Hư Trúc thì chỉ nhận được cách vận khí từ Thiên Sơn Đồng Lão.

Hấp tinh đại phápSửa đổi

Hấp Tinh Đại Pháp là một môn nội công trong truyện Tiếu ngạo giang hồ của Kim Dung. Môn nội công này dùng để hút nội lực của người khác để cho chính mình sử dụng tương tự như Bắc Minh Thần Công, nhưng có vài chỗ khuyết điểm là:

  • Phải tán đi toàn bộ công lực trong cơ thể không còn có chút chân khí nào nếu như tán không hết hoặc là nội lực đi nhầm thì sẽ tẩu hỏa nhập ma. Nhẹ thì toàn thân tê liệt, nặng thì kinh mạch nghịch chuyển mà chết.
  • Sau khi tán công phải hấp thu nội lực của người khác để cho mình sử dụng. Bước này càng thêm khó khăn vì bản thân không có võ công lại phải đi hấp thụ nội lực của người khác chẳng khác nào lấy trứng chọi đá.
  • Lúc bắt đầu hấp thu sẽ không có cảm giác gì nhưng mà về sau thì những nội lực được hút vào cơ thể có thể sẽ đột nhiên cắn trả hút vào càng nhiều thì cắn trả càng mạnh.

Để thoát khỏi nội lực cắn trả thì có thể như Nhậm Ngã Hành tự tìm ra cách để áp chế hoặc là dùng Dịch Cân Kinh của Thiếu Lâm để hóa giải. Tuy nhiên cách áp chế như Nhậm Ngã Hành chỉ có hiệu quả tức thời chứ không hoàn toàn hiệu nghiệm, bằng chứng là cuối cùng Nhậm Ngã Hành cũng chết vì bị nội lực cắn trả, chỉ có cách luyện Dịch Cân Kinh mới hoàn toàn đồng nhất hết chân khí dị chủng.

Hóa công đại phápSửa đổi

Hóa Công Đại Pháp là một môn nội công trong truyện Thiên Long Bát Bộ của Kim Dung. Hóa Công Đại Pháp được sử dụng bởi Đinh Xuân Thu, bộ võ công này có mục đích là làm suy yếu nội lực của đối phương nhưng không thể đem nội lực của đối phương để cho bản thân sử dụng. Hóa Công Đại Pháp nguyên lý là hút chất độc từ các loài độc vật vào cơ thể sau đó đánh vào cơ thể của đối thủ để hóa giải đi nội công của đối thủ. Bộ võ công này khuyết điểm là phải hút chất độc hằng ngày để luyện công và cần dùng Thần Mộc Vương Đỉnh để luyện công. Đây cũng là nguyên nhân khi A Tử đánh cắp Thần Mộc Vương Đỉnh khiến cho Đinh Xuân Thu từ Tinh Túc phải trở về Trung nguyên.

Bế HuyệtSửa đổi

Bế Huyệt (Phong toả huyệt đạo) là một môn công phu gia truyền của dòng họ Công Tôn - chủ nhân Tuyệt Tình Cốc. Trong truyện Thần điêu hiệp lữ, Công Tôn Chỉ đã sử dụng công phu này khi giao đấu. Công phu này khi thi triển, có thể tuỳ ý phong bế huyệt đạo, nên dù có bị đối thủ đánh trúng huyệt thì vẫn không bị ảnh hưởng, trong khi đối phương thì kinh ngạc hoảng loạn, đây đích thị là một trong những công phu phòng vệ hạng nhất. Tuy nhiên Bế Huyệt vẫn có một nhược điểm chí mạng, đó là người luyện phải ăn chay suốt đời, không được ăn những thứ có máu, chất tanh, đồng thời cũng không được thấy những người gần mình ăn đồ có chất tanh. Nếu không công phu này sẽ bị mất hiệu nghiệm.

Bế Khí Đại PhápSửa đổi

Xuất hiện trong truyện Thần điêu hiệp lữ, Bế Khí Đại Pháp là một môn công phu trong Cửu Âm Chân Kinh, tập trung nín thở, hạn chế tối đa sự hô hấp của bản thân trong một khoảng thời gian. Tiểu Long Nữ và Dương Quá dùng công phu này để lặn dưới nước, nhằm tránh sự truy đuổi, quấy nhiễu của Lý Mạc Sầu và Hồng Lăng Ba.

Bích Ba Chưởng PhápSửa đổi

Theo truyện Anh hùng xạ điêu, Bích Ba Chưởng Pháp, khi đánh ra, chưởng thế như sóng, tuy nông cạn nhưng hàm chứa đạo lý cơ bản trong võ học của đảo Đào Hoa.

Bích Châm Thanh ChưởngSửa đổi

Theo truyện Hiệp khách hành, Bích Châm Thanh Chưởng là môn võ công của Tạ Yên Khách. Có thể chuyển nội lực là thứ vô hình, tích tụ vật chất thành một thứ hữu ích. Sau khi luyện thành công Bích Châm Thanh Chưởng, Tạ Yên Khách đã một mình đánh tan tổng đà bang Trường Lạc và đả thương Bối Hải Thạch.

Bích Hải Triều Sinh KhúcSửa đổi

Theo truyện Anh hùng xạ điêu, Bích Hải Triều Sinh Khúc là bài tiêu khúc của Đông Tà Hoàng Dược Sư. Bài Bích Hải Triều Sinh Khúc này có ma lực rất lớn. Khúc tiêu này mô phỏng biển cả mênh mông, vạn dặm phẳng lì, xa xa sóng biển từ từ tiến tới, càng gần càng mau, sau cùng thì cuồn cuộn dâng lên, sóng trắng như núi nối nhau, mà trong làn sóng thì cá nhảy kình bơi, trên mặt biển thì gió thổi âu bay, lại thêm yêu ma quỷ mị, quái vật giỡn sóng, thoắt thì núi băng trôi tới, thoắt thì biển nóng như sôi, biến ảo đủ vành, mà sau khi triều lui thì mặt nước phẳng lặng như gương, dưới đáy biển lại là những dòng chảy ngầm rất xiết, trong chốn không có tiếng động hàm chứa sự hung hiểm, càng khiến người nghe khúc nhạc này bất giác rơi vào chỗ mai phục, lại càng không thể đề phòng.

Bích Hổ Du TuờngSửa đổi

Bích Hổ Du Tuờng là môn khinh công rất độc đáo của Thiếu Lâm, cũng là một loại khinh công thường thấy trên giang hồ. Được biết, nếu luyện thành thục chiêu thức này, người đó có thể di chuyển trên tường, lên xuống tự do như thạch sùng.

Cà Sa Phục Ma CôngSửa đổi

Cà Sa Phục Ma Công là một trong 72 Tuyệt Kĩ Thiếu Lâm, dùng nội lực để thấm vào cà sa hộ thể, giúp cơ thể chịu được nhiều loại sát thương. Trong truyện Thiên Long Bát Bộ, Cưu Ma Trí đã dùng Tiểu Vô Tướng Công mô phỏng tuyệt kĩ này để thách đấu các nhà sư Thiếu Lâm.

Càn Khôn Đại Na DiSửa đổi

Theo truyện Ỷ Thiên Đồ Long ký, Càn Khôn Đại Na Di (乾坤大挪移) là bộ võ công tâm pháp thất truyền của Minh giáo nơi Tây Vực, sử dụng để di chuyển nội lực trong cơ thể, chuyển hướng các chiêu thức của kẻ địch, cũng có thể dùng để di chuyển vật nặng ngàn cân. Tất cả có 7 tầng (cấp độ).

Càn Khôn Đại Na Di là sự kết hợp giữa thuần dương của thân và thuần âm của thể. Tầng thứ nhất chủ yếu là cách vận công dẫn khí, di cung khiến khí, những người thông hiểu nhanh sẽ mất 7 năm để luyện, nếu không phải mất đến 14 năm. Lúc luyện tâm pháp của tầng thứ hai chỉ cảm thấy khí lạnh thoát ra từ 10 ngón tay. Cũng như tầng thứ nhất, người hiểu nhanh mất đến 7 năm để luyện, người chậm hiểu mất đến 14 năm,. Nếu 21 năm mà vẫn chưa luyện thành tầng thứ 2 thì không nên luyện đến tầng thứ 3, nếu không sẽ tẩu hỏa nhập ma.

Luyện đến tầng thứ 5 hai bên má lúc đỏ lúc xanh, lúc má chuyển xanh thì cả thân run rẩy như là bị rơi xuống đầm lạnh, má chuyển đỏ thì trán đổ mồ hôi như mưa. Sau khi luyện xong tầng 5 sẽ thấy toàn thân, tinh thần, khí huyết đều có thể điều khiển như ý muốn, muốn phát thì phát, muốn thu thì thu, xương cốt thoải mái.

Đến tầng thứ 6 phải mất rất nhiều thời gian để luyện thành. Người sáng tạo ra Càn Khôn Đại Na Di cũng chỉ luyện được đến tầng thứ 6, còn tầng thứ 7 là hoàn toàn dựa vào trí tưởng tượng của người này nên có 19 câu ở tầng thứ 7 là không thể luyện được.

Càn Khôn Đại Na Di là bộ tâm pháp để lưu chuyển nội lực trong cơ thể, nếu có nội công thâm hậu thì luyện tập rất dễ dàng, còn nếu nội lực không đủ mạnh mà miễn cưỡng luyện tập sẽ rất dễ bị tẩu hỏa nhập ma. Trước đó trong các đời giáo chủ chỉ có Chung giáo chủ đời thứ 8 luyện Càn khôn đại na di đến tầng thứ 5 nhưng ngay hôm sau cũng tẩu hỏa nhập ma mà chết. Giáo chủ Minh Giáo đời thứ 33 là Dương Đỉnh Thiên trong lúc luyện tầng thứ 4 thì vì chuyện tư tình của Thành Côn và phu nhân ông ta mà bị tẩu hỏa nhập ma dẫn đến cái chết. Dương Tả Sứ (Dương Tiêu) là sứ giả của Minh Giáo cũng chỉ luyện đến tầng thứ 2.

Giáo chủ Minh Giáo đời thứ 34 Trương Vô Kỵ trong một lần tình cờ đang đuổi theo Thành Côn đã tìm ra bí kíp võ học này. Nhờ có nội lực Cửu dương thần công cực kì thâm hậu nên đã tu luyện xong tầng thứ 6 chỉ trong 1 đêm, còn tầng thứ 7 thì không thể luyện được 19 câu như đã nói ở trên. Cũng nhờ học được tâm pháp Càn khôn đại na di nên sau này chỉ trong thời gian ngắn Trương Vô Kỵ có thể hiểu hết võ công Ba Tư ghi trên Thánh hỏa lệnh.

Cáp Mô Công (Hàm Mô Công)Sửa đổi

Cáp Mô Công là môn võ công thượng thừa mà Tây Độc Âu Dương Phong đã sáng tạo ra và khổ luyện nhiều năm. Cáp Mô nghĩa là con cóc. Công phu này mô phỏng tư thế con cóc đang ngồi chuẩn bị nhảy. Cáp Mô Công của Âu Dương Phong chuyên lấy tĩnh chế động, toàn thân vận kình chứa thế, nén khí không phát, chỉ cần địch nhân ra chiêu tấn công sẽ lập tức phát đòn phản kích mãnh liệt không gì bằng.

Nếu kết hợp Tiên Thiên Công và Nhất Dương Chỉ có thể phá giải hoàn toàn công phu Cáp Mô Công. Vương Trùng Dương trước khi chết đã tìm sang Đại Lý để đổi Tiên Thiên Công với Nhất Dương Chỉ của Nam Đế Đoàn Trí Hưng (Nhất Đăng đại sư), ông đã truyền Tiên Thiên Công cho Nam Đế và ngược lại Nam Đế truyền Nhất Dương Chỉ cho ông. Sau khi Vương Trùng Dương chết, thì trên đời kẻ duy nhất biết cả hai bộ này là Nhất Đăng, vì thế Âu Dương Phong luôn coi Nhất Đăng là kẻ đại thù cần tiêu diệt.

Cầm Long CôngSửa đổi

Cầm Long Công là 1 trong 72 tuyệt kỹ Thiếu Lâm xuất hiện lần trong truyện Thiên Long Bát BộLộc Đỉnh Ký, nó là một môn võ công thần bí và tuyệt diệu, do Tiêu Phong sử dụng. Khi đánh nhau với Phong Ba Ác, Tiêu Phong ra đòn bất ngờ, hắn tỏ vẻ không phục nên xin đấu lại. Tiêu Phong không nói gì, giơ tay chộp vào không khí, 1 luồng kình lực bắn vào thanh đao dưới đất, thanh đao này bay vào tay Tiêu Phong, sau đó ngón tay Tiêu Phong đảo lực, cán đao quay ngược về đến phía Phong Ba Ác. Phong Ba Ác thốt lên: "đó có phải Cầm Long Công? Trên đời này quả thực có người biết môn võ công thần kỳ này ư?" Tiêu Phong đáp là mới tình cờ học lỏm được. Trước kia hẳn là có người sử dụng món võ công này nên trong giang hồ mới biết đến nó, nhưng do nó quá thần kỳ nên nghĩ rằng chỉ là tin đồn.

Cầm Long Công và Khổng Hạc Công là những môn võ có thể chộp được binh khí từ xa khoảng 10 thước. Luyện đến đỉnh điểm thì chộp được cả người.

Cầm Nã ThủSửa đổi

Xuất hiện xuyên suốt trong nhiều bộ truyện, Cầm Nã Thủ là một môn võ công chuyên sử dụng lực bàn tay và ngón tay để tấn công, lực mạnh hay nhẹ là do nội lực và trình độ người luyện. Đầu tiên, phải luyện tập khắc nghiệt cho các ngón tay cứng như thép, khi các đầu ngón tay cứng cáp và đủ lực thì bắt đầu thực hiện các kỹ năng cầm nã thủ. Phần cơ thể chủ yếu để cầm nã thủ là bắp thịt ở cẳng tay, cánh tay của đối phương, các ngón tay, cổ tay. Hoặc cao hơn còn có thể dùng cầm nã vặn và bẻ những quan tiết (khớp xương) yếu như cổ chân, yết hầu (cổ họng), đầu gối...

Cầm Nã Thủ có nhiều biến thể và phiên bản như: Đại Cầm Nã Thủ, Tiểu Cầm Nã Thủ, Toả Hầu Cầm Nã Thủ, Ưng Trảo Cầm Nã Thủ, Niêm Hoa Cầm Nã Thủ, Phân Thân Thác Cốt Thủ,... Những nhân vật tiêu biểu sử dụng Cầm Nã Thủ thuần thục trong các bộ truyện có thể kể đến như: Tiêu Phong, Anh Cô, Đinh Bất Tam, Đinh Bất Tứ, Ân Thiên Chính,...

Đại Cầm Nã ThủSửa đổi

Đại Cầm Nã Thủ là môn cầm nã thủ chính tông của phái Thiếu Lâm. Gồm mười tám đường, mỗi đường có 18 thủ thức, mỗi thủ thức lại có đến 7 đến 8 chỗ biến hóa, mười tám đường là ba trăm hai mươi bốn lối biến hóa. Chiêu thức của Đại Cầm Nã Thủ thường dài, rộng và mạnh mẽ.

Một số chiêu thức đường đầu:"Tương thôi trửu", "Phản bối niêm thân cảo", "Tiền đảo bái", "Bạch mã phiên đề", " Lý ngư tháo ty", "Nghinh phong phất liễu", "Thích thuận cước", "Tất trùy", "Thông thiên pháo", "Kim ty phan my", "Xanh hoạt tiền đảo bát", Hầu tọa hào", "Chiền ty", "Trúy yêu", "Cổn đề", "Xanh thủ", "Quán nhĩ", "Ðiền lô". Ðường thứ hai trong Ðại Cầm Nã Thủ cũng có tất cả 18 thức. Ðường này chú trọng về phần điểm huyệt và bẽ xương tay khiến cho đối thủ bị bong gân mà phải đầu hàng. Các đường còn lại không được đề cập.

Do môn công phu này có mười tám đường nên còn có tên khác là Thập Bát Lộ Cầm Nã Thủ.

Trong truyện Hiệp khách hành, Đại Cầm Nã Thủ là công phu gia truyền của dòng họ nhà Đinh gia (Đinh Gia Thập Bát Lộ Cầm Nã Thủ), thường do Đinh Bất Tam, Đinh Bất Tứ, Đinh Đang sử dụng, sau này truyền lại cho Thạch Phá Thiên.

Niêm Hoa Cầm Nã ThủSửa đổi

Niêm Hoa Cầm Nã Thủ là một biến thể của Cầm Nã Thủ, là môn võ học cao thâm của phái Thiếu Lâm, thủ pháp cực kỳ xảo diệu. Lúc ra tay coi rất ung dung nhàn nhã, không có chút chi bá đạo nhưng uy lực vô cùng.

Phân Thân Thác Cốt Thủ (Phân Cân Thác Cốt Thủ)Sửa đổi

Xuất hiện trong truyện Anh hùng xạ điêuLộc Đỉnh ký, Phân Thân Thác Cốt Thủ là môn thủ pháp khá lợi hại trong công phu Cầm Nã Thủ.

Phân Thân hoặc Trảo Thân là nhằm chỉ các thế chộp cơ thể gây rách dây chằng hay cơ của đối thủ và đôi khi làm bung điểm nối dài dây chằng và xương. Thác Cốt là những kỹ thuật cầm nã làm cho xương bị di dịch khỏi vị trí tự nhiên, có thể làm trật khớp tứ chi của đối phương. Khi đã thi triển Phân Thân thì sẽ luôn đi liền với Thác Cốt.

Theo truyện Anh hùng xạ điêu, Diệu thủ thư sinh Chu Thông luyện môn công phu này để đối phó Cửu Âm Bạch Cốt Trảo của Mai Siêu Phong.

Tiểu Cầm Nã ThủSửa đổi

Tiểu Cầm Nã Thủ là môn võ chánh tông của phái Võ Ðang. Công phu này thường dùng để cận chiến, khi kẻ địch kề sát bên mình. Chiêu thức của tiểu cầm nã thủ tinh vi, ảo diệu, biến hóa nhanh, hiểm hóc.

Tiểu Cầm Nã Thủ vốn dùng chiến đấu trong khi trời tối nên phải ứng biến thật nhanh. Ngón tay, bàn tay, cánh tay, khuỷu tay dù nơi nào đụng phải địch, lập tức bắt nắm, cào cấu, đấm móc, bẻ vặn ngay.

Trong truyện Lộc Đỉnh ký, Thái hậu giả-Mao Đông Châu đã dạy môn võ này cho Khang Hi.

Toả Hầu Cầm Nã ThủSửa đổi

Xuất hiện trong truyện Thiên Long Bát Bộ, Toả Hầu Cầm Nã Thủ là một biến thể của Cầm Nã Thủ, thường được Mã Đại Nguyên-phó bang chủ Cái Bang sử dụng, nhưng sau khi ông chết thì gần như bị thất truyền. Luận trên võ công mà nói, Toả Hầu Cầm Nã Thủ cũng chỉ được liệt vào hạng trung bình. Xét về độ cương mãnh, nó còn thua xa Hàng Long Thập Bát Chưởng hay Đại Lực Kim Cương Chưởng. Xét về tính âm độc nó cũng không bằng Huyền Minh Thần Chưởng hay Cửu Âm Bạch Cốt Trảo. Điểm kì đặc duy nhất của môn công phu này là chủ yếu tấn công vào yết hầu của đối phương. Là người học võ ai cũng biết rằng yết hầu là một trong yếu huyệt quan trọng bậc nhất, ai bị đánh vào đó sẽ chết ngay. Tuy nhiên, Tỏa Hầu Cầm Nã Thủ mà các đại nội cao thủ sử dụng đã có nhiều biến đổi. Nó không có mục đích giết người mà chỉ làm cho đối thủ bị á khẩu hoặc làm cho giọng nói của họ bị thay đổi. Rất nhiều cao thủ sau khi trúng phải chiêu này đã trở nên câm điếc hoặc nếu có nói thì chính bản thân người đó cũng không còn nhận ra ngay cả giọng nói của mình.

Ưng Trảo Cầm Nã ThủSửa đổi

Ưng Trảo Cầm Nã Thủ xuất hiện trong truyện Ỷ Thiên Đồ Long ký, là một phiên bản biến thể kết hợp giữa Cầm Nã Thủ và Ưng Trảo Công, là công phu của Thiên Ưng Giáo, do Ân Thiên Chính luyện. Trảo pháp này khi thi triển thì sắc bén, tàn nhẫn vô cùng.

Cửu Âm Chân KinhSửa đổi

Cửu Âm Chân Kinh (九陰真經) là tên gọi của một bộ võ công lần đầu xuất hiện trong bộ truyện Anh hùng xạ điêu (tiểu thuyết đầu tiên của bộ Xạ điêu tam khúc), qua lời kể của Lão Ngoan đồng Chu Bá Thông cho Quách Tĩnh nghe lý do tại sao mình bị Hoàng Dược Sư giam giữ trên Đào Hoa đảo. Theo lời kể của Lão Ngoan đồng, người viết nên Cửu Âm Chân Kinh là Hoàng Thường mà nguyên nhân sâu xa là từ những thù oán của Hoàng Thường với giới võ lâm.

Hoàng Thường vốn là một quan văn trong triều dưới thời đại vua Huy Tông triều Tống, theo lệnh của hoàng đế thu thập hết sách của Đạo gia 5481 quyển viết thành bộ sách Vạn thọ Đạo tàng (theo lời Chu Bá Thông thì việc này diễn ra vào năm Chính Hòa thứ năm, vua Huy Tông). Nhờ trí thông minh và kiên trì, Hoàng Thường đã học được toàn bộ các bí kíp võ học Đạo gia và trở thành một cao thủ võ lâm. Sau đó, theo lệnh của Huy Tông hoàng đế, Hoàng Thường dẫn quân đến tiêu diệt Minh Giáo, do lính triều đình quá kém cỏi nên quân của Hoàng Thường bị đại bại, nhưng ông cũng giết được một vài cao thủ và sứ giả của Minh Giáo. Sau đó Hoàng Thường bị người thân của các cao thủ mà ông đã giết cùng lúc kéo đến hỏi tội, Hoàng Thường giết được vài người, nhưng do kẻ thù quá đông ông không chống nổi, kết quả là cả nhà Hoàng Thường bị sát hại, chỉ một mình Hoàng Thường thoát nạn chạy lên núi ẩn náu quyết rèn luyện võ công cao cường để trả thù.

Sau một thời gian dài tu luyện và ngộ được đạo lý võ học, Hoàng Thường xuống núi với ý định trả thù nhưng ông nhận ra tất cả các đối thủ đều đã chết hết, thậm chí con cái đối thủ cũng đã già nua, Hoàng Thường hết ý định trả thù, nhưng tiếc những kiến thức võ học Đạo gia mà mình học được, ông viết thành bộ Cửu âm chân kinh gồm 2 quyển: Quyển thượng bao gồm đạo lý thâm ảo của Đạo gia từ đó đúc kết thành bí kíp rèn luyện nội công căn bản, tiêu biểu đoạn mở đầu trong quyển Thượng có câu "Đạo của trời là cắt cái có thừa bù vào chỗ không đủ, cho nên hư có thể thắng thực, không đủ có thể thắng có thừa" lấy ý "Đạo trời lấy chỗ thừa mà đắp vào chỗ thiếu hụt" từ Đạo Đức Kinh của Lão Tử. Quyển hạ gồm các chiêu thức khắc địch và bảo vệ thân thể. Sau khi Hoàng Thường qua đời, Cửu âm chân kinh lưu lạc trong nhân gian khiến giới võ lâm tranh đoạt và gây ra sự chém giết để giành lấy bí kíp này.

Trước thời kỳ xảy ra những nội dung chính của câu chuyện trong tiểu thuyết Anh hùng xạ điêu, có năm người võ công cao siêu nhất cùng đấu với nhau trên đỉnh Hoa Sơn để tranh nhau Cửu âm chân kinh gồm Đông Tà Hoàng Dược Sư, Tây Độc Âu Dương Phong, Nam Đế Đoàn Trí Hưng, Bắc Cái Hồng Thất Công, và Trung Thần Thông Vương Trùng Dương. Võ công của Vương Trùng Dương cao nhất và giành được Cửu âm chân kinh. Ông định đốt sách để tránh chuyện tàn sát trong võ lâm, nhưng lại tiếc công người xưa nên giấu quyển sách đi. Trước khi chết, ông đã giao cho Lão Ngoan đồng Chu Bá Thông là sư đệ của mình đi giấu hai quyển sách ở hai nơi nhằm tránh cho quyển sách rơi vào tay kẻ xấu.

Trên đường đi giấu sách, Lão Ngoan đồng bị vợ Hoàng Dược Sư đánh lừa, dùng trí nhớ siêu phàm đọc lại một lần nhớ hết quyển hạ. Bà về viết lại cho chồng, nhưng Hoàng Dược Sư chưa tu luyện thì bị học trò là cặp vợ chồng Mai Siêu Phong, Trần Huyền Phong lấy trộm quyển hạ trốn đi, luyện ra những võ công âm độc (ví dụ như Cửu âm bạch cốt trảo...). Hoàng Dược Sư nổi giận đánh gãy chân các học trò còn lại và đuổi ra khỏi đảo Đào Hoa. Vợ Hoàng Dược Sư lúc đó mang thai cố gắng nhớ lại viết lại sách cho chồng nên bị kiệt sức và mất sau khi sinh con. Chu Bá Thông thấy vậy đến Đào Hoa đảo đòi sách và đánh nhau với Hoàng Dược Sư, thua trận bị nhốt trong động đá.

Vô tình từ những ân oán giữa Giang nam thất quái và vợ chồng Mai Siêu Phong khiến cho Quách Tỉnh có được nội dung Cửu âm chân kinh phần quyển hạ được ghi lại trên da bụng của Trần Huyền Phong. Khi Quách Tỉnh gặp Chu Bá Thông trên Đào Hoa đảo, Chu Bá Thông đã dạy cho Quách Tĩnh thuộc lòng cả bộ Cửu âm chân kinh và cũng vô tình đó, Chu Bá Thông cũng luyện thành và trở thành một nhân vật võ công cao nhất. Một phần của Cửu âm chân kinh viết bằng tiếng Phạn được Nhất Đăng đại sư dịch lại sang Trung văn. Sau này, Quách Tĩnh trở thành một cao thủ nhờ tu luyện Cửu Âm Chân Kinh.

Khi đến bộ Thần điêu hiệp lữ, Cửu âm chân kinh một lần nữa xuất hiện. Vương Trùng Dương trước khi chết đã ghi lại một phần nội dung Cửu âm chân kinh trong thạch động Hoạt tử nhân mà Dương QuáTiểu Long Nữ là hai người có duyên luyện được bí kíp này.

Cửu âm chân kinh được vợ chồng Quách Tĩnh, Hoàng Dung giấu trong kiếm Ỷ Thiên, được Chu Chỉ Nhược luyện tập. Thành công nhất trong truyện Ỷ Thiên Đồ Long Ký có lẽ là cô gái áo vàng (Hoàng Sam nữ tử), hậu nhân của Dương QuáTiểu Long Nữ.

Thượng Quyển:


1.Bắc Đẩu Đại Pháp.

2.Dịch Cân Đoạn Cốt Thiên.

3.Liệu Thương Thiên.

4.Điểm Huyệt Thiên.

5.Giải Huyệt Bí Quyết.

6.Bế Khí Bí Quyết.

7.Thu Cân Súc Cốt Pháp.

8.Di Hồn Đại Pháp.

9.Xà Hành Ly Phiên Thuật.

10.Phi Những Kình.

11.Thượng Thiên Thê.

12.Tổng Cương.

13.Nội Công Tâm Pháp.

14.Hoành Không Na Di.

15.Quỷ Ngục Âm Phong Hống.

16.Đả Thông Kinh Mạch.

17.Di Huyệt Đại Pháp.

18.Pháp Môn Quý Tức.

Hạ Quyển:


1.Đại Phục Ma Chưởng Pháp.

2.Thủ Huy Ngũ Huyền.

3.Tồi Kiên Thần Trảo.

4.Bạch Mãng Tiên Pháp.

5.Cửu Âm Bạch Cốt Trảo.

6.Thôi Tâm Chưởng.

7.Kim Chúng Tráo.

8.Loa Toàn Cửu Ảnh.


Cửu Âm Thần TrảoSửa đổi

Theo truyện Anh hùng xạ điêu, Cửu Âm Bạch Cốt Trảo vốn có tên là Cửu Âm Thần Trảo, là một trong nhiều môn võ công được ghi lại trong Cửu Âm Chân Kinh. Nổi danh nhất với võ công này là Hắc Phong Song Sát (Đồng Thi Trần Huyền Phong và Thiết Thi Mai Siêu Phong, 2 trong 6 đệ tử ban đầu của Đông Tà Hoàng Dược Sư). Ngoài Hắc Phong Song Sát ra chỉ có Dương Khang (đã bái Mai Siêu Phong làm sư phụ), Chu Chỉ Nhược phái Nga Mi và truyền nhân Thần điêu hiệp lữ (cô gái áo vàng trong Ỷ thiên đồ long ký) là có sử dụng võ công này.

Cửu Âm Bạch Cốt Trảo mà Chu Bá Thông truyền thụ cho Quách Tĩnh Chính là Cửu Âm Thần Trảo. Khi luyện Cửu Âm Thần Trảo thì chỉ dùng tay đánh vào vách đá để luyên tập, nhưng do Mai Siêu Phong cùng sư huynh Trần Huyền Phong ăn cắp được nửa quyển hạ Cửu âm chân kinh, sau đó tập luyện theo mà không hiểu yếu chỉ đạo gia trong khẩu quyết võ công nên khi luyện dùng tay đánh vào sọ người sống, khi luyện tập thường chất rất nhiều sọ người xung quanh nơi mình tập, từ đó được giới giang hồ gọi là Cửu Âm Bạch Cốt Trảo.

Quyển hạ Cửu Âm Chân Kinh viết:  "Năm ngón phát kình, không gì cứng không phá được, chụp vào đầu óc như xuyên vào đậu hũ". Câu "Chụp vào đầu óc" ý là tấn công vào chỗ yếu hại của địch nhân, Mai Siêu Phong lại tưởng là phải chụp vào đầu người thật nên lúc luyện công cũng theo đó mà làm.

Yếu chỉ của bộ Cửu Âm Chân Kinh này vốn là đường lối học theo tự nhiên của Ðạo gia, xua quỷ trừ tà để trường sinh dưỡng mệnh, há lại dạy người ta luyện thành võ công hung ác tàn nhẫn như thế sao?

Cửu Dương Chân KinhSửa đổi

Cửu Dương Chân Kinh (Cửu Dương Thần Công) là bí kíp võ thuật chỉ dẫn cách luyện nội công xuất hiện trong tiểu thuyết Ỷ Thiên Đồ Long ký của nhà văn Trung Quốc Kim Dung.

Cửu Dương Chân Kinh được ghi lại bên trong mép cuốn Lăng Già Kinh, được Giác Viễn thiền sư - một người gác Tàng kinh các trong Thiếu Lâm tự - phát hiện. Lăng Già Kinh là một quyển kinh Phật được viết bằng chữ Phạn của Đạt Ma sư tổ nên Giác Viễn cho rằng Cửu Dương Chân Kinh là của Đạt Ma sư tổ để lại. Trong những bản sửa đổi mới nhất của Kim Dung về Ỷ Thiên Đồ Long ký thì tác giả có nêu nguồn gốc của Cửu Dương Chân Kinh: "Vô Kỵ đem bốn quyển kinh thư từ đầu đến cuối đọc lại một lần, đọc xong quyển cuối cùng chàng thấy tác giả chân kinh tự thuật lại quá trình viết chân kinh. Y không nói tính danh, xuất thân, chỉ nói chính y không biết theo nho theo đạo hay theo tăng. Một hôm ở Tung Sơn đấu rượu thắng tổ sư phái Toàn Chân Vương Trùng Dương, được mượn đọc Cửu Âm Chân Kinh, mặc dù bội phục võ công tinh diệu trong kinh thư nhưng một mặt tôn sùng Lão Tử học, lại xem kinh thư chỉ thiên về lấy nhu thắng cương, lấy âm thắng dương, không bằng âm dương hòa hợp, vì thế ở bên lề bốn cuốn kinh Lăng Già lấy chữ Hán viết nên bộ Cửu Dương Chân Kinh do chính mình sáng chế, cảm thấy so với Cửu Âm Chân Kinh thuần âm thì có âm dương điều hòa, cương nhu trung hòa, hỗ trợ nhau. Trương Vô Kỵ bội phục sát đất đạo lí võ học không thiên lệch, nghĩ thầm bộ kinh này phải gọi là Âm Dương Hỗ Tế Kinh, nếu chỉ gọi là Cửu Dương Chân Kinh thì vẫn không khỏi thiên lệch."

Cửu Dương Chân Kinh lần đầu được nhắc đến là khi Giác Viễn thiền sư truy đuổi Doãn Khắc TâyTiêu Tương Tử đến Hoa Sơn ở phần cuối Thần điêu hiệp lữ. Doãn Khắc Tây và Tiêu Tương Tử trong khi tạm lánh ở Thiếu lâm tự đã ăn trộm bộ sách này và đã bị Giác Viễn truy đuổi để đòi lại. Tuy nhiên, hai người này đã khéo léo giấu bộ sách vào bụng con vượn trắng nên dù Giác Viễn được sự trợ giúp của Quách TươngTrương Quân Bảo vẫn không thể tìm thấy và buộc phải quay về. Về sau, Doãn Khắc Tây và Tiêu Tương Tử bỏ trốn đến dãy Côn Luân thì đánh nhau để tranh giành bộ kinh đến mức cả hai cùng kiệt sức mà chết. Trước khi chết, họ có lời nhờ "Côn Luân tam thánh" Hà Túc Đạo chuyển lời đến Giác Viễn về sách là "Sách để trong hầu" (hầu chỉ con khỉ già) nhưng do kiệt sức phát âm không nổi, cộng thêm Hà Túc Đạo là người Tây Vực không hiểu tiếng Hán lắm nên nghe nhầm là "Sách để trong dầu" nên cả Giác Viễn lẫn Thiếu Lâm tự đều không hiểu và bộ sách đã gần như bị thất truyền.

Có nhiều người học được Cửu Dương Chân Kinh, nhưng chỉ có Giác Viễn và sau này là Trương Vô Kỵ học được toàn vẹn nguyên bản. Giác Viễn là một người mê đọc sách, khi gác Tàng Kinh Các của Thiếu lâm đã đọc hết các sách và vô tình đọc cả bộ Kinh Lăng Già. Vì đọc nhiều lần nên vô tình Giác Viễn đã rèn luyện Cửu Dương Chân Kinh và có trong mình nội công hùng hậu Cửu Dương Thần Công mà không hề hay biết. Do nhiều biến cố, Giác Viễn gặp nạn và trước khi qua đời đã đọc lại toàn bộ Cửu Dương Chân Kinh, lúc đó có mặt cả Trương Quân Bảo, Quách Tương (sau này lập nên phái Nga Mi) và Vô Sắc thiền sư của Thiếu Lâm, mỗi người ghi nhớ được một phần của bộ kinh này. Lúc đó ngộ tính, võ công và hiểu biết của ba người hoàn toàn khác nhau: Nếu xét về võ công thì Vô Sắc thiền sư cao hơn cả. Quách Tương là con gái của Quách TĩnhHoàng Dung có sở học rộng nhất. Trương Quân Bảo (sau này là Trương Tam Phong) thì hoàn toàn không có căn cơ gì, nhưng theo Giác Viễn lâu nhất, được truyền thụ từ nhỏ nên có thể nói là được truyền thụ nhiều nhất. Trong ba phái Thiếu Lâm, Nga Mi, Võ Đang thì một phái được chữ "Cao", một phái được chữ "Bác", còn một phái được chữ "Thuần". Ba phái luyện Cửu Dương Chân Kinh mỗi đằng đều có sở trường, nhưng cũng có sở đoản.

Gần một trăm năm sau, Trương Vô Kỵ khi bị kẻ thù truy đuổi trên núi tuyết Côn Luân đã vô tình lạc vào thung lũng nơi ở của con vượn già có chứa kinh thư Cửu Dương Chân Kinh trong bụng. Ở đó, Vô Kỵ đã mổ bụng cứu con vượn già và đã học được toàn bộ nội công Cửu Dương Thần Công trong bộ sách này.

Nếu như Cửu Âm chân kinh (mang màu sắc Đạo gia và chú trọng âm nhu) là bí kíp hướng dẫn cách tu tập nội công và các chiêu số võ công thắng địch thì Cửu Dương Chân Kinh lại là bí kíp thuần túy tu luyện nội lực. Theo mô tả của Kim Dung trong Ỷ Thiên Đồ Long ký, khi luyện thành Cửu Dương Chân Kinh thì trong mình người học sẽ có được nội công Cửu Dương Thần Công hùng hậu vào loại bậc nhất mà không môn nội công nào khác có thể vượt qua. Cửu Dương Thần Công được xem là môn nội công chí dương trong thiên hạ, mang tính dương (nóng) nhưng do phát triển dựa trên Cửu Âm Chân Kinh nên có âm dương bổ trợ, cương nhu hòa hợp. Nội lực Cửu Dương Thần Công sinh ra gần như là liên miên bất tuyệt, có thể hóa giải được những nguồn nội công mang tính âm-hàn như Huyền Minh thần chưởng hay Huyễn Âm Chỉ, đồng thời phản kích lại tỉ lệ thuận với độ mạnh của lực tấn công bên ngoài. Cửu Dương Thần Công còn có thể giúp người luyện hoán gân chuyển cốt, khiến cơ thể bách độc bất xâm. Trương Vô Kỵ sau khi luyện thành Cửu Dương Chân Kinh đã đẩy được toàn bộ hàn độc của Huyền Minh thần chưởng đang đe dọa mạng sống của mình. Sau này cũng nhờ vào nội lực Cửu Dương Thần Công thâm hậu cùng tâm pháp nội công Càn khôn đại na di nên Vô Kỵ đã học được nhiều tuyệt kỹ võ công thượng thừa và ngộ ra nhiều đạo lý thâm sâu trong võ học, trở thành một cao thủ có võ công và nội lực tuyệt đỉnh.

Đối với bí kíp Cửu Dương Chân Kinh, Vô Kỵ sau khi luyện xong đã chôn bộ kinh trong hẻm núi và sau đó không ai còn nghe về hành trình của bộ sách này.

Dã Hồ Quyền PhápSửa đổi

Theo truyện Anh hùng xạ điêu, Dã Hồ Quyền Pháp là tuyệt học bình sinh của Sâm Tiên Lão Quái Lương Tử Ông.

Năm xưa Lương Tử Ông đào sâm trên núi Trường Bạch thấy chó săn và chồn hoang đánh nhau trên mặt tuyết. Con chồn hoang giảo trá đa đoan, né đông lật tây vô cùng linh động, chó săn nanh móng tuy sắc bén nhưng đánh nhau hồi lâu vẫn không sao thủ thắng. Y nhìn thấy con chồn hoang nhảy nhót, trong lòng chợt ngộ, lập tức không đào nhân sâm nữa, bèn ở lại trong lều tranh trên núi tuyết vất vả suy nghĩ mấy tháng, sáng chế ra bộ Dã Hồ Quyền Pháp. Bộ quyền pháp này lấy bốn chữ Lanh, Nốt, Phác, Diệt làm yếu chỉ, đối phó với cường địch rất phù hợp, trước tiên khiến địch nhân không thể tiến tới cạnh mình, lách phải né trái, sau đó thừa cơ tập kích.

Di Hình Hoán Vị Sửa đổi

Theo truyện Anh hùng xạ điêu, Di Hình Hoán Vị là công phu của Quỷ Môn Long Vương Sa Thông Thiên dù gối không co, chân không nhích nhưng di chuyển rất nhanh.

Di Hồn Đại PhápSửa đổi

Theo truyện Anh hùng xạ điêu, Di Hồn Đại Pháp là một môn võ trong Cửu Âm Chân Kinh, dùng sức mạnh tâm linh để điều khiển tâm thần đối phương, từ đó có thể khắc chế địch để thủ thắng. Trong thuật "Di hồn đại pháp" thì căn bản là lấy sự cảm ứng của tinh thần để khống chế đối phương. Nếu đối phương giữ được tinh thần trong suốt, không hề bị ngoại cảnh hay điều gì bên ngoài chi phối, thì thuật này không có hiệu lực lắm.

Dịch Cân Đoản CốtSửa đổi

Theo truyện Anh hùng xạ điêu, Dịch Cân Đoản Cốt là một trong nhiều môn võ công được ghi lại trong Cửu Âm Chân Kinh.

Mặc dù là nội công căn bản nhưng lại hết sức quan trọng, hầu hết võ công bên trong Cửu Âm Chân Kinh đều dùng môn nội công này làm căn cơ. Dịch Cân Đoán Cốt có thể rèn luyện gân cốt, mở rộng kinh mạch, gia tăng nội lực, sinh lực trở nên dồi dào. Từ cổ chí kim, đủ loại nội công pháp môn đếm không hết, nhưng công pháp có khả năng cải biến thân thể tư chất thì vô cùng hiếm thấy. Dịch Cân Đoản Cốt có thể so sánh với Dịch Cân Kinh của Thiếu Lâm Tự.

Dịch Cân KinhSửa đổi

Dịch Cân Kinh là môn võ công xuất hiện trong một số tiểu thuyết của Kim Dung như Thiên Long Bát Bộ, Tiếu ngạo giang hồ, Lộc đỉnh ký. Ngoài ra Dịch Cân Kinh cùng với Tẩy Tủy Kinh là một trong 2 môn công pháp trấn phái của Thiếu Lâm Tự.

Dịch Cân Kinh là nội công tối thượng do Đạt Ma sư tổ phải diện bích 9 năm mới sáng tạo ra, bản thân nó là kết tinh tinh hoa võ đạo của Đạt Ma. Bí kíp Dịch Cân Kinh được viết bằng tiếng Phạn khó hiểu, nhưng khi nhúng vào nước sẽ xuất hiện những hình ảnh một nhà sư tập những động tác tương tự như thuật yoga ngày nay. Người thường không hiểu tiếng Phạn khó luyện thành, chỉ có người có cơ duyên thấy được đồ hình mới may mắn thần công đại thành. Trong Thiên Long Bát Bộ thì bí mật này ngay cả chùa Thiếu Lâm cũng không biết, và ngay cả các cao tăng chữ Huyền cũng không ai tập được. Nhưng những tiểu thuyết có bối cảnh sau thời Tống đều nói rằng Thiếu Lâm luôn có cao thủ tập được Dịch Cân Kinh, điển hình là Phương Chứng trong Tiếu ngạo giang hồ. Theo đó có thể hiểu hoặc sau đó Thiếu Lâm đã khám phá ra đồ hình, hoặc đã có cao tăng phiên dịch chữ Phạn ra chữ Hán.

Tác dụng chính của Dịch Cân Kinh chính là: dịch cân tẩy tủy, làm dịch chuyển, thay đổi gân/ cơ/ xương, dùng để chỉ dẫn cách vận khí nhằm cường thân kiện thể, hóa giải sự xung đột của nhiều loại chân khí nếu chúng cùng tồn tại một lúc trong cơ thể điều này được ghi lại trong Tiếu ngạo giang hồ. Cuối cùng quan trọng nhất là tăng lên căn cốt cùng tư chất luyện võ của một người. Trong Thiên Long Bát Bộ, Dịch Cân Kinh được xem là môn nội công rất khó luyện thành, người luyện cần phải đạt đến cảnh giới Vô Ngã Vô Tướng trong Phật môn, nếu cưỡng cầu luyện có thể dẫn đến tẩu hỏa nhập ma như trường hợp của Cưu Ma Trí. Nhưng một khi đã luyện thành thần công thì người luyện sẽ trở thành một cao thủ có nội lực thượng thừa. Trong tiểu thuyết Kim Dung, Dịch Cân Kinh và Cửu Dương Thần Công được xem là hai môi nội công đứng đầu thiên hạ, chỉ có thể ngang nhau chứ không có hơn kém.

Dương Gia Thương PhápSửa đổi

Dương Gia Thương Pháp là công phu dùng thương, bắt nguồn từ dòng họ Dương gia thời nhà Tống, đây là một gia đình có nhiều vị tướng tài và lập nhiều công lao to lớn cho triều đình (Dương Gia tướng). Sau này Dương Gia Thương Pháp lưu truyền ra giang hồ, nhưng trong mười phần có chín phần không phải là đích truyền chính tông.

Trong truyện Anh hùng xạ điêu, Dương Thiết Tâm là truyền nhân của Dương Gia tướng nên được truyền dạy Dương Gia Thương Pháp, nhưng do thất lạc vợ con và sau khi gặp lại được vợ, ông và vợ đã tự sát nên về sau Khưu Xử Cơ đã dạy cho Dương Khang môn võ này.

Một số chiêu thức như: Hành bộ trừng hổ, Triều thiên nhất trụ hương, Cô nhạn xuất quần,...

Đả Cẩu Bổng PhápSửa đổi

Đả Cẩu Bổng Pháp là một trong những tuyệt chiêu trấn phái của Cái Bang. Song hành cùng đó là "Hàng Long Thập Bát Chưởng". Đả cẩu bổng pháp là bộ bổng pháp (côn, gậy) chỉ có bang chủ đời trước đích thân truyền thụ cho bang chủ đời sau, là một loại côn pháp chí cao, bao đời Bang chủ Cái Bang nhờ nó mà nổi danh giang hồ. Đến đời Hồng Thất Công, bang chủ thứ 18 của Cái Bang, bộ bổng pháp này mới thực sự uy trấn, và đến đời Hoàng Dung - con gái của Đông Tà Hoàng Dược Sư thì được biết đến rộng rãi. Tuy nói Đả cẩu bổng pháp không được truyền cho người khác trừ các bang chủ nhưng Hồng Thất Công từng dạy nó cho Dương Quá. Những cao thủ về bộ côn pháp này có thể kể đến như: Hồng Thất Công, Hoàng Dung, Tống Nguyên Ân (trưởng lão đời thứ 12 của Cái Bang)... Đả Cẩu Bổng Pháp có tổng cộng 36 chiêu, mỗi chiêu có nhiều thức biến hóa khác nhau tạo thành vô số chiêu thức tinh diệu. Đả Cẩu Bổng Pháp được thi triển theo đường lối "Tứ lạng bạt thiên cân" (Bốn lạng bạt ngàn cân), võ công được áp dụng theo 8 chữ khẩu huyết (bát tự huyết): Buộc, Đập, Trói, Đâm, Khều, Dẫn, Khóa, Xoay.

Nhà văn Kim Dung có nêu một số chiêu thức của Đả Cẩu Bổng Pháp:

  • Ác Cẩu Lan Lộ
  • Áp Kiên Cẩu Bối (khẩu quyết chữ Khóa)
  • Bát Cẩu Triều Thiên (chữ Khóa)
  • Bát Thảo Tầm Xà (chữ Đâm)
  • Bổng Đả Ác Cẩu (chữ Đập)
  • Bổng Đả Song Khuyển (chữ Đập)
  • Lục Phản Cẩu Điện (chữ Đâm)
  • Ngao Khẩu Đoạt Trượng (Cướp gậy từ tay địch nhân)
  • Phản Lục Cẩu Điện
  • Phản Tiệt Cẩu Đồn
  • Tà Đả Cẩu Bối
  • Thiên Hạ Vô Cẩu (chữ Xoay)

Đại Lực Kim Cang ChỉSửa đổi

Đại Lực Kim Cang Chỉ là một bộ chỉ pháp của phái Thiếu Lâm. Cần luyện tập khắc nghiệt để các đầu ngón tay như sắt, có thể nặn sắt phá đá, chỉ vào người có thể làm rách thịt gãy xương, chỉ lực rất lớn. Khác với các bộ chỉ khác chỉ dùng một đến hai ngón tay để chỉ, Đại Lực Kim Cang Chỉ còn mạnh cả 10 đầu ngón tay.

Đại Lực Ưng Trảo CôngSửa đổi

Vinh Thái, Bang chủ Long Du Bang, đã xưng hùng xưng bá ở vùng Triết Nam (miền nam tỉnh Triết Giang), nhờ môn Đại Lực Ưng Trảo Công.

Đặc điểm của loại quyền này là tư thế hùng dũng, tay mắt sắc bén, thân bộ linh hoạt, phát lực cương bạo. Có quyền ca rằng: Tay như vuốt ưng trên, dưới lật, cánh tay cánh chim ưng trái, phải vươn. Mạnh như ưng vàng vồ gà nhép, chậm như ưng xanh liệng chín tầng (trời). Nhanh như chim ưng đuổi ngỗng bay, khôn như ưng nấp trong núi...".

Phép luyện chú trọng hụp, né, đa biến nhanh, chậm xen nhau, mắt đưa tay đến, ý đến lực đến.

Phép đánh thì dọa trên hạ dưới, trong móc ngoài hờ, dứt gân bẻ xương, kết hợp vồ, chụp, bẻ với đánh.

Ưng Trảo Công không dũng mãnh nhưng ra đòn hiểm ác. Thế quyền linh hoạt biến ảo mà bên trong có phần mạnh bạo. Cương nhu tương tế, mềm cứng có đủ cả trong các chiêu thức quyền thuật. Di chuyển nhanh nhẹn mà vững vàng, đòn chân và đòn tay kết hợp chặt chẽ và luồn sâu vào đối phương là đặc điểm của loại quyền pháp này.

Thủ pháp thì có vồ, đánh, tóm, rứt, lật giã, khóa, dựa, gạt, cắt ngăn, bọc, chú trọng vồ tóm là chính.

Về thoái pháp (cước pháp) có dậm, bật, khều, quấn, xuyên, liên hoàn thoái cùng lật, lăng, nhảy, vọt v.v...

Thân pháp có cúi, ngửa, vặn, xoay, vươn, co, né, sải v.v... chú trọng về thu hông bó kình lực kết hợp lưng và vai thi triển công lực đòn đánh.

Luyện đôi mắt (nhãn pháp) thì đảo, liếc, chú mục, đưa theo v.v...

Về kình lực thì chú trọng dòn (xuệ), mài dũa (tỏa), nâng, chặt (khẩn).

Công pháp chủ yếu luyện về Ưng Trảo Công (luyện móng vuốt chim Ưng) và Trang công (tấn pháp) theo hình thế chim Ưng.

Đại Thủ ẤnSửa đổi

Theo truyện Anh hùng xạ điêu, Đại Thủ Ấn là võ công của Linh Trí Thượng Nhân, một nhân vật nổi tiếng trong phái Mật Tông ở Tây Tạng.

Đại Từ Đại Bi Thiên Diệp ThủSửa đổi

Xuất hiện trong truyện Lộc Đỉnh ký, Đại Từ Đại Bi Thiên Diệp Thủ là võ công Thiếu Lâm.

Môn võ công này lấy ý từ "Thiên Thủ Quan Âm", hễ động thủ là kiềm chế đối phương nhưng không giết người. Môn võ học này rất khó học, hết thảy có cả ngàn chiêu. Hải Đại Phú chỉ truyền chiêu thức cho Vi Tiểu Bảo (thực ra là lão chỉ truyền thụ cho có), nhưng cũng phải mấy tháng sau Vi Tiểu Bảo mới học hết. Võ công này biến hóa rất tinh vi, nhiều hư chiêu mà lại ít thực chiêu, là chưởng pháp vào bậc thượng thừa của Phật môn.

Một số chiêu thức:

Nam Hải Lễ Phật

Như Ngưu Phụ Trọng

Kim Ngọc Ngõa Lịch

Hoàn Tố Tệ Bạch

Nhân Mệnh Hô Hấp

Kinh Lý Quan Ảnh

Thủy Trung Tróc Nguyệt

Phù Vân Khứ Lại

Thủy Bào Xuất Mộc

Mộng Lý Minh Minh

Giác Hậu Không Không

Đạn Chỉ Thần ThôngSửa đổi

Xuất hiện trong truyện Anh hùng xạ điêu, Thần điêu hiệp lữ, Hiệp khách hànhỶ Thiên Đồ Long ký, Đạn Chỉ Thần Thông khi thi triển sử dụng nội lực tích tụ vào lòng bàn tay hoặc ngón tay, sau đó dùng ám khí hoặc những viên đá nhỏ mà bắn ra, khi bắn ra chúng mang theo nội lực, thủ pháp rất nhanh, uy lực rất ghê gớm, sức sát thương cao. Đây là loại chỉ pháp vô song, sánh ngang cùng Nhất dương chỉ. Được sử dụng bởi Hoàng Dược Sư, Dương Tiêu, Tạ Yên Khách.

Đao PhápSửa đổi

Hồ Gia Đao PhápSửa đổi

Theo truyện Tuyết Sơn Phi Hồ, Hồ Gia Đao Pháp là đao pháp gia truyền của dòng họ Hồ gia, chiêu thức biến hoá, không phải tập trung dùng lực chống lực, xuất chiêu mang cảm giác chậm rãi nhưng ẩn chứa đạo lý âm dương, có âm có dương, có cương có nhu, mỗi đao đều tiềm tàng sức mạnh mãnh liệt, truyền nhân xuất sắc nhất là Hồ Nhất Đao.

Kim Ô Đao PhápSửa đổi

Kim Ô Đao Pháp xuất hiện trong truyện Hiệp khách hành. Là đao pháp khai môn của phái "Kim Ô", do vợ của Bạch Tự Tại (chưởng môn Tuyết Sơn phái) là "Sử Bà Bà" Sử Tiểu Thúy sáng tạo ra, nhằm khắc chế cũng như bổ trợ cho Tuyết Sơn Kiếm Pháp. Đao pháp này gồm có bảy mươi ba chiêu, toàn những chiêu đầy nộ khí, sát thủ, dễ gây tử thương và tổn thương cho đối phương, sẽ chuốc lấy oán thù, cừu hận đe dọa an ninh cho bản thân, gia đình và bang phái.

Kim Ô Đao Pháp có sức mạnh khắc chế và vượt hẳn kiếm pháp Tuyết Sơn, mỗi chiêu của Kim Ô Đao Pháp đều là khắc tinh của từng chiêu Tuyết Sơn Kiếm Pháp, nhưng khi đao pháp này và kiếm pháp Tuyết Sơn hợp thủ thì lại tạo thành một sức mạnh kinh người. Người dùng Kim Ô Đao Pháp nội lực phải thâm hậu, nếu không thì những chỗ biến ảo kì diệu chẳng thể phát huy được.

La Hán Đao PhápSửa đổi

Theo truyện Anh hùng xạ điêu, Khô Mộc Thiền Sư truyền thụ La Hán Đao Pháp cho Lục Quán Anh. Lục Quán Anh là con Lục Thừa Phong ở Quy Vân Trang cạnh Thái Hồ. Lục Thừa Phong là đệ tử của Đông Tà Hoàng Dược Sư, đảo chủ đảo Đào Hoa.

Nhiên Mộc Đao PhápSửa đổi

Nhiên Mộc Đao Pháp là một môn võ công trong truyện Thiên Long Bát Bộ, là một trong 72 tuyệt kỹ Thiếu Lâm. Sau khi luyện thành có thể trên một nhánh cây khô bổ nhanh chín chín tám mươi mốt đao, lưỡi đao không tổn hại nhánh cây chút nào nhưng trên đao phát ra nhiệt lực có thể thiêu cháy nhánh cây nên mới có tên là Nhiên Mộc.

(Phản) Lưỡng Nghi Đao PhápSửa đổi

Theo truyện Ỷ Thiên Đồ Long ký, Phản Lưỡng Nghi Đao Pháp là võ công đao pháp phái Hoa Sơn, gồm những chiêu:

  • Hỗn Độn Nhất Phá
  • Thái Ất Sinh Manh
  • Lưỡng Nghi Hợp Đức
  • Nhật Nguyệt Hối Minh
  • Kim Châm Độ Kiếp
  • Vạn Kiếp Bất Phục
  • ...

Nếu kết hợp với Chính Lưỡng Nghi Kiếm Pháp của phái Côn Lôn thì sẽ phát huy uy lực cực độ. Trong truyện Ỷ Thiên Đồ Long ký, Hoa Sơn lưỡng lão đã dùng môn đao pháp này phối hợp với Chính Lưỡng Nghi Kiếm Pháp của vợ chồng chưởng môn phái Côn Lôn để vây công Trương Vô Kỵ, dù Vô Kỵ thần công cái thế nhưng vẫn không phá giải được, mãi đến khi Chu Chỉ Nhược nhắc nhở thì chàng mới có thể dựa theo Dịch Kinh để phá giải.

Chính Lưỡng Nghi Kiếm Pháp của phái Côn Lôn đi từ Chấn vị đến Càn vị là thuận, còn Phản Lưỡng Nghi Đao Pháp của phái Hoa Sơn, đi từ Tốn vị đến Khôn vị là nghịch.

Đăng Bình Độ ThuỷSửa đổi

Đăng Bình Độ Thủy là một môn khinh công xảo diệu, chỉ cần đạp bèo hoặc lá trên nước thì có thể di chuyển như chạy trên mặt đất.

Đẩu Chuyển Tinh DiSửa đổi

Xuất hiện trong truyện Thiên Long Bát Bộ, Đẩu Chuyển Tinh Di là tuyệt kỹ tổ truyền của nhà Mộ Dung Cô Tô. Bộ võ học này nổi tiếng với việc vận chuyển nội lực, mượn lực đánh lực. Giống như câu nói của Mộ Dung Phục: "Lấy đạo người trả cho người". Bất luận đối phương thi ra loại nào công phu, binh khí, ám khí nào, đều có thể đem chi dời đi lực đạo, phản kích đến đối phương tự thân. Người ra tay võ công càng cao, chết kiểu này càng là xảo diệu, chính thức công phu ở chỗ, đem đối thủ binh khí quyền cước chuyển đổi phương hướng, làm đối thủ tự làm tự chịu.

Cũng là lấy đòn tấn công của địch trả lại cho địch nhưng nếu Càn Khôn Đại Na Di là tâm pháp, cần đến nội lực lớn thì Đẩu Chuyển Tinh Di lại là nã pháp, yêu cầu người sử dụng phải có con mắt tinh tường và tốc độ phản ứng cực kỳ nhanh chóng.

Người sáng tạo ra và sử dụng thành thạo tuyệt kĩ này là Mộ Dung Long Thành. Mộ Dung Phục tuy học luyện nhưng tu luyện chưa đủ nên chưa thể khai thác hết sức mạnh của tuyệt kỹ này. Nếu như chăm chỉ rèn luyện đến tầng cuối như Mộ Dung Long Thành, có lẽ trên đời rất hiếm người đủ sức địch lại.

Giải Huyệt Đại PhápSửa đổi

Xuất hiện trong truyện Thần điêu hiệp lữ, Giải Huyệt Đại Pháp là một trong những môn võ công ghi chép trong Cửu Âm Chân Kinh.

Đây là môn võ công có thể giúp người luyện giải huyệt đạo từ các phương pháp điểm huyệt trong thiên hạ, đồng thời tự giải huyệt cho bản thân. Trong truyện Thần Điêu Hiệp Lữ, khi bị Lý Mạc Sầu điểm huyệt, Tiểu Long Nữ đã dùng phương pháp này để tự giải huyệt cho bản thân.

Hạc Hình QuyềnSửa đổi

Lã Nhị tiên sinh chỉ cậy có thế võ Hạc Hình quyền mà khắp Giang Nam và Giang Bắc không ai địch nổi.

Hai bàn tay tượng trưng đôi cánh hạc dùng để bổ và đập đối phương. Còn hai chân một thẳng một co lại, bỗng dài bỗng ngắn, tựa như bạch hạc lúc tranh đấu đá và đạp vậy.

Hạc Lệ Cửu Tiên Thần CôngSửa đổi

Theo truyện Tiếu ngạo giang hồ, Hạc Lệ Cửu Tiên Thần Công là một công phu uy lực phi thường của phái Thanh Thành.

Hàn Băng ChưởngSửa đổi

Âm Hàn Thần ChưởngSửa đổi

Xuất hiện trong tiểu thuyết Thần Điêu Đại Hiệp, là chưởng pháp do Anh Cô sử dụng, trong chưởng có độc. Lúc đánh nhau, Anh Cô đã sử dụng Âm Hàn Thần Chưởng đánh trúng Dương Quá nhưng chàng không hề hấn gì.

Hàn Băng Chân KhíSửa đổi

Xuất hiện trong truyện Tiếu ngạo giang hồ, Hàn Băng Chân Khí là nội công của Hàn Băng Thần Chưởng do Tả Lãnh Thiền chưởng môn phái Tung Sơn sáng tạo. Tả Lãnh Thiền khổ luyện trong 10 năm, đây là nội công chí âm chí hàn, cực lãnh đến thấu xương. Năm xưa, Tả Lãnh Thiền bại trong tay ma giáo giáo chủ Nhậm Ngã Hành, trong lòng không phục, vì lẽ đó Tả Lãnh Thiền dành nhiều năm, rốt cục sáng chế Hàn Băng Chân Khí khắc chế Hấp Tinh Đại Pháp nội công.

Công pháp này cần tu luyện ở núi tuyết và hấp thu linh khí cực âm cực hàn của trời đất vào đan điền, triệt thông kinh lạc, sau vài năm chỉ đạt được thành tựu nhỏ. Sau khi tu luyện đại thành, thân thể nếu đang ngưng băng, hàn khí tung tóe, kích phát khi chạm vào địch, làm mạch của địch bất động, có thể đục khoét cơ thể, phong ấn bát mạch, trì độn thân hình. Thực lực vô cùng đáng sợ!

Hàn Băng Miên ChưởngSửa đổi

Theo truyện Ỷ Thiên Đồ Long ký, công phu Hàn băng Miên chưởng là của Thanh Dực Bức Vương Vi Nhất Tiếu. Khi bị trúng chưởng này nội kình toàn thân sẽ mất hết. Vi Nhất Tiếu vì tu luyện môn chưởng pháp này mà bị hàn khí nhập thể, khi vận công phải hút máu người để điều tức.

Hàn Băng Thần ChưởngSửa đổi

Hàn Băng Thần Chưởng là một môn võ công do "Tả Lãnh Thiền" chưởng môn phái Tung Sơn sáng tạo, xuất hiện trong truyện Tiếu ngạo giang hồ.

Môn võ công này dựa vào phối hợp với Hàn Băng Chân Khí mà sử dụng, có tác dụng dùng hàn băng kình lực đánh vào thân thể và kinh mạch đối thủ làm đóng băng kinh mạch đối thủ. Tả Lãnh Thiền sáng tạo môn võ công này là vì khắc chế Hấp Tinh Đại Pháp của Nhậm Ngã Hành.

Hàn Ý Miên ChưởngSửa đổi

Xuất hiện trong truyện Hiệp khách hành, Hàn Ý Miên Chưởng là công phu của Đinh Bất Tứ và Mai Phương Cô (con gái Đinh Bất Tứ), đặc tính chí âm chí hàn, vận dụng nội công âm hàn trong cơ thể ra bàn tay để sát thương. Mai Phương Cô đã truyền lại võ công này cho Thạch Phá Thiên lúc chàng còn nhỏ nhưng chàng lại không hề hay biết.

Huyền Minh Thần ChưởngSửa đổi

Huyền Minh thần chưởng xuất hiện trong tiểu thuyết Ỷ thiên Đồ long ký. Công phu này được Bách Tổn đạo nhân sử dụng, được cho là đã thất truyền, nhưng lại xuất hiện hai người có khả năng sử dụng là Huyền Minh nhị lão.

Huyền Minh thần chưởng được xem là môn võ công âm hàn độc địa nhất trong tiểu thuyết Kim Dung. Người trúng chưởng bị dấu vết của chưởng lực màu đen sẫm in trên người, lạnh buốt toàn thân, độc tính dần lan vào ngũ tạng, không thuốc gì chữa được.

Muốn chữa Huyền Minh thần chưởng chỉ có một cách duy nhất là luyện toàn bộ nội công trong Cửu Dương chân kinh.

Hàng Long Thập Bát Chưởng (Giáng Long Thập Bát Chưởng)Sửa đổi

Hàng Long Thập Bát Chưởng (Eighteen Subduing Dragon Palms) là tên một loại tuyệt kỹ võ công xuất hiện trong truyện kiếm hiệp của Kim Dung, được mô tả trong loạt truyện kiếm hiệp gồm Thiên Long bát bộXạ điêu tam bộ khúc (Anh hùng xạ điêu, Thần điêu hiệp lữỶ thiên Đồ long ký). Hàng Long Thập Bát Chưởng là một trong 2 tuyệt kĩ của Cái Bang bên cạnh "Đả Cẩu Bổng Pháp".

Đả Cẩu Bổng Pháp là bộ bổng pháp (côn, gậy) chỉ có bang chủ đời trước đích thân truyền thụ cho bang chủ đời sau, còn Hàng Long Thập Bát Chưởng thì chỉ có những đệ tử Cái Bang từ hàng 9 túi trở lên lập được đại công mới được truyền dạy và mỗi người chỉ được dạy một vài chiêu chứ không được học hết cả pho chưởng pháp, ngoại trừ các đồ đệ truyền nhân của bang chủ.

Theo truyện Anh hùng xạ điêu, Hàng Long Thập Bát Chưởng đã vang danh thiên hạ từ lâu, song đến đời Hồng Thất Công, bang chủ thứ 18 của Cái Bang và đến đời Quách Tĩnh (đồ đệ của Hồng Thất Công) thì mới được biết đến rộng rãi nhất.

Theo truyện Thiên Long Bát Bộ, trước thời Hồng Thất Công có một nhân vật làm cho Hàng Long Thập Bát Chưởng đi vào huyền thoại là Tiêu Phong, một nhân tài kiệt xuất của Cái Bang. Với tấm lòng hào hiệp, cương trực chính nghĩa, Tiêu Phong đã đưa Hàng Long Thập Bát Chưởng Trở thành một môn chưởng pháp danh bất hư truyền.

Sau này đến truyện Ỷ Thiên Đồ Long Ký thì có viết như sau: "Cái Bang thần công Hàng Long Thập Bát Chưởng, trong thời Bắc Tống vốn là 28 chưởng, lúc ấy bang chủ Tiêu Phong võ công cái thế, lại vì thân phận người Khiết Đan nên bị trục xuất khỏi bang, ông đơn giản hóa, đem 28 chưởng giảm mười chưởng, trở thành Hàng Long Thập Bát Chưởng, do nghĩa đệ Hư Trúc Tử Linh Thứu Cung thay mặt truyền lại, cứ thế nhiều thế hệ truyền lại. Đến những năm cuối triều đại Nam Tống, tuy bang chủ kế vị bang Gia Luật Tề được nhạc phụ Quách Tĩnh truyền thụ toàn bộ chưởng pháp, nhưng sau này bang chủ tiếp nhậm Cái Bang, do căn cơ không tốt, nhiều nhất cũng chỉ học được đến 14 chưởng. Đến đời bang chủ Cái Bang Sử Hỏa Long thì chỉ còn học được 12 chưởng". Sau khi Sử Hỏa Long chết, cùng với sự suy vi của Cái Bang, bộ chưởng pháp này coi như bị thất truyền.

Theo Kim Dung, Hàng Long Thập Bát Chưởng là võ công chí cương của thiên hạ, bao đời Bang chủ Cái Bang nhờ nó mà thành danh giang hồ. Võ công này cương mãnh cho nên chỉ phù hợp với nam giới mà phải là người kiêu dũng, chính trực như chính bản thân môn võ công này, có như thế chưởng pháp mới phát huy sức mạnh. Uy lực tùy theo người sử dụng, khi thi triển nó lấy đi 8 phần nội lực trong cơ thể cho nên nội lực càng cao thì chưởng lực càng mạnh. Hàng Long Thập Bát Chưởng là võ công rất cương mãnh, nhưng vì cương nên không thể cầm cự lâu được, vì vậy nếu đánh nhiều chưởng liên tục, những chưởng sau sẽ giảm đi uy lực. Tên gọi các chiêu thức của chưởng pháp này được lấy trong Kinh dịch gồm:

  1. Phi long tại thiên (飛龍在天 - Fēi long zài tién) hào Cửu ngũ của quẻ Kiền, có nghĩa: "rồng bay lên trời". Khí dương đã phát huy rực rỡ, hoặc con người đã khai mở được bản tâm để phát huy diệu dụng.
  2. Kiến Long Tại Điền (見龍在田 - Jiàn long zài tiàn) lời hào Cửu nhị của quẻ Kiền, có nghĩa là: "con rồng đã hiện ra trên mặt ruộng". Lúc này khí dương bắt đầu được khai mở.
  3. Hồng Tiệm Vu Lục (鴻漸於陸 - Hóng jiàn wū lù) lời hào Cửu tam quẻ Tiệm, có nghĩa "con chim hồng dần bay đến đậu trên gò đất". Quẻ Tiện còn có tên là Phong sơn tiệm, do được tạo thành bởi quẻ Cấn (là núi) ở dưới và quẻ Tốn (là gió) ở trên. Ý nghĩa tượng trưng của Hồng tiệm vu lục là hào Cửu tam có vị trí trên cùng của quẻ Cấn, là hào dương xử ở ngôi dương, cương kiện năng tiến, do đó mới có tượng "con chim hồng dần bay lên đậu trên gò đất".
  4. Tiềm Long Vật Dụng (潛龍勿用 - Qián long wù yòng) lời hào Sơ cửu của quẻ Kiền, có nghĩa là: "như con rồng còn đang ẩn náu; không nên dùng". Khi khí dương còn đang tiềm tàng, hoặc bản thể của tâm chưa được phát lột thì không nên hành động.
  5. Kháng Long Hữu Hối (亢龍有悔 - Kàng long yǒu huǐ) lời hào Thượng cửu của quẻ Kiền, có nghĩa: "Rồng bay quá cao ắt sẽ hối hận". Hào dương ở ngôi cao nhất của quẻ thuần dương, như để tâm chìm đắm vào chỗ lưu đãng, hư huyền xa rời mất cõi nhân sinh, ắt sẽ hối hận. Dùng Kháng long hữu hối phải có phát có thu, lực đánh ra 10 phần, lưu lại 20 phần.
  6. Lợi Thiệp Đại Xuyên (利涉大川 - Lì shè dà chuān) có nghĩa: "có lợi trong việc lội qua sông lớn", đây là lời thường dùng trong các quái từ, hào từ của Kinh Dịch. "Đại xuyên" là sông lớn, thường được dùng để ví với sự gian nan hiểm trở.
  7. Đột Như Kỳ Lai (突如其來 - Tū rú qí lái) lời hào Cửu tứ quẻ Ly, có nghĩa: "thình lình ập tới". Trong hào Cửu tam thì sự đe dọa đã bắt đầu hiện ra dưới hình thức ngọn cầu vồng lấn át ánh nắng chiều, và đến hào Cửu tứ thì đột ngột chuyển thành hiện thực.
  8. Chấn Kinh Bách Lý (震驚百里 - Zhèn jīng bǎi lǐ) lời quái từ và lời thoán truyện của quẻ Chấn, có nghĩa: "tiếng sấm động vang xa hàng trăm dặm".
  9. Hoặc Dược Vu Uyên (或躍於淵 - Huò yuè wū yuān) hào Cửu tứ của quẻ Kiền, có nghĩa: "hoặc nhảy vào vực thẳm". Đây là bước rẽ quyết định, con người từ bỏ thế giới rạch ròi của lý trí để đi vào thế giới huyền vi của tâm thức.
  10. Song Long Thủ Thủy (雙龍取水 - Shuāng long qǔ shuǐ) Chúng tôi chưa tra cứu được xuất xứ, có lẽ tác giả chỉ thuận tay dùng các thành ngữ quen thuộc trong kho tàng văn học Trung Quốc mà đặt tên, theo kiểu các chiêu "Giao long hỷ thủy", "Lưỡng long tranh châu"... thường gặp các tiểu thuyết võ hiệp chứ không phải là câu được chọn ra từ Kinh Dịch.
  11. Ngư Dược Vu Uyên (魚躍於淵 - Yú yuè wū yuān)
  12. Thời Thừa Lục Long (時乘六龍 - Shí shèng liù long)
  13. Mật Vân Bất Vũ (密雲不雨 - Mì yún bù yǔ) Thanh phong từ lai, bái nhiên hữu vũ.
  14. Tổn Tắc Hữu Phu (損則有孚 - Sǔn zé yǒu fú)
  15. Long Chiến Vu Dã (龍戰於野 - Long zhàn wū yě) lời hào Thượng lục của quẻ Khôn có nghĩa: "rồng đánh nhau nơi hoang dã". Âm đã đến lúc cực thịnh nên tranh nhau với Dương.
  16. Lữ sương băng chí (履霜冰絰 - Lǚ shuāng bīng dié) Sơn vũ dục lai, lữ sương băng chí, tên đầy đủ là "lữ sương, kiên băng chí", lời hào Sơ lục quẻ Khôn, có nghĩa: "dẫm trên sương, thì biết băng dày sắp đang tới". Đây là tượng của khí âm mới sinh.
  17. Đê Dương Xúc Phiên (羝羊觸藩 - Dī yáng chù fān)
  18. Thần Long Bãi Vĩ (神龍擺尾 - Shèn long bǎi wěi) Nguyên trong Kinh Dịch không có câu này, mà chỉ có câu "Lý hổ vĩ, điệt nhân, hung" của hào Lục tam quẻ Lý, có nghĩa "đi sau cọp, đạp đuôi cọp, bị nó quay lại cắn, nguy hiểm". Kim Dung giải thích tên chiêu này được lấy từ câu trên, để tả khí thế mạnh mẽ và hung dữ của chiêu thức. Người đời sau thấy chữ "hổ" không hợp trong môn chưởng pháp "Giáng Long" nên đổi thành "Thần Long Bãi Vĩ".

Hiệp Khách Thần Công (Thái Huyền Kinh)Sửa đổi

Xuất hiện trong truyện Hiệp khách hành, Hiệp Khách Thần Công là một môn Thần Công do một vị cổ nhân sáng tạo ra và khắc trên vách ở 24 gian thạch thất trên Hiệp Khách Đảo. Vị cổ nhân đó đã chiếu theo bài thơ của một vị thi nhân thời Đường là Lý Bạch, bài thơ như sau:

Triệu khách mạn hồ anh,

Ngô câu sương tuyết minh

Ngân yên chiếu bạch mã

Táp nạp như lưu tinh

Thập bộ sát nhất nhân

Thiên lý bất lưu hành

Sự liễu phất y khứ

Thâm tàng thân dữ danh

Nhàn quá Tín lăng ẩm

Thất kiếm tất tiền hoành

Tương chích đạm Chu Hợi

Trì Trường khuyến Hầu Doanh

Tam bôi thổ nhiên nặc

Ngũ nhạc đảo vi khinh

Nhãn hoa nhĩ nhiệt hậu

Ý khí tố nghê sinh

Cứu Triệu huy kim chùy

Hàm Đan tiên chấn kinh

Thiên thu nhị tráng sĩ

Huyên hách Đại Lương thành

Túng tử hiệp cốt hương

Bất tàm thế thượng anh

Thùy năng thư các hạ

Bạch thủ Thái huyền kinh.

Vị cao nhân đã gói gọn môn thần công của mình chỉ trong 24 câu thơ viết trong 24 gian thạch thất, kèm theo những câu thơ trên những gian thạch thất là những đồ hình, văn tự chú thích mà vị cổ nhân đó đã khắc nên. Trong 24 gian thạch thất này thì mỗi gian lại là một môn võ công khác nhau. Có gian thì dạy Kiếm Pháp – Có gian dạy Nội Công – Có gian dạy Khinh Công, chưởng pháp …, ẩn chứa võ học tinh yếu cao thâm đến đáng sợ. Gian thạch thất cuối cùng lại chứa một tí cổ thơ, nhưng thật ra là huyệt vị đồ để tu luyện. Chú giải bên cạnh cổ thơ chính là vật có hại vô lợi, dùng để đánh lạc hướng võ giả. Thạch Phá Thiên do được thiếp mời lên Đảo Hiệp Khách và do không biết chữ nên đã chiếu theo những khoa cổ văn mà đã luyện được thành Thiên Thái Huyền Kinh, trở thành người có nội lực và võ công đạt đến trình độ "Kinh thiên diệt thế", xứng với danh xưng "Thần thoại võ lâm". Hai vị đảo chủ Đảo Hiệp Khách là Long, Mộc với võ công và sức mạnh nội lực được coi là vô song thiên hạ bấy giờ khi liên thủ cũng không phải là đối thủ của Thạch Phá Thiên.

Hỏa Diễm ĐaoSửa đổi

Hỏa Diễm đao là độc môn tuyệt học võ công của Cưu Ma Trí, có thể đem nội lực ngưng tụ trên bàn tay sau đó đánh ra ngoài dùng kình lực đả thương đối thủ.

Hoá Cốt Miên ChưởngSửa đổi

Xuất hiện trong truyện Lộc đỉnh ký, Hóa Cốt Miên Chưởng là một loại võ công âm độc khó luyện. Điểm đặc biệt là ngoài nhu trong cương, chú trọng vào việc bộc phát kình lực, thủ pháp dựa vào chưởng là trọng tâm, vận chuyển tinh giản nhưng liên miên bất tuyệt. Bên trong kình lực ẩn chứa cương kình, bên ngoài lại biểu hiện là nhu kình. Một khi bị Hóa Cốt Miên Chưởng đánh trúng thì kẻ trúng chưởng tất phải chết, đồng thời xương cốt toàn thân sẽ bị gãy rụn từng đoạn, mục nát, tạng phủ tan nát, thê thảm vô cùng, không cách nào cứu chữa được. Nạn nhân trúng chưởng có chết ngay hay không tùy thuộc vào nội công, kình lực và ngoại lực phát ra của người xuất chưởng.

Trong truyện Lộc Đỉnh ký, Mao Đông Châu từ Xà đảo (Thần Long Đảo) lẻn vào hoàng cung, trước sau dùng loại chưởng pháp này hại chết Hiếu Khang Trương hoàng hậu, Vinh Thân vương, Hiếu Hiến Đoan Kính hoàng hậu, Đổng Ngạc phi, Tĩnh phi.

Hồi Phong Phất Liễu QuyềnSửa đổi

Hồi Phong Phất Liễu Quyền xuất hiện trong tiểu thuyết Ỷ thiên Đồ long ký, do Cái Bang Trịnh trưởng lão sử dụng.

Hồi Phong ChưởngSửa đổi

Theo truyện Lộc Đỉnh ký, Hồi Phong Chưởng là một chưởng pháp của phái Võ Đang.

Hổ Trảo ThủSửa đổi

Theo tiểu thuyết Ỷ Thiên Đồ Long ký, Hổ Trảo Thủ là võ công của đại ca Trần Đăng Chiến

Hỗn Nguyên CôngSửa đổi

Theo tiểu thuyết Bích huyết kiếm, Hỗn Nguyên Công là nội công của Hoa Sơn phái, dùng nội lực Hỗn Nguyên Công có thể sử dụng Hỗn Nguyên chưởng và điểm huyệt, khi điểm huyệt bằng nội lực Hỗn Nguyên Công thì chỉ có thể sử dụng Hỗn Nguyên Công để giải huyệt. Thường nội công tu luyện từ trong ra ngoài, riêng Hỗn Nguyên Công tu luyện từ ngoài vào trong, tu tập dựa vào chưởng pháp. Như vậy phải tốn rất nhiều thời gian, hiệu quả hơi chậm, nhưng trong lúc tu tập thì hoàn toàn không gặp nguy hiểm tẩu hỏa nhập ma, khi luyện thành thì oai lực vô cùng lớn. Vì nội ngoại cùng luyện một lần, nên khi đối địch thì mỗi chiêu mỗi thức đều tự nhiên có nội lực kèm theo, địch thủ chỉ sơ ý một chút là nếm mùi thất bại. Tới khi Hỗn Nguyên Công luyện thành lại càng lợi hại, có thể nói không gì cứng rắn mà không phá nổi.

Trong truyện Tiếu ngạo giang hồ, Hỗn Nguyên Công là nội công tâm pháp mà Nhạc Bất Quần dạy cho Lệnh Hồ Xung. Hoa Sơn phái có câu: "Hoa Sơn Cửu Công, Tử Hà Đệ Nhất", trong chín loại công phu thượng thừa của Hoa Sơn thì Tử Hà Thần Công là đứng thứ nhất, Hỗn Nguyên Công mặc dù không đứng thứ nhất nhưng cũng xếp vào hàng thứ hai thứ ba.

Kim Dung từng miêu tả: "Trong luồng nội lực nhu hòa ngấm ngầm có luồng kình lực mãnh liệt trút vào không ngớt."

Huyết Đao KinhSửa đổi

Theo truyện Liên thành quyết, Huyết Đao Kinh là nội công tâm pháp của Huyết Đao Môn. Thường do Huyết Đao Tăng (Huyết Đao Lão Tổ) sử dụng.

Huyết Đao Kinh tu luyện ra nội lực sẽ có nội tức hung mãnh ác liệt, sắc bén như đao. Vận dụng đao pháp sát ý cực thịnh, hung ác không chịu nổi, chữ "huyết đao" cũng là tinh túy của công phu này, nếu lấy mạng người đến luyện đao, là có thể tiến bộ thần tốc.

Khinh Nhạn CôngSửa đổi

Kim Nhạn công là khinh công độc môn của Toàn Chân giáo. Mã Ngọc lúc đầu dạy cho Quách Tĩnh bằng cách buộc Quách Tĩnh vào sợi dây, truyền thụ khẩu quyết và yêu cầu Quách Tĩnh leo lên vách đá. Khi Quách Tĩnh thành thạo rồi thì tự mình dùng Kim Nhạn công để leo lên vách đá mà không cần dùng dây buộc. Lúc giao đấu với Kim Luân Pháp Vương trên tường thành Tương Dương, Quách Tĩnh lúc rơi xuống đã dùng Kim Nhạn Công đạp lên tường thành mà chạy thẳng lên nhảy vào trong thành.

Khổng Hạc CôngSửa đổi

Theo truyện Hiệp khách hành, Khổng Hạc Công là công phu của Tạ Yên Khách, khi xưa lúc giao đấu ông từng dùng công phu này để thắng Đại Bi Lão Nhân. Khổng Hạc Công cũng tương tự như Cầm Long Công, có thể chộp được binh khí từ xa khoảng 10 thước. Luyện đến đỉnh điểm thì chộp được cả người.

Không Minh QuyềnSửa đổi

Theo truyện Anh hùng xạ điêu, Không Minh Quyền là quyền thuật chí nhu trong thiên hạ. Chu Bá Thông ở trong động trên đảo Ðào Hoa mười lăm năm, sáng chế Không Minh Quyền theo Đạo Đức Kinh. Trong Đạo đức kinh có câu:

- Binh mạnh ắt sẽ bị diệt, gỗ cứng ắt sẽ bị gãy. Cứng mạnh ở dưới, mềm yếu ở trên.

Lại nói:

- Trong thiên hạ không gì mềm yếu bằng nước, nhưng vật gì cứng mạnh cũng không thắng được, không gì chuyển dịch được. Yếu thắng mạnh, nhu thắng cương, thiên hạ ai cũng biết nhưng không ai làm được.

Lão Ngoan Đồng Chu Bá Thông đem bảy mươi hai lộ Không Minh Quyền giảng giải cho Quách Tĩnh:

- Lộ thứ nhất Không Uyển Thịnh Phạn

- Lộ thứ hai Không Ốc Trú Nhân

-...

Mười sáu chữ khẩu quyết là:

- Không mông động tùng (Tùng là lúc ra quyền thì lực đạo phải trống rỗng, không tốn một chút sức lực nào, nếu tốn sức thì lại không được)

- Phong thông dung mộng (Mộng là quyền chiêu phải mờ mịt)

- Xung cùng trung lộng

- Đồng dung cung trùng (Trùng là thân hình phải mềm nhuyễn như con sâu)

Yếu quyết Không Minh Quyền vốn là:

- Nhờ rỗng mà sáng

- Cương thì không lâu

- Nhu thì khó giữ

Kiếm PhápSửa đổi

(Chính) Lưỡng Nghi Kiếm PhápSửa đổi

Theo truyện Ỷ Thiên Đồ Long ký, Chính Lưỡng Nghi kiếm pháp là võ công kiếm pháp cao thâm phái Côn Lôn. Nếu cùng Phản Lưỡng Nghi Đao Pháp liên thủ công địch thì có thể phát huy cực độ chiêu số. Chính Lưỡng Nghi Kiếm Pháp của phái Côn Lôn đi từ Chấn vị đến Càn vị là thuận, còn Phản Lưỡng Nghi Đao Pháp của phái Hoa Sơn, đi từ Tốn vị đến Khôn vị là nghịch.

Độc Cô Cửu KiếmSửa đổi

Độc Cô Cửu Kiếm (獨孤九劍) là một bí kíp kiếm thuật tối thượng xuất hiện trong bộ Tiếu ngạo giang hồ, bắt nguồn từ nhân vật không xuất hiện mang tên Độc Cô Cầu Bại và có hai nhân vật sử dụng thành thục là Phong Thanh DươngLệnh Hồ Xung. Độc cô cửu kiếm được coi là triết lý đặc sắc của Đạo gia đề cao việc sử dụng kiếm thuật một cách linh hoạt theo phương châm "Dùng vô chiêu thắng hữu chiêu".

Độc Cô Cửu Kiếm được tạo ra bởi Độc Cô Cầu Bại, nhân vật chưa bao giờ xuất hiện thật sự trong các tiểu thuyết của Kim Dung, mà chỉ xuất hiện qua các huyền thoại bởi lời kể của các nhân vật khác về một cao thủ có võ công đạt mức lư hỏa thuần thanh, đặc biệt là trình độ kiếm thuật "thiên hạ vô địch". Ông ta tung hoành giang hồ suốt một đời mà chưa từng bị thất bại, không tìm được đối thủ của mình. Ông ta cô độc cho đến chết mà chỉ mong được một lần bại trận bởi đối thủ nên có tên là Độc cô cầu bại. Tuy nhiên, đôi khi cũng có thể hiểu chính những người sử dụng Độc Cô Cửu Kiếm là những "Độc cô cầu bại". Nhân vật Độc cô Cầu bại xuất hiện qua lời kể của Phong Thanh Dương trong tiểu thuyết Tiếu ngạo giang hồ và trong tiểu thuyết Thần điêu hiệp lữ khi con thần điêu (người bạn còn sống sót của Độc cô Cầu bại) đưa Dương Quá đến mộ Độc cô cầu bại và qua đó học được triết lý kiếm thuật của Độc cô.

Trong tiểu thuyết Tiếu ngạo giang hồ, theo lời của Phong Thanh Dương thì "Độc cô cửu kiếm" có 9 nguyên lý chính:

  • Tổng quát thức: Là các quy luật chung, các quy tắc biến hóa trong kiếm thuật: di chuyển, quan sát, tấn công... Các biến hóa trong tổng quát thức dựa trên các quy luật biến hóa của bát quái trong Kinh Dịch với 360 cách biến hóa.
  • Phá kiếm thức: Là các quy tắc phá giải tất cả các loại kiếm pháp.
  • Phá đao thức: Các quy tắc phá tất cả các loại đao pháp, từ đơn đao, song đao, đại đao, liễu diệp đao, quỷ đầu đao, trảm mã đao...
  • Phá thương thức: Quy tắc tấn công các đối thủ sử dụng thương, kích, côn, bổng, trượng, gậy...
  • Phá tiên thức: Hóa giải cương tiên, cương thích, trủy thủ, thiết bài, thiết giản, điểm huyệt...
  • Phá sách thức: Phá trường sách, nhuyễn tiên, tam thiết côn, thiết liễn, lưu tinh trùy...
  • Phá chưởng thức: Hóa giải các loại võ công sử dụng trực tiếp chân, tay, công lực. Bao gồm các loại quyền, cước, đoản đả, cầm nã, trảo thủ, chỉ pháp, chưởng pháp... "Ðối phương dám để tay không địch với trường kiếm thì dĩ nhiên võ công họ đã cao thâm ghê gớm. Ðại phàm những tay cao thủ võ học, võ công đến mực thượng thặng thì trong tay có binh khí hay không cũng chẳng xa nhau là mấy."
  • Phá tiễn thức: Dùng để phá các loại mũi tên, ám khí... "Muốn luyện thức này thì trước hết phải học nghe tiếng gió để phân biệt là ám khí gì ở phương nào bắn tới. Chẳng những chỉ dùng trường kiếm để gạt mọi thứ ám khí của địch nhân bắn tới mà còn mượn sức của đối phương để phản kích lại, tức là dùng món ám khí của địch nhân bắn tới để bắn ngược lại địch nhân." Một minh họa điển hình của chiêu thức này là Lệnh Hồ Xung dù mất hết nội lực vẫn sử dụng một chiêu kiếm xuất thần đâm mù mắt 15 đại cao thủ vây quanh.
  • Phá khí thức: Dùng để hóa giải các đối thủ có nội công đã đến mức thượng thừa. Theo Phong Thanh Dương thì thức này rất trừu tượng và khó luyện, Lệnh Hồ Xung chưa sử dụng lần nào trong suốt bộ tiểu thuyết. Lúc dạy cho Lệnh Hồ Xung thì Phong Thanh Dương chỉ truyền thụ khẩu quyết, ông cũng nói rằng Lệnh Hồ Xung cần phải rèn luyện thức này thêm 20 năm nữa mới có thể sử dụng và tranh hùng với cao thủ trong thiên hạ.

Không ai rõ Phong Thanh Dương học Độc cô cửu kiếm qua người nào, chỉ biết ông ta là một truyền nhân của triết lý Độc Cô Cầu Bại với kiếm thuật Độc cô cửu kiếm thần kỳ tung hoành trên giang hồ khi trai trẻ. Đồng thời, Phong Thanh Dương là người phát triển lý luận của Độc cô cửu kiếm đến trình độ tối thượng: "Chiêu số là phần tĩnh, người phát chiêu mới là động. Chiêu số tĩnh phá giải kỳ tuyệt đến đâu mà khi gặp chiêu số động liền chịu bó tay, vì vậy người học võ luôn cần nghĩ đến chữ động.... Luyện võ và sử chiêu linh động mới chỉ là bước đầu, luyện đến trình độ ra tay không còn chiêu thức mới tiến vào trình độ tuyệt luân. Theo người thì những chiêu luyện tới chỗ tối cao là không tài nào phá giải được. Ý nghĩ đó chỉ đúng có một điểm là chiêu thức dù có cao đến đâu mà để đối phương tìm thấy đường lối là có thể nhận ra kẽ hở phá mình ngay. Còn như đã không có chiêu thức thì địch nhân còn phá vào đâu?"

Theo Phong Thanh Dương, Độc cô cửu kiếm đòi hỏi người sử dụng kiếm phải sử dụng chiêu thức biến hóa liên tục như nước chảy mây trôi, tùy theo sự thay đổi của đối thủ mà điều chỉnh lại chiêu thức của mình, lấy sự tấn công làm phòng thủ. Độc cô cửu kiếm tối kị tính học thuộc mà đòi hỏi một chữ Ngộ và khi đó thì dù có quên thì lại càng phát huy khả năng phong phú của kiếm thuật.

Với những lý luận này, Độc cô cửu kiếm đã thoát ra khỏi sự hạn hẹp của kiếm thuật, mà đã trở thành triết lý sống của Phong Thanh Dương cũng như Lệnh Hồ Xung, và trở thành một triết lý đặc sắc của Tiếu ngạo giang hồ. Triết lý này đề cao sự tự do, sống và hành động linh hoạt phù hợp với các quy luật tự nhiên, phát huy sự sáng tạo và hạn chế sự dập khuôn máy móc.

Năm 2006, trên thị trường có xuất hiện bộ tiểu thuyết Độc Cô Cửu Kiếm.[1]

Hoa Sơn Kiếm PhápSửa đổi

Theo truyện Tiếu ngạo giang hồ, Hoa Sơn Kiếm Pháp cùng với Tử Hà Thần Công là những môn võ học trấn phái của phái Hoa Sơn, kiếm pháp này lấy nội lực làm gốc (khí tông), khi thi triển thì "ung dung nhẹ nhàng như chim én bay lượn trên cành liễu giữa ngày xuân","chiêu thức kỳ ảo, biến hóa phức tạp".

Gồm một số chiêu như: Bạch hồng quán nhật, Hữu phụng lai nghi, Kim nhạn hoành không, Tuyệt kiếm thức, Xuyên trẫm dẫn tuyết, Cố bách sâm sâm...

Trong truyện Bích huyết kiếm có miêu tả kiếm pháp này khi Mục Nhân Thanh dạy cho Viên Thừa Chí: "Đường kiếm như Rồng bay Phụng múa, lóe hào quang tựa ánh sáng Mặt Trời."

Liên Thành Kiếm PhápSửa đổi

Liên Thành Kiếm Pháp là kiếm pháp xuất hiện trong truyện Liên Thành Quyết, nguyên dùng những câu thơ trong Đường Thi để đặt tên cho chiêu kiếm, chiêu kiếm mang uy lực kinh hồn.

Lôi Trấn Kiếm Pháp Sửa đổi

Lôi Trấn Kiếm Pháp của phái Thạch Lương tất cả có ba mươi sáu miếng, miếng hư là chớp nhoáng trước khi lôi trấn, khiến cho kẻ địch tối tăm mặt mũi, rồi tiếp theo đó mới tấn công mạnh như sấm sét vậy.

Miêu Gia Kiếm PhápSửa đổi

Trong truyện Tuyết Sơn Phi Hồ, Miêu Gia Kiếm Pháp là kiếm pháp gia truyền dòng họ Miêu gia, sánh ngang với Hồ Gia Đao Pháp, truyền nhân sử dụng xuất sắc nhất là Miêu Nhân Phụng.

Ngọc Nữ Tố Tâm Kiếm PhápSửa đổi

Ngọc Nữ Tố Tâm Kiếm Pháp là môn kiếm pháp thượng thừa trong truyện Thần điêu hiệp lữ, do nữ hiệp Lâm Triều Anh sáng tạo ra. Đây chính là võ học cuối cùng trong Ngọc Nữ Tâm Kinh, kiếm pháp tối cao của Cổ Mộ Phái.

Nguyên nhân là do Lâm Triều Anh từng có một mối lương duyên với tổ sư của phái toàn chân là Vương Trùng Dương, hai người này tuy yêu nhau nhưng không đến được với nhau vì quá nhiều mâu thuẫn, Lâm Triều Anh vừa yêu vừa hận nên đã sáng tác ra Ngọc Nữ Tâm Kinh dựa trên võ công của Toàn Chân Giáo nhưng lại khắc chế hoàn toàn võ công của Toàn Chân Giáo. Mặc dù oán hận nhưng bà vẫn không quên được mối tình với Vương Chân Nhân, Khi viết đến chương cuối cùng bà tưởng tượng ra một người sử dụng Toàn Chân Kiếm Pháp, một người dùng Ngọc Nữ Kiếm Pháp phối hợp với nhau tạo thành một bộ "Song Kiếm Hợp Bích" dành cho đôi tình lữ. Song kiếm tung hoành là khách, kề vai đánh địch mới là chủ, mỗi chiêu thức đều phối hợp nhau, chiếu cố nhau, tình ý triền miên tha thiết.

Người sử dụng "Ngọc Nữ Tố Tâm Kiếm Pháp": Nếu một đôi nam nữ không là tình lữ thì sẽ không lĩnh hội được những chỗ tinh diệu của nó, tâm linh không thể hoà thông với nhau; nếu hai người liên thủ là bằng hữu, sẽ quá khách sáo; nếu là kẻ trên người dưới, sẽ khó tránh dựa dẫm vào nhau; nếu là phu phụ, thì tuy tốt, nhưng hai bên lại quá ư đắm đuối, e lệ thẹn thùng, nửa gần nửa xa, tâm linh vẫn có chỗ chênh lệch.

Yếu kết của kiếm pháp là người này chỉ quan tâm và bảo vệ người kia, chứ không màng đến sinh mạng của mình thì sẽ phát huy được sự lợi hợi và có thể giao đấu với bất cứ cao thủ nào trong thiên hạ. Trong truyện Thần Điêu Hiệp Lữ ngoài Độc Cô Cửu Kiếm ra hầu như không có kiếm pháp nào có thể so được với bộ kiếm pháp này.

Khi Dương Quá và Tiểu Long Nữ phát hiện ra sự cao thâm của bộ kiếm pháp này đã hạ được Kim Luân Pháp Vương - kẻ có võ công ngang với Ngũ Tuyệt.

Bộ kiếm pháp này, ngoài hai người cùng sử dụng còn có một cách dùng khác, khi Tiểu Long Nữ được Lão Ngoan Đồng Chu Bá Thông truyền thụ cho võ công Song Thủ Hỗ Bác thì một mình nàng cũng sử được Ngọc Nữ Tố Tâm Kiếm Pháp. Tiểu Long Nữ một tay dùng Ngọc Nữ Kiếm Pháp, một tay dùng Toàn Chân Kiếm Pháp phối hợp với nhau, so với lúc song kiếm hợp bích với Dương Quá sức mạnh tuy giảm nhưng tốc độ lại cực kì nhanh, vì dù hai người tâm ý tương thông như thế nào đi nữa, cũng không thể so được với một thân một mình. Sau đó, Tiểu Long Nữ dựa vào môn kiếm pháp này mà một mình nàng đả bại Kim Luân Pháp Vương.

Một số chiêu thức trong "Ngọc Nữ Tố Tâm Kiếm Pháp":

Lãng Tích Thiên Nhai

Hoa Tiền Nguyệt Hạ

Phân Hoa Phất Liễu

Cử Án Tề Mi

Liêm Hạ Sơ Trang

Mã Tựu Lạc Hoa

Nhiễu Chỉ Nhu KiếmSửa đổi

Nhiễu Chỉ Nhu Kiếm, trong Ỷ Thiên Đồ Long ký, là kiếm pháp của phái Võ Đang, gồm 72 chiêu, thanh trường kiếm biến thành như một sợi dây lưng, vừa nhẹ vừa mềm lúc cong lúc thẳng phiêu hốt bất định.

Thái Cực Kiếm PhápSửa đổi

Trong truyện Ỷ Thiên Đồ Long ký, Thái Cực Kiếm Pháp do Trương Tam Phong, người sáng lập Võ Đang sáng tạo, gồm những chiêu:

  • Khởi Thủ Thức
  • Tam Hoàn Sáo Nguyệt
  • Đại Khôi Tinh
  • Yến Tử Sao Thủy
  • Tả Lan Tảo,
  • Hữu Lan Tảo
  • Chỉ Nam Châm, hai tay cùng vẽ thành hình tròn
  • Trì Kiếm Quy Nguyên
  • ...

Thái Cực Kiếm Pháp này có đủ các loại vòng, cái to cái nhỏ, cái ngược, cái xuôi, cái thẳng, cái xéo, nếu nói là chiêu số, có thể nói chỉ có một chiêu, nhưng chiêu đó biến hóa khôn cùng.

Thiên Long Kiếm PhápSửa đổi

Xuất hiện trong truyện Tuyết sơn phi hồ, Thiên Long Kiếm Pháp là kiếm pháp của Thiên Long Môn, do dòng họ Điền gia lập ra , thường do Điền Quy Nông sử dụng.

Thượng Thanh Kiếm PhápSửa đổi

Theo trong truyện Hiệp khách hành, Thượng Thanh Kiếm Pháp là bộ kiếm pháp của Thượng Thanh đạo quán, thường do Xung Hư đạo nhân, Thiên Hư đạo nhân, hai vợ chồng Thạch Thanh - Mẫn Nhu sử dụng, và sau này Mẫn Nhu truyền lại cho Thạch Phá Thiên.

Tịch Tà Kiếm PhápSửa đổi

Tịch Tà Kiếm Pháp (辟邪劍譜) là bí kíp kiếm thuật thượng thặng trong truyện Tiếu ngạo giang hồ. Tịch tà kiếm pháp có cùng nguồn gốc với Quỳ Hoa Bảo Điển, và là nguồn gốc của những tranh chấp trên giang hồ vào thời đại của câu chuyện Tiếu ngạo giang hồ. Tịch tà kiếm pháp là nguyên nhân trực tiếp của việc Dư Thương Hải (chưởng môn phái Thanh Thành) tàn sát cả dòng họ Lâm (mà hậu duệ duy nhất sống sót là Lâm Bình Chi).

Xuất xứ của Tịch tà kiếm pháp đến từ Quỳ Hoa bảo điển, mà chính từ những bí kíp này dẫn đến việc chia rẽ phái Hoa Sơn thành hai phái là Khí tông (trọng khí công) và Kiếm tông (trọng về kiếm chiêu). Bí kíp này truyền đến Nam Thiếu Lâm, rồi lại được hai nhân vật của Hoa Sơn là Nguyên Mẫn Túc (ông tổ phe Khí tông) và Chu Tử Phong (ông tổ phe Kiếm tông) học lén. Khi họ trở lại Hoa Sơn, Nam Thiếu Lâm đã phái Độ Nguyên thiền sư đến khuyên hai người không nên học bí kíp này. Khi Độ Nguyên đến Hoa Sơn, cả ba đã cùng nhau đọc và vô tình lại bị hấp dẫn bởi bộ sách này, dẫn đến việc Độ Nguyên xin ra khỏi Nam Thiếu Lâm, hoàn tục lấy vợ.

Sau khi Độ Nguyên hoàn tục đã lấy tục danh cũ là Lâm Viễn Đồ, lập ra Phúc Oai tiêu cục, đồng thời tiến hành tập luyện các bí kíp mà mình đã học được từ bộ sách Quỳ Hoa ở Hoa Sơn. Ông chỉ phát triển các kỹ năng kiếm pháp và phát triển thành Tịch tà kiếm pháp có 72 đường kiếm, và trở thành một trong những kiếm thủ xuất chúng. Một trong những đối thủ bị Lâm Viễn Đồ đánh bại là Trương Thanh Tử, chưởng môn phái Thanh Thành, người được xem là một trong những cao thủ đệ nhất khi đó. Từ đó, Tịch tà kiếm phổ nổi danh giang hồ khiến nhiều nhân vật giang hồ thèm khát, và chính là nguồn gốc của những tranh đoạt sau này. Hậu duệ của Lâm Viễn Đồ là gia đình Lâm Chấn Nam là những người trực tiếp chịu họa từ những tranh chấp này với việc toàn thể tiêu cục bị sát hại bởi Dư Thương Hải.

Theo lời của Lâm Bình Chi, yếu quyết đầu tiên của Tịch tà kiếm pháp là "Võ lâm xưng hùng, dẫn đao tự cung" có nghĩa là muốn luyện Tịch tà kiếm pháp thì đầu tiên phải tự thiến đi bộ phận sinh dục của mình. Bởi vì nếu không thiến, khi luyện nội công Tịch tà kiếm pháp, lửa dục sẽ thiêu đốt ruột gan thành "tẩu hỏa nhập ma" mà chết. Hai người trực tiếp luyện Tịch tà kiếm pháp là Lâm Bình ChiNhạc Bất Quần đều đã tự cung và trở thành những kẻ ái nam ái nữ. Trong quá khứ, Lâm Viễn Đồ biết điều này nên đã lập gia đình, có vợ con rồi mới luyện tập để không triệt đi nòi giống của mình. Cuối đời, hiểu tác hại của Tịch tà kiếm pháp, Lâm Viễn Đồ đã giấu chiếc áo cà sa có chép Tịch tà kiếm phổ và để lại di ngôn nhắc nhở con cháu nhất quyết không được mở ra xem. Lời di chúc này dù Lâm Bình Chi biết (nhờ cha mẹ anh ta truyền qua Lệnh Hồ Xung) nhưng vì để trả thù cho cả nhà, Lâm Bình Chi vẫn quyết ý luyện.

Giang hồ cho rằng khi luyện Tịch tà kiếm pháp họ sẽ thành kiếm thủ vô địch, bất khả chiến bại. Nhưng trên thực tế, cả hai người luyện Tịch tà kiếm pháp thành thục là Lâm Bình ChiNhạc Bất Quần đều bị Lệnh Hồ Xung dùng Độc cô cửu kiếm đánh bại bằng việc tìm ra sơ hở của quá trình biến chiêu thức.

Toàn Chân Kiếm PhápSửa đổi

Theo truyện Anh hùng xạ điêu, Toàn Chân Kiếm Pháp là kiếm pháp độc môn của phái Toàn Chân, biến hóa tinh diệu, được Vương Trùng Dương sáng chế ra.

Đây là kiếm pháp cơ bản của Toàn Chân Giáo, tất cả đệ tử bổn môn đều được dạy, khi luyện đến cảnh giới cao thâm có thể từ kiếm pháp này học lên Bắc Đẩu Thất Tinh Trận của bổn môn.

Môn kiếm pháp này cũng có thể kết hợp với Ngọc Nữ Tố Tâm Kiếm Pháp tạo thành song kiếm hợp bích, uy lực vô song.

Tùng Phong Kiếm PhápSửa đổi

Xuất hiện trong truyện Tiếu ngạo giang hồ, Tùng Phong Kiếm Pháp là kiếm pháp của phái Thanh Thành, cương-kình-khinh-linh đều có đủ. Vừa cứng vừa mạnh như cây tùng lại nhẹ như gió thoảng.

Tuyết Sơn Kiếm PhápSửa đổi

Tuyết Sơn Kiếm Pháp là tuyệt học kiếm pháp của phái Tuyết Sơn trong truyện Hiệp khách hành, gồm bảy mươi hai chiêu, biến hóa đa đoan. Kiếm chiêu có lúc kiếm chiêu cổ điển, có lúc kiếm chiêu dày đặc, kiếm pháp xoay một cái, liền thấy được phong thái khi hoa tuyết bay lượn, gió bắc kêu khóc, ra chiêu mau lẹ, giống như cây mai ở trong gió chập chờn bất định.

Viên Lao Sơn Tam Thập Lục KiếmSửa đổi

Theo truyện Anh hùng xạ điêu, người thư sinh trong Ngư Tiều Canh Độc, đệ tử của Nam Đế Đoàn Hoàng gia, sử dụng Viên Lao Sơn Tam Thập Lục Kiếm.

Ở Vân Nam, Viên Lao Sơn Tam Thập Lục Kiếm được gọi là lợi hại bậc nhất trong kiếm pháp, trên sáu kiếm, dưới sáu kiếm, trước sáu kiếm, sau sáu kiếm, trái sáu kiếm, phải sáu kiếm, sáu sáu ba mươi sáu kiếm.

Việt Nữ Kiếm PhápSửa đổi

Thời cổ, Ngô-Việt đánh nhau, Việt vương Câu Tiễn nằm gai nếm mật nghĩ cách diệt nước Ngô, nhưng thủ hạ của Ngô vương có đại tướng Ngũ Tử Tư học được binh pháp của Tôn Tử, huấn luyện sĩ tốt vô cùng tinh nhuệ.

Câu Tiễn thấy quân mình võ nghệ không bằng đối phương, phiền muộn không vui. Một hôm chợt có một thiếu nữ xinh đẹp tới nước Việt, kiếm thuật vô cùng tinh diệu. Câu Tiễn cả mừng, mời nàng về dạy kiếm pháp cho quân Việt, cuối cùng dùng đó diệt nước Ngô. Gia Hưng là nơi giáp giới Ngô Việt ngày trước, hai nước đánh nhau đều lấy đó làm chiến trường, bộ Việt Nữ Kiếm Pháp này cũng từ đó lưu truyền ra thiên hạ. Chỉ là kiếm pháp mà cô gái dạy cho quân Việt ngày trước nhằm quyết thắng trên chiến trường nên chỉ chú trọng vào việc chém tướng đâm ngựa, chứ dùng để giao đấu với danh gia võ thuật trên giang hồ thì không đủ phần linh động mau lẹ.

Đến cuối thời Đường, ở Gia Hưng xuất hiện một danh gia kiếm thuật, y dựa vào yếu chỉ của kiếm pháp thời cổ mà đổi mới, trong chỗ lợi hại lại ẩn giấu thêm nhiều biến hóa phức tạp.

Theo truyện Anh hùng xạ điêu, Hàn Tiểu Oanh, một trong Giang Nam Thất Quái, theo sư phụ học được lộ kiếm pháp ấy, tuy chưa thật tinh thông nhưng kiếm chiêu cũng đã cao cường, cái ngoại hiệu Việt Nữ Kiếm của nàng là nhờ kiếm pháp mà được.

Vô Thanh Vô SắcSửa đổi

Vô Thanh Vô Sắc là một tuyệt chiêu trong kiếm học của phái Côn Lôn, sử dụng phải có hai người, công lực tương đương, nội kình tương đồng. Khi kiếm chiêu tung ra, kình lực hai bên trái ngược, nên những phản lực của hai thanh kiếm, tiếng rít trong không gian, đều làm triệt tiêu lẫn nhau.

Lộ kiếm chiêu này vốn dùng trong khi chiến đấu trong đêm tối không cho đối phương có thể nghe tiếng gió mà biện vị, trước khi ra tay hoàn toàn không có hình tích gì nên kiếm đụng vào người mới biết, vào ban ngày nếu dùng để đánh trộm từ sau lưng sẽ khiến người ta không sao phòng bị được.

Kim Chung TráoSửa đổi

Xuất hiện trong truyện Thần điêu hiệp lữ, Kim Chung Tráo (chuông vàng úp ngược) là một môn võ công trong Cửu Âm Chân Kinh. Kim Chung Tráo có danh xưng là thiên hạ đệ nhất về phòng thủ. Khi luyện đạt đến cảnh giới cao nhất, cơ thể kim cương bất hoại, đao thương bất nhập, không sợ nước, lửa hay vạn độc xâm nhập cơ thể.

Kim Cương Bát Nhã ChưởngSửa đổi

Theo truyện Ỷ Thiên Đồ Long ký, Kim Cương Bát Nhã Chưởng là công phu của Kim Cương môn. Thật ra đây là Bát Nhã Chưởng của Thiếu Lâm nhưng Kim Cương môn là bàn chi của Thiếu Lâm nên thêm hai chữ Kim Cương vào trước.

Kim Cương Bất Hoại Thể Thần CôngSửa đổi

Kim Cương Bất Hoại Thể Thần Công là một môn võ công được nhắc đến trong các truyện Thiên Long Bát Bộ, Ỷ Thiên Đồ Long KýLộc đỉnh ký. Trong tiểu thuyết Kim Dung thì môn võ này là một trong năm đại thần công của Phái Thiếu Lâm.

Trong Thiên Long Bát Bộ và Lộc đỉnh ký, Kim Cương Bất Hoại Thể Thần Công được các nhân vật nhắc đến như là một môn võ công thượng thừa tuyệt luân, kinh hãi thế tục, chỉ có trong truyền thuyết chưa một ai có thể luyện thành. Người ta đồn rằng người nào luyện thành Kim Cương Bất Hoại Thể Thần Công thì thân thể sẽ cứng như tường đồng vách sắt, có thể chống lại mọi tác động đến từ nội ngoại công của đối phương, khiến cơ thể đao thương bất nhập, không ai đả thương được mình.

Trong Ỷ Thiên Đồ Long Ký, Kim Cương Bất Hoại Thể Thần Công được nhắc đến qua lời kể của Tạ Tốn, lúc Tạ Tốn dùng Thất Thương Quyền đánh vào người Không Kiến thần tăng (cũng là người duy nhất luyện thành Kim Cương Bất Hoại Thể Thần Công trong tất cả các bộ truyện của Kim Dung). Qua lời kể thì mỗi đòn quyền của Tạ Tốn đánh ra, Không Kiến thần tăng đều tiến lên một bước, dùng cơ thể mình đỡ trực tiếp quyền của Tạ Tốn, khiến cho kình lực của đòn đánh phản lại vào chính cơ thể Tạ Tốn, lực đánh ra càng mạnh thì sức phản chấn càng mạnh.

Kim Cương Bất Hoại Thể Thần Công nếu chưa đại thành có nhược điểm là mỗi lần vận thần công thì không được mở miệng nói chuyện. Khi đại thành thì tuy thần công có thể trải khắp toàn thân nhưng trên cơ thể thì ngực là nơi chịu lực tốt nhất, cũng là nơi tạo ra sức phản kích mạnh nhất.

Kim Cương Chỉ LựcSửa đổi

Theo truyện Ỷ Thiên Đồ Long ký, Kim Cương Chỉ lực là công phu của Kim Cương môn (là một bàn chi của phái Thiếu Lâm). Du Đại Nham và Ân Lê Đình, hai người trong Võ Đang Thất hiệp đã bị Đại Lực Kim Cương Chỉ đánh tàn phế, muốn chữa lành phải dùng Hắc ngọc đoạn tục cao.

Kim Cương Phục Ma KhuyênSửa đổi

Kim Cương Phục Ma Khuyên là một môn trận pháp võ công từng xuất hiện trong Ỷ Thiên Đồ Long ký do ba vị cao tăng Thiếu Lâm là: Độ Ách, Độ Kiếp, Độ Nạn đã từng cùng nhau sử dụng. Trương Vô Kỵ vì cứu Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn đã từng ba lần chiến Kim Cương Phục Ma Khuyên.

Trận đầu tiên do Trương Vô Kỵ một mình xông trận nhưng không thể phá trận mà còn suýt chết, cho đến lúc nói ra ân oán giữa Tạ Tốn và Thành Côn khiến cho Độ Ách nghi ngờ nên mới thoát khỏi. Trận thứ hai do Trương Vô Kỵ, Dương Tiêu, Ân Thiên Chính ba người hợp lực phá trận, kết quả cũng không phá được, Ân Thiên Chính còn bị hao tổn hết tinh lực mà chết. Trận thứ ba do Trương Vô Kỵ cùng Chu Chỉ Nhược hợp lực phá giải Kim Cương Phục Ma Khuyên nhưng Chu Chỉ Nhược công lực quá kém nên không giúp gì được, sau đó Trương Vô Kỵ phải dùng mưu đánh gãy những cây tùng khiến cho Độ Ách, Độ Kiếp, Độ Nạn mất chỗ ẩn thân, từ đó Kim Cương Phục Ma Khuyên không thể tiếp tục sử dụng được, 3 người phải chuyển sang đấu nội lực cùng Trương Vô Kỵ. Tam vị thần tăng sau đó đã nói rằng Trương Vô Kỵ không thể phá trận, mà họ cũng không thể đánh bại Trương Vô Kỵ.

Kim Long Tiên PhápSửa đổi

Theo truyện Anh hùng xạ điêu, Kim Long Tiên Pháp là công phu của Mã Vương Thần Hàn Bảo Câu, một trong Giang Nam Thất Quái.

Kim Xà Bí KípSửa đổi

Theo truyện Bích huyết kiếm, Viên Thừa Chí đã dùng tuyệt kỹ Thiên Thủ Quan Âm Thâu Vạn Báu trong Kim Xà Bí Kíp để bắt Liên Hoàn Thập Nhị Phi Đao do Ôn Minh Thi của Thạch Lương phái phóng ra.

Trong Kim Xà Bí Kíp, Viên Thừa Chí còn học được những môn võ như là:

- Kim Xà Du Thân Chưởng. - Kim Xà Cầm Hạc quyền. - Kim xà kiếm pháp...

Kim Xà Bí Kíp là di vật của Kim Xà Lang Quân Hạ Tuyết Nghi.

Kỳ Môn Ngũ ChuyểnSửa đổi

Theo truyện Anh hùng xạ điêu, Kỳ Môn Ngũ Chuyển là một môn tu luyện nội công thượng thặng mà Đông Tà Hoàng Dược Sư luyện tập hơn mười năm mới thành công. Khi luyện tập thì chân bước theo phương vị bát quái.

Lạc Anh Thần Kiếm Chưởng (Đào Hoa Lạc Anh Chưởng)Sửa đổi

Theo truyện Anh hùng xạ điêu, Lạc Anh thần kiếm chưởng là võ công của Đông Tà Hoàng Dược Sư theo học. Lạc Anh Thần Kiếm Chưởng vốn là đem kiếm pháp hóa vào bên trong chưởng pháp mà thành. Muốn luyện thật một môn chưởng pháp, trước tiên cần lĩnh hội trong đó ý cảnh, trước tiên luyện kiếm pháp sau mới luyện chưởng pháp. Khi xuất thủ mỗi chiêu chưởng pháp đều mang theo kiếm ý, kiếm pháp hóa vào chưởng pháp tấn công, xuất chưởng lăng lệ ác liệt như kiếm, chiêu số giả tưởng, hai tay huy động, bốn phương tám hướng đều là chưởng ảnh, năm hư một thực hoặc tám hư một thực, đúng như cuồng phong chợt lên trong rừng đào, vạn hoa đủ rơi. Hư chiêu cố là dụ địch nhiễu địch, nhưng đến lâm trận thời điểm, năm hư tám hư cũng đồng đều có thể biến đổi là thật chiêu.

Trong bản sửa đổi năm 2003, Kim Dung đã đổi tên Lạc Anh Thần Kiếm Chưởng thành Đào Hoa Lạc Anh Chưởng.

Lạc Nhạn QuyềnSửa đổi

Theo truyện Lộc Đỉnh ký, Lạc Nhạn Quyền là một bộ quyền pháp của phái Côn Lôn.

La Hán Phục Ma Thần CôngSửa đổi

La Hán Phục Ma Thần Công là môn võ công xuất hiện trong truyện Hiệp khách hành, đây là một môn nội công tối thượng thừa của Phật môn, được một vị cao tăng Thiếu Lâm sáng lập ra.

La Hán Phục Ma Thần Công nguyên là một bộ tượng Phật gồm 18 pho tượng gỗ màu đen, mỗi pho tượng gỗ là một vị La Hán, mỗi tượng La Hán lại có một vẻ mặt biểu thị những sắc thái hỉ nộ ái ố khác nhau. Trên mình các tượng gỗ đều vẽ những đường chỉ đen dạy cách vận động chân khí nội lực đi đến các huyệt đạo trên cơ thể. Muốn luyện La Hán Phục Ma Thần Công thì bước đầu tiên người luyện cần phải có một căn cơ nội lực thật thâm hậu để trấn áp tâm thần về nguyên vị, tư chất cũng cần phải thông minh để có thể thông tỏ được những biến hóa thiên hình vạn trạng của môn tuyệt kỹ này, đồng thời trong lúc luyện công phải bỏ hết tạp niệm thì công cuộc tu luyện mới đạt hiệu quả.

Trong Hiệp khách hành, nhân vật Thạch Phá Thiên (Cẩu Tạp Chủng) nhờ có căn cơ nội lực thâm hậu do cơ duyên hai luồng nội lực âm dương hòa hợp, lại có được tư chất thông minh, chất phác nên đã nhanh chóng luyện thành La Hán Phục Ma Thần Công, từ đó Cẩu Tạp Chủng trở thành nhân vật có nội lực tuyệt đỉnh cổ kim không ai sánh bằng.

La Hán Quyền (La Hán Thập Bát Thủ)Sửa đổi

Khi nhắc đến võ công căn bản của phái Thiếu Lâm trong các tác phẩm Kim Dung, thì đầu tiên chính là La Hán Quyền. Đây là võ công nhập môn mà đệ tử nào cũng phải học. La Hán Quyền là 1 tuyệt kỹ Thiếu Lâm, nói một cách đơn giản, đây là 18 thế tập, đúng hơn là 18 bước luyện tập, mô phỏng tư thế của 18 La Hán.

La Hán Quyền chính là bài quyền hoàn chỉnh đầu tiên của Thiếu Lâm quyền được sáng tạo bởi các võ tăng Thiếu Lâm Tự vào thời nhà Tùy. Có một số ít các tài liệu của Trung Hoa sử dụng danh từ La Hán Thập Bát Chưởng hay La Hán Thập Bát Môn thay cho danh từ La Hán Quyền nhưng danh từ này không được thông dụng và phổ biến lắm.

Lan Hoa Phất Huyệt ThủSửa đổi

Theo truyện Anh hùng xạ điêu, Lan Hoa Phất Huyệt Thủ là một môn thủ pháp điểm huyệt của Đông Tà Hoàng Dược Sư, đảo chủ đảo Đào Hoa. Con gái Hoàng Dược Sư là Hoàng Dung cũng sử dụng công phu này.

Lăng Ba Vi BộSửa đổi

Lăng Ba Vi Bộ (凌波微步) là một loại võ công bộ pháp thượng thừa trong truyện Thiên Long Bát Bộ của Kim Dung. Đây là một môn võ học của phái Tiêu Dao được Đoàn Dự phát hiện tại núi Vô Lượng - nước Đại Lý. Đoàn Dự sau khi chạy nhầm vào cấm địa Vô Lượng ngọc bích của Vô Lượng kiếm phái, sau đó vì bị người truy đuổi và không cẩn thận nên té xuống vách núi, may mắn không chết rồi phát hiện một hang động. Ở đây, chàng tìm thấy một căn phòng đã lâu không có người ở và thấy được một pho tượng mỹ nữ được điêu khắc bằng ngọc. Sau đó, Đoàn Dự dập đầu một ngàn lần theo lời yêu cầu được ghi dưới pho tượng và tìm thấy được quyển trục ghi bí kíp võ công là Bắc Minh Thần Công và Lăng Ba Vi Bộ được giấu trong bồ đoàn.

Lăng Ba Vi Bộ là môn bộ pháp dựa vào Chu Dịch 64 quẻ phương vị mà diễn biến thành. Lúc chiến đấu dựa vào bộ pháp này khiến cho đối thủ không có cách nào đánh trúng bản thân. Mặt khác Lăng Ba Vi Bộ có thêm một loại công dụng là khi bước chân chạy hết 64 quẻ tức là đúng một chu thiên thì nội tức cũng đã vận chuyển được một vòng. Vì vậy mỗi khi đi một vòng thì nội lực lại có tiến triển.

Linh Xà Quyền PhápSửa đổi

Theo truyện Anh hùng xạ điêu, Tây Độc Âu Dương Phong tiềm tâm khổ luyện được bộ Linh Xà Quyền Pháp, uốn lượn theo thân hình loài rắn. Thân rắn tuy có xương nhưng cũng như không xương, có thể quăng khắp bốn phương tám hướng tùy ý, vì vậy yếu chỉ của pho quyền pháp này là ở chỗ cánh tay tựa hồ có thể cong được ở những chỗ không cong được, địch nhân chỉ cho rằng đưa tay gạt đỡ là xong, nào ngờ càng vào gần thì đột nhiên sẽ có một quyền từ phương vị không ngờ đánh tới. Muốn cánh tay có thể mềm mại uốn khúc tùy ý thì không thể, nhưng phương vị phát quyền thì không dễ nghĩ ra, trong con mắt địch nhân thì cánh tay của mình quả thật linh động như con rắn.

Long Trảo ThủSửa đổi

Theo tiểu thuyết Ỷ Thiên Đồ Long ký, Long Trảo Thủ là võ công của phái Thiếu Lâm. Người sử dụng ba mươi sáu thức Long Trảo Thủ như một con rồng xám, uốn lượn múa may, long trảo vươn ra, đối thủ không còn đường nào né tránh.

Trong ba mươi sáu thức Long Trảo Thủ có

  • Nã Vân Thức
  • Sang Châu Thức
  • Lao Nguyệt Thức
  • Bổ Phong Thức
  • Tróc Ảnh Thức
  • Phủ Cầm Thức
  • Cổ Sắt Thức
  • Phê Kháng Thức
  • Đảo Hư Thức
  • Bão Tàn Thức
  • Thủ Khuyết Thức
  • ...

Long Tượng Bát Nhã CôngSửa đổi

Theo truyện Thần điêu đại hiệp, Long Tượng Bát Nhã Công là môn công phu bí truyền của phái Mật Tông ở Tây Tạng. Mỗi đòn Long Tượng Bát Nhã Công đánh ra bằng đại lực của mười con voi mười con rồng. Môn võ công này tuy có thiên hướng phật môn nhưng lại có nhược điểm luyện tầng càng cao, sát ý càng mạnh, càng khó nắm bắt được tâm tính của bản thân. Nếu không thể khống chế được bản thân, thần công sẽ trở thành tà công. Long Tượng Bát Nhã Công gồm có 13 tầng. Tầng thứ nhất dễ hơn cả, dù là người ngu dốt, chỉ cần một, hai năm cũng luyện thành. Tầng thứ hai khó gấp đôi tầng thứ nhất, tốn ba, bốn năm luyện tập. Tầng thứ ba khó gấp đôi tầng thứ hai, tốn bảy, tám năm. Cứ thế càng về sau càng khó hơn, thường thường tốn ba chục năm khổ luyện. Mười ba tầng Long Tượng Bát Nhã Công chưa có ai luyện được đến tầng thứ mười. Môn công phu này tuần tự tiệm tiến, về lý vốn ai cũng có thể luyện xong. Nếu có người thọ vài trăm tuổi, thể nào cuối cùng cũng luyện thành. Chỉ duy nhất Kim Luân pháp vương là có thành tựu cao nhất đạt đến tầng thứ 10 có thể sánh ngang với các cao thủ nhất đẳng nhất như Nhất Đăng đại sư, Chu Bá Thông,...

Lục Hợp Thông Tý Quyền PhápSửa đổi

Theo truyện Anh hùng xạ điêu, Lục Hợp Thông Tý Quyền Pháp là công phu của Thiết Chưởng Thủy Thượng Phiêu Cừu Thiên Nhận bang chủ Thiết Chưởng Bang ở Trường Giang.

Lục Mạch Thần KiếmSửa đổi

Lục mạch thần kiếm danh xưng "Thiên hạ đệ nhất kiếm khí", là tên một loại tuyệt kỹ võ công xuất hiện trong truyện kiếm hiệp của Kim Dung. Nó là tuyệt kỹ sử dụng kiếm khí (vô hình) phóng ra từ đầu ngón tay để sát thương đối thủ. Ngoại trừ người sáng tạo là vua khai quốc của Đại Lý Đoàn Tư Bình, nó được xem là môn võ công tối thượng rất khó để luyện được (kể cả sáu cao tăng đắc đạo Thiên Long tự) cho đến khi Đoàn Dự vô tình luyện thành công. Theo đó, đây là một trong 2 tuyệt kỹ độc môn truyền nội không truyền ngoại của nước Đại Lý: Nhất Dương Chỉ và Lục Mạch thần kiếm.

Nhất Dương Chỉ là bộ chỉ pháp được truyền dạy trong hoàng tộc Đại Lý, còn Lục Mạch thần kiếm thì chỉ có những đệ tử xuất gia của Thiên Long tự mới được truyền dạy (nhiều vị vua và hoàng tộc Đại Lý khi về già tu hành tại chùa này), vì uy lực của nó quá lớn nên phải tu tập Phật pháp để trung hòa. Theo truyện Thiên long bát bộ, nhân vật Đoàn Dự là người duy nhất có thể sử dụng trọn vẹn cả sáu mạch kiếm khí nhờ vào ngộ tính cao cùng nội lực thâm hậu. Bộ thần kiếm này được sánh ngang với Dịch Cân Kinh của Thiếu Lâm Tự nên nó thu hút các võ lâm cao thủ chiếm đoạt và tiêu biểu nhất là Đại Luân Minh Vương Khưu Ma Trí. Trong Thiên long bát bộ, Lục mạch thần kiếm được tu luyện dựa trên cách vận hành khí tâm pháp yếu chỉ riêng rồi dùng Nhất Dương chỉ phát triển thành kiếm khí. Sáu mạch của bộ kiếm pháp này bao gồm:

  1. Thiếu trạch kiếm
  2. Thiếu xung kiếm
  3. Quan xung kiếm
  4. Trung xung kiếm
  5. Thương dương kiếm
  6. Thiếu thương kiếm

Lục Mạch Thần Kiếm còn có thể dùng như một trận pháp gọi là Lục Mạch Kiếm Trận, sáu người chia nhau học sáu mạch kiếm như sáu vị cao tăng của Thiên Long Tự. Tuy nhiên Lục Mạch Kiếm Trận uy lực không cao bằng Lục Mạch Thần Kiếm.

Muốn luyện thành bộ võ công này có 2 cách:

  • Tu luyện Nhất Dương Chỉ đến mức độ có thể xuất chỉ khí phóng ra đầu ngón tay thì được xem là nhập môn, có thể luyện được 1 mạch. Từ đó càng tu luyện lên cao để có thể sử dụng toàn bộ.
  • Tu luyện nội lực đến mức cực cao. Theo đó có thể tùy ý luyện thành Lục Mạch Thần Kiếm mà không phải tu luyện Nhất Dương Chỉ. Theo cách này chỉ cần có 1 pho nội công thượng thừa thì có thể dễ dàng luyện thành Thần Kiếm. Vì nội công thượng thừa như Dịch Cân Kinh, Bắc Minh Thần Công, Cửu Dương Thần Công,... thời gian luyện ngắn nhưng có thể dễ dàng ngưng tụ nội lực như người khác tu luyện mấy thập niên.

Mai Hoa QuyềnSửa đổi

Xuất hiện trong truyện Hiệp khách hành, Mai Hoa Quyền là võ công quyền pháp gia truyền nhà họ Mai, do Mai Văn Hinh (người tình của Đinh Bất Tứ) và Mai Phương Cô (con gái Đinh Bất Tứ) sử dụng.

Mỹ Nhân Tam ChiêuSửa đổi

Xuất hiện trong truyện Lộc Đỉnh ký, Mỹ Nhân Tam Chiêu là võ công mà Tô Thuyên đã truyền dạy cho Vi Tiểu Bảo khi ở trên Thần Long đảo (Xà đảo).

Nam Sơn QuyềnSửa đổi

Theo truyện Anh hùng xạ điêu, Nam Sơn Quyền là võ công của Nam Sơn Tiều Tử Nam Hy Nhân, một trong Giang Nam Thất Quái.

Nê Thu CôngSửa đổi

Theo truyện Anh hùng xạ điêu, Anh Cô thấy cá trạch bơi lội trong đầm mà ngộ ra Nê Thu Công. Công phu này khi động thủ với người khác thân trơn trượt dị thường, đối thủ khó lòng mà bắt được hay khống chế.

Thần Toán Tử Anh Cô vốn tên là Lưu Anh, một quý phi trong cung Nam Đế Đoàn Hoàng gia nước Đại Lý. Lưu quý phi gặp gỡ và có tình cảm với Lão Ngoan Đồng Chu Bá Thông sinh ra một đứa con rồi bị Thiết chưởng Cầu Thiên Nhẫn giết chết.

Nga Mi Cửu Dương CôngSửa đổi

Xuất hiện trong truyện Ỷ Thiên Đồ Long ký, Nga Mi Cửu Dương Công là nội công của bậc nhất Nga Mi Phái do tổ sư Quách Tương của phái sáng lập nên.

Đây là tâm pháp biến hóa từ Cửu Dương Thần Công, bác đại tinh thâm thích hợp cho nữ tử tu luyện (vì đã nhu hòa phần nào đặc tính chí dương cương mãnh của Cửu Dương Thần Công). Năm xưa Giác Viễn Đại Sư qua đời đã đọc lại Cửu Dương Thần Công, khi đó Trương Quân Bảo (Trương Tam Phong, đệ tử của Giác Viễn đại sư), Vô Sắc Thiền Sư và Quách Tương (người lập nên phái Nga Mi) mỗi người đã học một phần của nó. Trong đó Trương Quân Bảo luyện được nội công tối thuần, Vô Sắc Đại Sư luyện được nội công tối cao, Quách Tương luyện được nội công tối bác. Sau này, Quách Tương đã có được nội lực cao thâm, lập nên môn Phái Nga Mi uy trấn giang hồ không thua kém với Thiếu Lâm và Võ Đang.

Ngọc Nữ Tâm KinhSửa đổi

Ngọc Nữ Tâm Kinh là khái niệm võ học trong tiểu thuyết Thần điêu hiệp lữ của Kim Dung nằm trong Xạ Điêu Tam Bộ Khúc. Ngọc Nữ Tâm Kinh là môn võ công lợi hại nhất của phái Cổ Mộ, theo lời kể của Tiểu Long Nữ thì đây là môn võ công do tổ sư bà bà Lâm Triều Anh sáng tạo ra.

Nguyên nhân là do Lâm Triều Anh từng có một mối lương duyên với tổ sư của phái Toàn Chân là Vương Trùng Dương, hai người này tuy yêu nhau nhưng không đến được với nhau vì quá nhiều mâu thuẫn, Lâm Triều Anh vừa yêu vừa hận nên đã sáng tác ra Ngọc Nữ Tâm Kinh dựa trên võ công của Toàn Chân Giáo nhưng lại khắc chế hoàn toàn võ công của Toàn Chân Giáo. Ngọc Nữ Tâm Kinh muốn luyện thành phải trải qua 3 giai đoạn:

- Thứ nhất phải luyện hết võ công của Toàn Chân Giáo (Toàn Chân Kiếm Pháp).

- Thứ hai phải luyện hết võ công của phái Cổ Mộ (Ngọc Nữ Kiếm Pháp).

- Thứ ba mới bước vào giai đoạn luyện Ngọc Nữ Tâm Kinh (khi luyện tập phải có hai người cùng luyện và phải "lõa thể" để luyện công do lúc luyện khí nóng trong cơ thể phát tiết, nếu không trút hết áo quần thì khí nóng sẽ chạy ngược vào nội thể nhẹ thì tẩu hỏa nhập ma, nặng thì chết ngay tức khắc). Lúc luyện Ngọc Nữ Tâm Kinh chia ra Âm Tiến và Dương Thoái, luyện Dương Thoái thì có thể ngừng lại nghỉ nhưng Âm Tiến thì phải liên tục không được đứt quãng, nếu không tẩu hỏa nhập ma chân khí chạy ngược vào lục phủ ngũ tạng.

Ngọc Nữ Tâm Kinh đa phần là kiếm pháp, mặc dù nó khắc chế võ công của Toàn Chân Giáo, nhưng ở chương cuối cùng trong Ngọc Nữ Tâm Kinh ghi một loại võ công vô cùng lợi hại, gọi là Ngọc Nữ Tố Tâm Kiếm Pháp. Yếu quyết của chương cuối trong Ngọc Nữ Tâm Kinh là phải dùng kiếm pháp trong Ngọc Nữ Tâm Kinh phối hợp với kiếm pháp của Toàn Chân Giáo. Nguyên do là Lâm Triều Anh mặc dù oán hận Vương Trùng Dương nhưng vẫn không quên tình xưa nên đã sáng tạo ra môn võ công dành cho đôi tình lữ. Người nam dùng Toàn Chân Kiếm Pháp phối hợp với người nữ sử dụng Ngọc Nữ Kiếm Pháp trở thành Ngọc Nữ Tố Tâm Kiếm Pháp, hai người "song kiếm hợp bích" kề vai sát chiến, bảo vệ lẫn nhau, vô cùng lợi hại.

Ngũ Độc Thần Chưởng (Xích Luyện Thần Chưởng)Sửa đổi

Theo truyện Thần điêu hiệp lữ, Ngũ Độc Thần Chưởng là võ công của Lý Mạc Sầu luyện, dùng độc công tích tụ ngũ độc trong bàn tay, khi xuất chưởng thì chưởng lực mang theo độc phóng tới kẻ thù, ngũ độc này được bào chế từ năm loại độc vật từ sách "Ngũ Độc Bí Truyền", người bị trúng chưởng không có thuốc giải sẽ bị ngũ độc công tâm mà chết. Cũng từ cái tên Xích Luyện Thần Chưởng mà giang hồ võ lâm gọi Lý Mạc Sầu là "Xích Luyện Tiên Tử".

Ngũ Hành Bát Quái TrậnSửa đổi

Theo truyện Bích huyết kiếm, Ngũ Hành Bát Quái Trận là Trấn Sơn Chi Bảo của phái Thạch Lương.

Ngũ Hành Bát Quái Trận gồm mười sáu người dàn trận Bát Quái bên ngoài để phò tá Ngũ Hành Trận bên trong.

Mười sáu người chạy vòng quanh càng chạy càng phải nhanh hơn. Có một điều lạ nhất là không hề nghe thấy tiếng chân của bọn họ, mọi chỗ hổng đều bị họ bịt kín, đến con ruồi con muỗi cũng không thể bay lọt vào được.

Trong Ngũ Hành Trận, năm người chạy quanh địch thủ, càng chạy càng nhanh, chỉ chờ địch thủ ra tay là họ cũng ùa vào ngay. Ngũ Hành trận cần dùng một người hấp dẫn đối phương tấn công, bốn người kia thì nhằm chỗ hở của địch mà tập kích. Khi sáu người đánh nhau, dù đánh rất kịch liệt, nhưng khí giới va chạm vào nhau, chỉ có tiếng kêu "vù vù" của các khí giới múa máy và tà áo bay lượn thôi. Điểm cốt yếu của trận thế này là "nhanh" để đôi bên khí giới va chạm nhau, tình thế tất phải chậm chạp đi.

Còn nếu như địch thủ không động đậy gì cả, toàn thân chỗ nào cũng phòng bị chu đáo, Ngũ Hành Trận chịu bó tay không làm gì nổi.

Sau khi thất bại và tẩu thoát, Kim Xà Lang Quân cố công nghĩ thế võ để đối phó với Ngũ Hành trận. Trong một lần đi dạo núi ông bỗng gặp một con rắn độc đang bò ở trong đám cỏ. Trông thấy bóng người, nó quấn tròn lại, ngửng đầu lên không hề cử động, nó chờ đợi kẻ địch ra tay trước. Khi kẻ địch tấn công, rắn nọ lập tức thực hư mà cản lại. Nếu địch đứng yên, nó ít khi tấn công trước. Vì chưa biết rõ thực hư của địch ra sao, nếu tấn công trước, thường thường hay bị thiệt thòi. Xúc động linh cơ, Hạ Tuyết Nghi nhìn qua, vừa nhảy vừa kêu la, lộn mấy vòng trên bãi cỏ. Chiến lược phá Ngũ Hành Trận được sáng tạo ngay từ đấy.

Khi bị năm anh em Ôn thị dùng Ngũ Hành Bát Quái Trận vây, Viên Thừa Chí đã dùng thế võ trong Kim Xà Bí Kíp để phá Ngũ Hành Trận.

Ngũ Hành Lục Hợp ChưởngSửa đổi

Xuất hiện trong truyện Hiệp khách hành, Ngũ Hành Lục Hợp Chưởng là môn võ công do Bối Hải Thạch luyện, kì bí, quái lạ ít người biết được.

Ngũ Luân Chân CôngSửa đổi

Xuất hiện trong truyện Thần điêu hiệp lữ, Ngũ Luân Chân Công là võ công thượng thừa của Hoàng Giáo Mật Tông ở Tây Tạng, võ công này điều khiển 5 loại pháp luân cùng một lúc, thường do Kim Luân Pháp Vương sử dụng.

Ngưng Huyết Thần TrảoSửa đổi

Xuất hiện trong truyện Lộc đỉnh ký, Ngưng Huyết Thần Trảo là võ công của Thiên Địa hội tổng đà chủ Trần Cận Nam luyện. Môn công phu này rất hiểm độc, ai trúng phải "Thần trảo" này chỉ trong ba ngày là huyết dịch toàn thân dần dần ngưng kết lại, biến thành đặc sệt như hồ, chẳng còn thuốc nào chữa được.

Trên đời chỉ có Trần Cận Nam mới biết cách chữa: sau hai giờ luồng kình lực trong trảo sẽ phát tác. Khi đó, chớ tự phát kình lực để hoá giải, cứ đào huyệt dưới đất, chôn vùi toàn thân xuống, chỉ để hở mũi và miệng ra hô hấp. Mỗi ngày ngâm mình dưới đất bốn giờ, làm như vậy trong bảy ngày là không lo gì nữa.

Nhất Dương ChỉSửa đổi

Nhất Dương Chỉ trong truyện Kim Dung do Thái Tổ Thần Thánh Văn Vũ Hoàng Đế Đoàn Tư Bình, vua đầu tiên của vương quốc Đại Lý sáng tạo ra cùng với Lục Mạch Thần kiếm, được xem như là 2 võ công tuyệt kỹ của Đại Lý Đoàn Gia. Nhất Dương Chỉ là bộ chỉ pháp được truyền dạy trong hoàng tộc Đại Lý, còn Lục Mạch thần kiếm thì chỉ có những đệ tử của Thiên Long tự mới được truyền dạy (nhiều vị vua và hoàng tộc Đại Lý khi về già tu hành tại chùa này).

Nhất Dương Chỉ xuất hiện trong các truyện Thiên Long Bát Bộ, Võ Lâm Ngũ Bá, Anh hùng xạ điêuThần điêu hiệp lữ.

Trong Thiên long bát bộ, những người sử dụng thành thạo bộ chỉ pháp này là Trấn Nam Vương Đoàn Chính Thuần, Bảo Định Đế Đoàn Chính Minh, Thiên Hạ Đệ Nhất Ác Nhân cũng là thế tử nước Đại Lý (anh họ Đoàn Chính Minh) Đoàn Diên Khánh và các cao tăng của Thiên Long Tự. Trong Võ Lâm Ngũ Bá, Vương Trùng Dương đã trao đổi Tiên Thiên Công của ông lấy Nhất Dương Chỉ với Nam Đế Đoàn Trí Hưng. Với nội lực thâm hậu, Vương Trùng Dương đã sử dụng Nhất Dương Chỉ để phá Cáp Mô Công của Âu Dương Phong và làm y trọng thương.

Trong Anh hùng xạ điêu, Đoàn Trí Hưng là người đã sử dụng Nhất Dương Chỉ để cứu sống Hoàng Dung sau khi nàng bị bang chủ Bang Thiết Chưởng là Cừu Thiên Nhận đánh trúng. Quách Tĩnh cũng có thể sử dụng chiêu thức này, tuy không thuần thục.

Trong Thần điêu hiệp lữ người sử dụng Nhất Dương Chỉ có Đoàn Hoàng gia (Nhất Đăng đại sư) và các đệ tử của ông, trong đó thành thạo nhất là đệ tử thứ tư tên Chu Tử Liễu (sử dụng Nhất Dương chỉ kết hợp với thư pháp) ngoài ra còn có các đệ tử Ngư,Tiều, Canh.

Nhất Dương Chỉ là yếu chỉ điểm huyệt dùng ngón tay xuất chỉ khí gây sát thương. Người sử dụng Nhất Dương Chỉ dồn nội lực vào ngón tay trỏ rồi bắn chỉ lực, tuy phạm vi tấn công nhỏ nhưng lực sát thương vô cùng cao. Nếu bị điểm huyệt bằng Nhất Dương Chỉ thì phải dùng chính Nhất Dương Chỉ để giải huyệt.

Như Ảnh Tuỳ Hình ThoáiSửa đổi

Xuất hiện trong truyện Thiên Long Bát Bộ, Như Ảnh Tuỳ Hình Thoái là võ công Thiếu Lâm, khi thi triển thì hai chân như bóng với hình đá liên tục 36 chiêu liên hoàn. Từng được Huyền Nạn và Hư Trúc sử dụng đánh với Đinh Xuân Thu và Cưu Ma Trí.

Niêm Hoa Chỉ CôngSửa đổi

Niêm Hoa Chỉ Công là 1 trong 72 tuyệt kỹ Thiếu Lâm Tự, khi luyện dùng dương lực ở hai đầu ngón tay cái và ngón tay trỏ để bấu, véo, điểm. Luyện bằng cách hai ngón tay vê bóp các hạt đậu tiến tới hạt cát, sắt. Khi vê bi sắt mà làm méo, bẹp là đại thành. Tuyệt kỹ này hành danh của Huyền Độ đại sư khi sử dụng thì ngón trỏ và ngón giữa khép lại tạo thành tư thế niêm hoa. Ngoài ra còn có thể dùng tuyệt kỹ này phóng đi các vật nhỏ thành ám khí gây sát thương. Trong Thiên Long Bát Bộ, Niêm Hoa Chỉ là một trong những tuyệt kỹ mà Hư Trúc đã sử dụng để đấu với Cưu Ma Trí.

Phách Không ChưởngSửa đổi

Phách Không Chưởng là một chưởng pháp trong truyện Anh Hùng Xạ  Điêu. Khi đứng cách địch thủ một khoảng cách nhất định có thể phóng chưởng lực ra đả thương người khác. Muốn luyện công phu này thì phải lấy hai tay ngâm trong nước thuốc rồi sau đó đánh vào miếng sắt hình bát quái.

Phân Vân Thừa LongSửa đổi

Quỷ Ảnh Tử Mộc Tang đạo nhân đem kiểu khinh công Phân Vân Thừa Long (vịn mây cưỡi rồng) dạy cho Viên Thừa Chí sau khi thua một ván cờ vây.

Phiêu Tuyết Xuyên Vân ChưởngSửa đổi

Phiêu Tuyết Xuyên Vân Chưởng là một chưởng pháp thuộc Phái Nga My, khi tấn công dùng nội lực mộng công thi triển chưởng về phía trước địch. Tương truyền Quách Tương sau khi lập ra phái Nga My, ước hẹn cùng với Côn Lôn đạo nhân Hà Túc Đạo thưởng ngoạn tuyết. Quách Tương trong lúc xem tuyết rơi, ngộ ra “Nga My Phiêu Tuyết” tam tuyệt chiêu, Hà Túc Đạo dựa vào thế hùng vĩ của núi Côn Lôn, lấy tam chiêu “Côn Lôn Xuyên Vân” ứng phó. Sau lịch đại Nga My chưởng môn phí hết tâm lực, kết hợp tuyệt kỹ của 2 Đại Tông sư, sáng tạo ra tuyệt chiêu này.

Phi Phụng ThủSửa đổi

Theo truyện Lộc Đỉnh ký, Phi Phụng Thủ là một môn công phu của phái Không Động.

Phục Hổ Chưởng PhápSửa đổi

Theo truyện Bích huyết kiếm, Thôi Thu Sơn truyền thụ Phục Hổ chưởng pháp của phái Hoa Sơn cho Viên Thừa Chí, tất cả 108 miếng, mỗi miếng lại có 3 đường biến hóa "kỳ chính tương sinh tương khắc" cộng tất cả là 324 đường. Có những miếng như là:

- Hàng Long Phục Hổ

- Hoàng Hổ Đơn Tiên

- Thâm Nhập Hổ Huyệt

Phục Ma Trượng PhápSửa đổi

Theo truyện Anh Hùng Xạ  Điêu, Kha Trấn Ác, một trong Giang Nam Thất Quái, khổ luyện Phục Ma Trượng Pháp ở sa mạc Mông Cổ.

Quỳ Hoa bảo điểnSửa đổi

Quỳ Hoa bảo điển (葵花寶典) là bí kíp võ thuật thượng thặng trong tiểu thuyết Võ hiệp Tiếu ngạo giang hồ của nhà văn Kim Dung. Quỳ Hoa bảo điển có chung nguồn gốc với Tịch tà kiếm pháp.

Theo lời kể của Phương Chứng đại sư, trụ trì Thiếu Lâm Tự khi bàn việc cùng Lệnh Hồ XungXung Hư đạo trưởng phái Võ Đang trên đỉnh núi Hằng Sơn, võ công này vốn là một bí lục do một cặp vợ chồng tiền nhân sáng tạo ra. Phần do người chồng sáng tạo gọi là "Càn kinh" và phần do người vợ sáng tạo gọi là "Khôn kinh", đây là hai phần hoàn toàn khác biệt thậm chí đối kháng nhau (theo như bản sửa đổi sau này của Kim Dung thì Quỳ Hoa bảo điển do một thái giám trong cung sáng tạo ra được xưng là "Quỳ Hoa lão tổ"). Sau một thời gian, bộ sách Quỳ Hoa bảo điển vô tình truyền đến phái Nam Thiếu LâmPhúc Kiến.

Cũng thời gian đó, có hai tiền nhân phái Hoa Sơn là Nguyên Mẫn Túc (sau này là ông tổ phe Khí tông) và Chu Tử Phong (sau này trở thành ông tổ phe Kiếm tông) cùng đến Nam Thiếu Lâm không biết bằng cách nào đọc lén được bộ sách rồi về Hoa Sơn tu luyện. Khi biết chuyện, trụ trì Nam Thiếu LâmHồng Diệp thiền sư đã sai môn đồ của mình là Độ Nguyên thiền sư đến Hoa Sơn khuyên hai người kia không nên rèn luyện Quỳ Hoa bảo điển. Hai người kia tưởng lầm Độ Nguyên đã tinh thông bộ bảo điển nên đọc lại nhờ nhà sư kiểm chứng. Không ngờ Độ Nguyên thực ra không biết gì hết, nhưng cũng bị cuốn hút bởi bộ sách nên dụng tâm ghi nhớ, đêm về chép lại vào trong áo cà sa. Sau đó Độ Nguyên hoàn tục rồi đổi tên thành Lâm Viễn Đồ, những võ công chép được vào áo cà sa gọi là Tịch tà kiếm pháp, vốn chỉ là một phần trong Quỳ Hoa bảo điển, nhưng cũng nhờ nó mà họ Lâm trở thành một cao thủ nổi tiếng giang hồ.

Nguyên Mẫn Túc và Chu Tử Phong cùng nhau tu luyện Quỳ Hoa bảo điển, nhưng mâu thuẫn về việc triết giải sách đã tranh cãi, dẫn đến việc chia rẽ phái Hoa Sơn thành hai trường phái là Khí tông coi trọng việc rèn luyện nội công (Càn kinh?) (mà hậu duệ tiêu biểu sau này là Nhạc Bất Quần) và Kiếm tông lấy việc rèn luyện kiếm chiêu làm trung tâm (Khôn kinh?) (mà hậu duệ là Phong Bất Bình, Thành Bất Ưu...). Hậu quả của việc này là hai phái tranh chấp, dẫn đến chém giết lẫn nhau, chỉ có một mình Phong Thanh Dương vì không ham hố đấu đá nên thoát nạn. Kết cục của việc này là mười đại trưởng lão Nhật Nguyệt thần giáo kéo đến Hoa Sơn, cướp bộ sách Quỳ Hoa bảo điển về mình. Về sau, bộ sách truyền đến Đông Phương Bất Bại, là người duy nhất rèn luyện thành võ công này và trở thành thiên hạ đệ nhất cao thủ đương thời.

Nguyên tắc luyện Quỳ Hoa Bảo Điển trước hết phải “Dẫn đao tự cung”. Đây là loại võ công mang tính dương tà, khi luyện hơi nóng sẽ bốc lên ngùn ngụt vì vậy cần phải cắt đi bộ phận sinh dục để tránh khỏi tẩu hỏa nhập ma.

Quỳ Hoa Bảo Điển nổi tiếng với "Thân pháp quỷ mị", xuất chiêu cực nhanh cùng với tuyệt kĩ ám khí "Tú Hoa Châm" mà vô địch. Quỳ Hoa Bảo Điển không phải không có sơ hở nhưng vì thân pháp quá nhanh chỉ để lại tàn ảnh nên có tìm được yếu điểm cũng không dễ dàng đánh trúng.

Đông Phương Bất Bại là giáo chủ Nhật Nguyệt Thần Giáo, cũng là người duy nhất luyện thành Quỳ Hoa bảo điển và trở thành đệ nhất cao thủ trong Tiếu ngạo giang hồ. Phải "dẫn đao tự cung" để tu luyện, vì thế Đông Phương Bất Bại trở thành kẻ bán nam bán nữ. Đông Phương Bất Bại hàng ngày sống trong cung cấm như một hoàng hậu, ngồi thêu hoa, yêu một chàng trai là Dương Liên Đình, và đến chết vẫn cầu xin Nhậm Ngã Hành tha mạng cho tình nhân.

Đông Phương Bất Bại sau khi luyện thành Quỳ Hoa bảo điển thì võ công phi phàm, một mình đấu trên cơ với 4 đại cao thủ là Lệnh Hồ Xung, Nhậm Ngã Hành, Thượng Quan VânHướng Vấn Thiên, duy chỉ có Lệnh Hồ Xung học được Độc Cô Cửu Kiếm nên có thể nhìn ra sơ hở của Đông Phương Bất Bại nhưng vẫn chưa thể đánh trúng y. Chỉ đến khi Nhậm Doanh Doanh tấn công Dương Liên Đình khiến Đông Phương Bất Bại mất tập trung thì y mới bị đánh bại. 

Sau khi Đông Phương Bất Bại chết, Nhậm Ngã Hành đã tiết lộ chính ông ta đã gài bẫy Đông Phương Bất Bại bằng bộ sách này, và đã phá hủy cuốn sách, và Quỳ Hoa bảo điển hoàn toàn thất truyền trên đời.

Quy Tức CôngSửa đổi

Xuất hiện trong truyện Thiên Long Bát Bộ, Quy Tức Công là một loại kì thuật trong thiên hạ, dùng để giả chết đánh lừa đối phương. Tuy nhiên nó còn có thể che giấu hơi thở, ẩn giấu tu vi võ công, so với Quỳ Hoa Bảo Điển nó còn mạnh mẽ hơn về mặt ẩn giấu tu vi võ công. Trong trận đánh sống còn, Lý Thu Thủy đã dùng Quy Tức Công giả chết đánh lừa Thiên Sơn Đồng Lão.

Song Thủ Hỗ BácSửa đổi

Còn được gọi là Song Thủ Hỗ Bác Thuật, đây là một môn tuyệt kỹ có thể làm cho 1 người đồng thời thi triển hai loại võ công khác nhau bằng 2 tay, làm cho đối thủ cảm thấy giống như đang đối đầu với 2 người. Theo truyện Anh hùng xạ điêu, Chu Bá Thông ở trong động trên đảo Ðào Hoa mười lăm năm một mình không có ai để chiết chiêu, mới nghĩ ra lối Song Thủ Hỗ Bác này để chơi đùa lấy tay trái đánh nhau với tay phải, tay trái vẽ hình vuông, tay phải vẽ hình tròn, hai tay có thể dùng vào hai việc.

Chu Bá Thông truyền cho Quách Tĩnh lối Song Thủ Hỗ Bác để chơi trò bốn người đánh nhau: Tay trái Chu Bá Thông là một người, tay phải Chu Bá Thông là một người, hai tay Quách Tĩnh cũng là hai người, bốn người này không ai giúp ai, chia thành bốn phe đánh nhau một trận.

Theo Chu Bá Thông, lúc trên Đào hoa đảo võ công của y vẫn còn thua kém Hoàng Dược Sư, Hồng Thất Công, Âu Dương Phong một bậc, nhưng đã luyện thành tuyệt kỹ Song Thủ Hỗ Bác, phân thân giáp kích, lấy hai đánh một thì thiên hạ không còn ai thắng được y nữa.

Môn võ công này còn có điểm đặc biệt là người luyện cần phải có tâm tư thật đơn giản, càng đơn giản càng dễ luyện, như Chu Bá Thông và Tiểu Long Nữ mới học là thành, Quách Tĩnh cũng học được một phần. Còn những người càng tâm cơ, mưu trí thì càng khó học, điển hình như Hoàng Dung thông minh lanh lợi nhưng tập luyện môn Song Thủ Hỗ Bác mãi mà chẳng thành.

Sư Tử HốngSửa đổi

Xuất hiện trong truyện Ỷ Thiên Đồ Long ký, Sư Tử Hống được Tạ Tốn sử dụng, đây là loại võ công sử dụng nội công và khí công. Gầm 1 tiếng làm chấn động khắp trời, là một trong 72 tuyệt kĩ của Thiếu Lâm vốn được dân tộc Miêu, sống ở Tây Tạng sáng tạo ra. Môn võ công này sử dụng âm thanh phát ra, được khuếch đại bằng khí công tạo ra sóng hạ âm, sóng hạ âm tác động với sóng điện não đồng thời tác động đến nhịp đập của tim. Nếu bị ảnh hưởng của sóng này trong thời gian ngắn nó sẽ gây ra hiện tượng chóng mặt, đau tim, nếu để lâu dẫn đến thiệt mạng.

Trong phim được mô tả kèm theo hiệu ứng nổ đối với đồ vật xung quanh và một luồng khí lực cực mạnh thổi về phía đối thủ. Khi hét lên âm thanh gầm gừ như tiếng sư tử.

Để luyện được loại võ công này người luyện tập phải có một khả năng hét mạnh mẽ, có thể rèn luyện mỗi ngày, cần một không gian rộng lớn và một sức khỏe tốt. Người luyện Sư Tử Hống phải hít hơi lớn vào buồng phổi sau đó đẩy ra bằng tiếng thét dữ dội.

Tam Hoa Tụ Đỉnh ChưởngSửa đổi

Tam Hoa Tụ Đỉnh Chưởng là chưởng pháp tuyệt đỉnh của Toàn Chân Giáo. Tam Hoa là tinh khí thần, đem tinh khí thần ngưng tụ làm một chưởng, một chưởng nổ ra, chưởng lực dâng trào, mà ba tầng trùng điệp, một chưởng ba lực biến ảo không giống, lợi hại vô cùng.

Tẩy Tủy KinhSửa đổi

Tẩy Tủy Kinh cùng với Dịch Cân Kinh là một trong 2 môn công pháp trấn phái của Thiếu Lâm Tự do Thiếu Lâm Tông Sư Đạt Ma sáng chế ra nhưng đã bị thất truyền trong thời chiến loạn.

Tác dụng: có thể giúp tẩy tủy phạt cốt, được dùng để chỉ dẫn cách vận khí để trị nội thương.

Thái Cực QuyềnSửa đổi

Trong truyện Ỷ Thiên Đồ Long ký, Thái cực quyền do Trương Tam Phong, người sáng lập Võ Đang sáng tạo, gồm 16 chiêu:

  • Lãm Tước Vĩ, chân phải thực, chân trái hư, vận dụng yếu quyết chữ "tễ", nương theo đối phương, chưởng phải đã nắm được cổ tay trái của địch, vận kình đẩy ngang ra.
  • Đơn Tiên
  • Đề Thủ Thượng Thế
  • Bạch Hạc Lượng Xí
  • Lâu Tất Câu Bộ
  • Thủ Huy Tì Bà, tay phải lỏng ra, tay trái thu vào, như nước chảy mây trôi, cực kỳ nhàn nhã.
  • Tiến Bộ Ban Lan Truy
  • Như Phong Tự Bế
  • Thập Tự Thủ
  • Bão Hổ Quy Sơn
  • Cao Thám Mã
  • Dã Mã Phân Tông
  • Song Phong Quán Nhĩ
  • Vân Thủ, tay trái cao, tay phải thấp thành một vòng tròn, liên miên bất tuyệt, như một áng mây trắng bay ngang bầu trời, vòng tròn này chưa xong, vòng kế tiếp đã bắt đầu.

Quyết khiếu của môn quyền pháp này là mười sáu chữ "hư linh đính kình, hàm hung bạt bối, túng yêu thùy đồn, trầm kiên trụy trửu". Thuần lấy ý mà đi quyền, tối kỵ dùng sức, hình thần hợp nhất, đó chính là yếu chỉ của quyền pháp.

Theo Trương Tam Phong, quyền kình của môn này chủ yếu là tưởng lỏng nhưng không phải lỏng, sắp bung ra nhưng chưa bung ra, kình dứt rồi mà ý chưa dứt. Dùng ý chứ không dùng sức, cốt sao thái cực xoay vòng, không được để cho đứt đoạn. Mỗi chiêu mỗi thức, cần phải liền lạc với nhau, như sông dài biển rộng, chảy hoài không hết.

Thái Tổ Trường QuyềnSửa đổi

Tương truyền bộ Thái Tổ Trường Quyền do Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn sáng tạo ra, cùng với bộ Thái Tổ Bổng đánh khắp thiên hạ không có đối thủ, sau lập ra được nhà Tống. Bộ quyền pháp này được lưu truyền rộng rãi trong dân gian, người học võ ai cũng biết.

Trong truyện Thiên Long Bát Bộ, Kiều Phong lúc ở Tụ Hiền trang đã dùng bộ quyền pháp để đấu với anh hùng thiên hạ. Bộ quyền pháp này tuy chiêu thức đơn giản nhưng dưới tay Kiều Phong đánh ra thì oai lực vô cùng, đánh lui nhiều vị cao thủ. Bộ quyền pháp này do Huyền Khổ đại sư chùa Thiếu Lâm truyền cho Kiều Phong.

Thánh Hoả Lệnh Thần CôngSửa đổi

Xuất hiện trong truyện Ỷ Thiên Đồ Long ký, Thánh Hỏa Lệnh Thần Công (bí kíp nội công của Minh Giáo Tây Vực): giáo chúng Minh Giáo đời đời tôn thờ Thánh Hỏa Lệnh, ai có được Thánh Hoả Lệnh sẽ được phong làm giáo chủ, 6 tấm Thánh Hỏa Lệnh bắt nguồn từ Ba Tư, do một đại cao nhân tuyệt thế dùng bạch kim, thép, kim cương, và đá mặt trăng luyện thành, cứng rắn vô cùng, tung lên dường như có ngọn lửa bao quanh, màu sắc biến ảo. Trên đó khắc những tinh yếu võ học để tu luyện nội công của ông. Những tâm pháp khắc trên Thánh Hỏa Lệnh đồng thời cũng là phương pháp để luyện thành tầng thứ 7 của Càn Khôn Đại Na Di, chính là cảnh giới chí cao vô thượng trong võ học của Minh Giáo.

Sau khi các sứ giả Minh giáo Ba Tư xuất hiện, Trương Vô Kỵ nhờ có Tiểu Chiêu dịch chữ Ba Tư trên Thánh hỏa lệnh nên chàng đã học thêm được nhiều loại võ công Ba Tư trong Thánh hỏa lệnh, giúp Trương Vô Kỵ thắng được các sứ giả Minh giáo Ba Tư.

Phương pháp luyện Thánh Hỏa Lệnh Thần Công khá giống Càn Khôn Đại Na Di (vốn Càn Khôn Đại Na Di là dựa vào môn này mà ra). Cũng nhờ nó mà Trương Vô Kỵ đã tu luyện đến tầng thứ 7 của Càn Khôn Đại Na Di.

Thần Chiếu CôngSửa đổi

Là môn võ công thượng thừa của Địch Vân trong tác phẩm Liên thành quyết, luyện thành môn võ công này khi thi triển nếu chạm vào ai người đó sẽ mất mạng. Nguồn gốc của môn võ công này là của Hắc Cốt Thiết Ngạc - Mai Niệm Sinh, về sau tình cờ trao cuốn Thần Chiếu Kinh cho Đinh Điển và được truyền lại cho Địch Vân.

Thần Hành Bách BiếnSửa đổi

Đây là một môn khinh công cao cường. Môn võ công này xuất hiện trong Lộc đỉnh ký cùng với Bích Huyết Kiếm do Mộc Tang đạo nhân của Thiết Kiếm Môn sáng tạo. Về sau lại truyền cho A Cửu-Cửu Nạn, Cửu Nạn lại truyền cho Vi Tiểu Bảo.

Thất Thương QuyềnSửa đổi

Thất thương quyền là tuyệt kĩ Phái Không Động. Tổng quyết của Thất Thương Quyền như là sau:

Khí chất ngũ hành, Âm dương điều hợp, Hỏng phế, tổn tâm, Ruột gan tan nát, Tạng phủ rời xa, Tinh thần vuột mất, Ý chí bàng hoàng, Lòng dạ hoảng hốt, Lộn ngược tam tiêu, Hồn phách bay vụt.

Theo Kim Dung, chiêu này đánh vào thân cây trông thì không thấy gì, song một lát sau lá cây héo dần, vì bên trong các thớ gỗ đã bị rã rời, người bình thường chỉ đẩy nhẹ thôi cũng ngã.

Đặc điểm của Thất Thương Quyền là bên trong một thế quyền bao hàm bẩy loại kình lực khác nhau không loại nào giống loại nào.Quyền lực trong cương có nhu, trong nhu có cương, thu vào nhả ra, lúc mạnh lúc yếu, huyễn ảo trăm chiều, địch thủ khó mà đề phòng chống đỡ. Tuy nhiên môn quyền phổ này đòi hỏi người khi bắt đầu luyện đã phải đạt một trình độ nội công rất cao có thể dẫn khí đến mọi huyệt đạo, thu phát tuỳ tâm tuỳ ý. Nếu nội công chưa đủ khi luyện sẽ hại đến chính bản thân người luyện. Luyện Thất Thương Quyền cao hơn một mức, chính cơ thể nội tạng mình lại bị tổn hại thêm một mức. Một lần luyện bảy lần tổn thương.

Trong Ỷ thiên đồ long ký, Môn quyền thuật này được Tạ Tốn làm nổi danh sau khi ăn cắp và học tập. Nhưng Tạ Tốn vì nóng lòng trả thù đã vội vàng luyện Thất Thương Quyền nên tâm mạch bị tổn thương, thỉnh thoảng sẽ nổi điên không nhận ra người quen. Vì vậy ngay phái Không Động cũng rất ít người dám luyện, trong phái Không Động duy chỉ có tổ sư là Mộc Linh Tử luyện thành mà danh trấn thiên hạ. Trương Vô Kỵ do cơ duyên tu luyện thành Cửu Dương Thần Công nên có một thân công lực thâm hậu, vận dụng uy lực Thất Thương Quyền đạt tới mức cảnh giới cực kỳ cao thâm.

Thấu Cốt Đả Huyệt PhápSửa đổi

Theo truyện Anh hùng xạ điêu, Thấu Cốt Đả Huyệt Pháp là môn công phu điểm huyệt rất âm độc. Ngoài Tây Độc Âu Dương PhongĐông Tà Hoàng Dược Sư thì thiên hạ không ai giải huyệt được.

Thê Vân TungSửa đổi

Theo truyện Ỷ Thiên Đồ Long ký, Thê Vân Tung là khinh công trứ danh của phái Võ Đang. Khi sử dụng thân thể nhảy vọt lên như chim hạc bay, linh hoạt dị thường, người đời gọi là "Nhất Hạc Xung Thiên".

Trong truyện Ỷ Thiên Đồ Long ký, Trương Thúy Sơn đã từng sử môn này. Chân phải chàng đạp vào vách núi một cái, mượn sức, vọt lên đến hai trượng (khoảng 6,66m). Trương Vô Kỵ cũng từng sử môn khinh công này trên Quang Minh Đỉnh.

Thiên Cang Bắc Đẩu TrậnSửa đổi

Theo truyện Anh hùng xạ điêu, Thiên Cang Bắc Đẩu Trận là trận pháp bậc nhất của phái Toàn Chân, gồm bảy người thi triển phối hợp theo hình thể chòm sao Bắc Đẩu.

Trung Thần Thông Vương Trùng Dương vì trận pháp này tốn rất nhiều tâm huyết, sức yếu lấy nó để liên thủ hợp kích thì cũng hóa thành mạnh, có thể dùng trong chiến trận. Lúc nghênh địch chỉ đánh một tay, một tay đặt lên vai người bên cạnh. Công lực của bảy người hợp lại làm một. Mấy người xông vào tấn công thì người bị tấn công trước mặt không cần ra sức đỡ gạt, mà do đồng đạo hai bên phản công, như một người gồm được cả võ công của mấy người, quả thật oai lực không sao chống được.

Trong Toàn Chân Thất Tử thì Mã Ngọc ở vị trí sao Thiên Khu, Đàm Xử Đoan ở sao Thiên Toàn, Lưu Xử Huyền ở sao Thiên Cơ, Khưu Xử Cơ ở sao Thiên Quyền, bốn người hợp thành lòng gáo.

Vương Xử Nhất vị trí sao Ngọc Hành, Hách Đại Thông vị trí sao Khai Dương, Tôn Bất Nhị vị trí sao Dao Quang, ba người hợp thành chuôi gáo.

Trong bảy sao Bắc Đẩu thì sao Thiên Quyền có độ sáng thấp nhất, lại là chỗ lòng gáo nối với chuôi gáo, là vị trí xung yếu, vì vậy do Khưu Xử Cơ võ công cao cường nhất trong thất tử trấn giữ.

Trong chuôi gáo thì sao Ngọc Hành làm chủ, nên lấy Vương Xử Nhất võ công đứng thứ hai đảm nhận.

Nhờ vào Trận Thiên Cang Bắc Đẩu, Toàn Chân Thất Tử đấu ngang sức với Đông Tà Hoàng Dược Sư.

Thiên Giám Thần CôngSửa đổi

Theo truyện Thiên Long Bát Bộ, Thiên Giám Thần Công là một trong những môn võ học tối thượng của phái Tiêu Dao, là môn công phu tuyệt học đắc ý mà Lý Thu Thuỷ đã luyện được, có thể sánh ngang với Bát Hoang Lục Hợp Duy Ngã Độc Tôn Công của Thiên Sơn Đồng Lão.

Thiên Lý Truyền ÂmSửa đổi

Thiên Lý Truyền Âm Thuật là một loại âm công có thể đứng cách xa vài dặm mà nói cho đối phương nghe như gần trong gang tấc. Công phu này rất nổi tiếng trong giang hồ, nhưng chỉ có những người có nội lực cao thâm mới có thể sử dụng. Tuy gọi là 'Thiên Lý Truyền Âm' nhưng không phải là nghìn dặm nghe thấy được, song nếu hoàn toàn không có chướng ngại vật lớn, như núi non ngăn cách, thì người công phu cao thâm có thể truyền âm đi xa vài dặm, hơn nữa, nội công càng thâm hậu, thì âm thanh nghe càng nhu hòa.

Trong tuyện Thần điêu hiệp lữ, Anh Cô trên đỉnh Hoa Sơn giết Cầu Thiên Nhận không được, đuổi theo Chu Bá Thông cũng không xong, từ đó lang bạt giang hồ, cuối cùng định cư ở đầm Hắc Long. Nhất Đăng Đại Sư tới đây xin cầu kiến trong bảy ngày bảy đêm, ngày nào cũng dùng thuật 'Thiên Lý Truyền Âm' cầu kiến, nhưng Anh Cô nhớ mối hận mấy chục năm trước Nhất Đăng không cứu con bà, nên không muốn gặp đại sư.

Thiên Sơn Chiết Mai ThủSửa đổi

Theo Thiên Long Bát Bộ, Thiên Sơn Chiết Mai Thủ là một môn võ công của phái Tiêu Dao. Thiên Sơn Chiết Mai Thủ có ba đường chưởng pháp và ba lộ cầm nã thủ, tuy chỉ có sáu đường nhưng bao hàm tinh nghĩa của phái Tiêu Dao, trong chưởng pháp và cầm nã thủ có ẩn giấu cả kiếm pháp, đao pháp, tiên pháp, thương pháp, trảo pháp, thủ pháp các tuyệt chiêu của mọi loại binh khí, biến hóa rất phức tạp.

Thiên Sơn Lục Dương ChưởngSửa đổi

Theo Thiên Long Bát Bộ, Thiên Sơn Lục Dương Chưởng là một môn võ công của phái Tiêu Dao. Môn võ công này gồm 6 thức, trong truyện đã đề cập đến 3 thức:

  • Dương ca thiên quân (陽歌天鈞)
  • Dương xuân bạch tuyết (陽春白雪): lấy từ tên của một trong thập đại danh tác cổ cầm Trung Quốc. Đây nổi tiếng là một cầm phổ khó chơi. Dương Xuân Bạch Tuyết dùng tiếng đàn miêu tả cảnh mùa xuân sang, tuyết đang tan ra. Ở thời điểm giao mùa vẫn còn cái hơi lạnh của mùa đông nhưng đã có cái ấm áp của mùa xuân. Tiếng đàn trầm bổng khoan hòa, nhẹ nhàng như nước chảy bên tai, làm người nghe quên cả trời đất, cảm thấy trong lòng nhẹ nhàng sảng khoái.
  • Dương Quan tam điệp (陽關三疊): Dương Quan là một cửa ải ở biên giới tỉnh Thiểm Tây. Đường thi có bài "Tống Nguyên Nhị sứ An Tây" của Vương Duy là một bài thơ tiễn biệt rất đặc sắc. Vua Đường Huyền Tông lấy vào Nhạc phủ phổ thành một bài hát gọi là "Dương Quan tam điệp" (ba nhịp Dương Quan) dùng để hát khi tiễn biệt nhau.

Thiên Thù Vạn Độc ThủSửa đổi

Thiên Thù Vạn Độc Thủ xuất hiện trong tiểu thuyết Ỷ thiên Đồ long ký.

Thiên Thù Vạn Độc Thủ là công phu của Ân Ly, con gái của Ân Dã Vương, và cháu nội của Bạch Mi Ưng Vương Ân Thiên Chính.

Luyện môn Thiên Thù Vạn Độc Thủ từ hai chục con nhện hoa trở đi thì chất độc trong cơ thể tích tụ đã nhiều, dung mạo bắt đầu biến đổi. Đến khi luyện xong một nghìn con, mặt mũi sẽ xấu xí vô cùng. Cứ mỗi con nhện hoa thân mình từ hoa biến thành đen, từ đen biến thành trắng thì hết chất độc mà chết, bao nhiêu chất độc trong người con nhện truyền cả vào ngón tay. Ít nhất phải luyện khoảng một trăm con nhện hoa mới là tiểu thành. Còn công phu muốn cho sâu thì phải một nghìn, hai nghìn con.

Thiết Chưởng Thần CôngSửa đổi

Theo truyện Anh hùng xạ điêu, Thiết Chưởng Thần Công là công phu của Thiết Chưởng Thủy Thượng Phiêu Cừu Thiên Nhẫn bang chủ Thiết Chưởng Bang ở Tương Giang.

Thiết Chưởng Thần Công gồm mười ba chiêu như Âm Dương Quy Nhất: Chưởng trái đập vào chưởng phải một cái, chưởng phải chênh chếch xô ra đánh thẳng vào địch nhân.

Thiết Chưởng Thần Công đúng như tên gọi mỗi đòn đánh ra đều cứng rắn như thép. Cừu Thiên Nhận mỗi khi luyện đều dùng sắt đá để thử chưởng, chưởng lực sắc bén không gì nỡ nổi. Kể cả Hoàng Dung khi mang Nhuyễn Vị Giáp của Đào Hoa đảo phòng thân mà cũng bị Cừu Thiên Nhận đánh cho đến sắp mất mạng.

Thiết Đầu CôngSửa đổi

Thiết Đầu Công là một trong 72 tuyệt kỹ Thiếu Lâm. Đây là môn công phu luyện tập cho đầu cứng chắc như sắt có thể đập vỡ gạch đá. Trong truyện Lộc Đỉnh ký có đề cập đến.

Để luyện tập tuyệt chiêu kungfu này, đầu tiên các võ tăng Thiếu Lâm phải tập trồng cây chuối – đi đầu xuống đất. Mới đầu, người tập có thể dựa vào tường để chống đầu xuống đất và giữ cho thân người thẳng, dần dần khi đã ổn định sẽ không dựa vào tường mà tự điều chỉnh thăng bằng. Nhìn động tác tưởng chừng đơn giản, nhưng khi toàn bộ trọng lượng cơ thể dồn hết xuống đỉnh đầu, máu dồn xuống não mới thấy được sự gian nan, vất vả của các võ tăng. Do Thiết đầu công là tuyệt kỹ võ thuật đòi hỏi luyện tập rất vất vả và nguy hiểm nên người tập trước hết phải tọa thiền, loại bỏ mọi tạp niệm, giữ cho tâm tĩnh, khí thông lục mạch.

Sau mỗi lần tập trồng cây chuối, người tập phải xoay khớp cổ, luyện cho cổ dẻo dai bởi cổ đóng vai trò quan trọng đối với kình lực phát ra từ đầu. Những lần đầu tiên, những phút đầu tiên bao giờ cũng là thời kỳ khó khăn nhất với người tập Thiết đầu công.

Nếu vượt qua được thử thách đó, các võ tăng mới có thể vào tiếp vòng sau, đó là luyện tập đập đầu. Những nhà tu hành này sử dụng gậy gỗ, gậy tre hoặc gạch tự đập vào đầu. Trước hết đập nhẹ, sau tăng dần cả cường độ và sức mạnh để cho đầu thích nghi dần tới khi nào đập vỡ gạch, gẫy gậy thì chuyển sang luyện đâm đầu.

Những bao cát được treo lên, võ tăng thi nhau húc đầu vào bao cát. Đó chính là bài tập Kim Cương đánh chuông. Từ những động tác đơn giản đập đầu bao cát này, võ tăng sẽ luyện cho đầu có khả năng rắn như thép, khi xuất chiêu thì đá phải vỡ, sắt phải mềm.

Thiết Sa Chưởng (Chưởng Sắt)Sửa đổi

Thiết Sa Chưởng là một trong 72 tuyệt kỹ Thiếu Lâm Tự. Thiết Sa Chưởng là ngạnh công, tập hợp tất cả các sở trường chém, đâm quật, đẩy của tán thủ, bốn tuyệt chiêu có uy lực mạnh vô cùng, ra đòn như sấm sét. Trong truyện Hiệp khách hành, Triển Phi - một hương chủ của Trường Lạc Bang đã dùng Thiết Sa Chưởng ám sát Thạch Phá Thiên để trả thù nhưng bất thành.

Thiết Tụ CôngSửa đổi

Xuất hiện trong truyện Hiệp khách hành, Thiết Tụ Công là một môn võ công của Tạ Yên Khách, quyền cước chưởng pháp mãnh liệt phi thường.

Thôi Tâm ChưởngSửa đổi

Theo truyện Anh hùng xạ điêu, Thôi Tâm Chưởng là một trong nhiều môn võ công được ghi lại trong Cửu Âm Chân Kinh. Nổi danh nhất với võ công này là Hắc Phong Song Sát, Đồng Thi Trần Huyền Phong và Thiết Thi Mai Siêu Phong (2 trong 6 đệ tử ban đầu của Đông Tà Hoàng Dược Sư), đây là một môn chưởng pháp vô cùng âm độc dùng để đả thương nội tạng của đối thủ. Đồng thời môn võ công này cũng xuất hiện trong Tiếu ngạo giang hồ với tư cách là võ công của phái Thanh Thành.

Thuỷ Thượng PhiêuSửa đổi

Được nhắc tới trong truyện Anh hùng xạ điêuThần điêu đại hiệp, Thủy Thượng Phiêu là võ học khinh công của Thiết Chưởng Bang, khi luyện thành đi lại trên nước như trên mặt đất. Cầu Thiên Nhận nhờ vào môn công phu này nên được đặt cho biệt danh Thiết Chưởng Thuỷ Thượng Phiêu. Năm xưa Cầu Thiên Nhận đấu với Chu Bá Thông, hai người bám theo nhau hàng vạn dặm, từ Trung Nguyên đến Tây Vực, Lão Ngoan đồng võ công cao siêu như thế mà cũng không theo kịp.

Thượng Thiên ThêSửa đổi

Thượng Thiên Thê (nghĩa là thang lên trời) là môn khinh công dùng hai chân leo lên mặt phẳng thẳng đứng xuất hiện trong truyện Thần điêu đại hiệp.

Quách Tĩnh hồi nhỏ ở Mông Cổ được Mã Ngọc phái Toàn Chân truyền thụ cho bộ môn khinh công này. Về sau, khi Quách Tĩnh một mình bị quân Mông Cổ vây hãm ngoài thành Tương Dương tưởng như không có cách nào thoát thân đã sử dụng công phu này để leo lên thành, thể hiện nội lực và võ công kinh thế hãi tục khiến mấy chục vạn quân trong và ngoài thành trố mắt kinh ngạc.

Tiên Thiên CôngSửa đổi

Xuất hiện trong truyện Anh hùng xạ điêuThần điêu hiệp lữ, Tiên Thiên Công là võ công tâm đắc nhất của Vương Trùng Dương, tổ sư Toàn Chân Giáo. Đây là võ học đạo gia chính tông, có tác dụng đả thông kỳ kinh bát mạch, khi tu luyện thành sẽ có một nội lực cao thâm còn vượt trội hơn so với Cửu Âm Chân Kinh. Môn nội công này không có giới hạn, càng tu luyện thì nội lực càng cao thâm, ngoài ra nó còn có tác dụng chữa thương rất hiệu quả.

Theo truyện Anh hùng xạ điêu, trong lần luận kiếm ở Hoa Sơn, Trung Thần Thông Trùng Dương Chân Nhân rất khâm phục Nhất Dương Chỉ của Đoàn Hoàng Gia, nên khi bệnh cũ lại phát, Vương Trùng Dương nghĩ mình chắc không còn sống lâu nên tới Đại Lý, chủ yếu là để truyền lại công phu lợi hại nhất của ông là Tiên Thiên Công cho Nam Đế Đoàn Hoàng Gia.

Như thế, Đoàn Hoàng gia với thần công Nhất Dương Chỉ của hoàng gia và Tiên Thiên Công Trùng Dương Chân Nhân có thể khắc chế Tây Độc Âu Dương Phong, không sợ y hoành hành tác quái nữa.

Chỉ vì Đông Tà, Tây Độc, Nam Đế, Bắc CáiTrung Thần Thông, năm người danh tiếng ngang nhau, nếu nói là tới truyền thụ công phu thì không khỏi có chỗ bất kính với Đoàn Hoàng gia, nên trước tiên xin Đoàn Hoàng gia truyền thụ Nhất Dương Chỉ rồi mới đem Tiên Thiên Công ra trao đổi.

Đoàn Hoàng gia hiểu dụng ý của y, trong lòng rất kính trọng, lập tức chuyên tâm tu luyện Tiên Thiên Công.

Một số nghi vấn cho rằng Tử Hà Thần Công của Hoa Sơn phái là do bản thiếu từ Tiên Thiên Công biến hóa mà thành.

Tiêu Dao DuSửa đổi

Theo truyện Anh hùng xạ điêu, ba mươi sáu chiêu quyền pháp Tiêu Dao Du là công phu Bắc Cái Hồng Thất Công luyện thời trẻ.

Tiểu Vô Tướng CôngSửa đổi

Tiểu Vô Tướng Công là môn võ công của phái Tiêu Dao trong truyện Thiên long bát bộ. "Tiểu Vô Tướng Công" nghĩa là "công phu không có hình hài". Nếu luyện môn công phu này, chỉ cần biết gia số chiêu thức thì có thể dựa nào nội công của Tiểu Vô Tướng Công mà bắt chước tuyệt học của người khác. Tiểu Vô Tướng Công mặc dù là Đạo giáo võ học nhưng có đặc điểm là dựa vào thuyết Vô Sắc Vô Tướng của Phật giáo. Ở phương diện này biểu hiện rõ ràng nhất là Cưu Ma Trí dựa vào Tiểu Vô Tướng Công bắt chước 72 tuyệt kỹ Thiếu Lâm đánh lại chính các nhà sư Thiếu Lâm Tự.

Toàn Chân Tâm PhápSửa đổi

Toàn Chân tâm pháp là tâm pháp Đạo gia huyền môn chính tông, được diễn hóa từ Tiên Thiên Công nhưng không khắc nghiệt, trái lại rất dễ tu luyện, có tác dụng dưỡng sinh. Tu luyện lúc đầu thì chậm chạp, nhưng càng về sau thì càng cao cường, vì là huyền môn chính tông nên không sợ tẩu hỏa nhập ma. Cách tu luyện theo lời Mã Ngọc chỉ các phép thổ nạp (hô hấp) kết hợp với các động tác đi, đứng, nằm, ngồi kết hợp với khẩu quyết độc môn của phái Toàn Chân để tạo ra nội công lưu chuyển trong cơ thể. Người tu luyện càng loại bỏ tạp niệm thì tiến bộ càng nhanh, những người chân chất như Quách Tĩnh không có tạp niệm nên tiến bộ thấy rõ. Triệu Chí Kính truyền thụ cho Dương Quá chỉ nói khẩu quyết nhưng không chỉ cách hô hấp và các động tác nên Dương Quá không học được môn nội công này.

Toàn Phong Tảo Diệp Thoái PhápSửa đổi

Theo truyện Anh hùng xạ điêu, Tảo Diệp Thoái Pháp của đảo Đào Hoa, bước chân mau lẹ, đặt xuống rất chuẩn.

Dùng Tảo Diệp Thoái Pháp đá tắt đèn dầu, chỉ đá tắt đầu ngọn lửa, không những không đá đổ đạp vỡ chén dầu mà ngay cả dầu trong chén cũng không đổ ra một giọt. Lục Thừa Phong luyện công phu này dù hai chân đã què nhiều năm cũng có thể đứng lên đi lại được.

Truyền Âm Sưu Hồn Đại PhápSửa đổi

Truyền âm Sưu Hồn Đại Pháp là một loại võ công xuất hiện trong truyện Thiên long bát bộ. Đây là một loại võ công thông qua nội lực khống chế thanh âm, có thể truyền âm xa ngàn dặm, tương tự như Thiên Lý Truyền Âm. Lý Thu Thủy từng sử dụng loại võ công này để làm phân tâm Thiên Sơn Đồng Lão, ngăn cản bà luyện thành Bát Hoang Lục Hợp Duy Ngã Độc Tôn Công.

Trường Quyền Thập Đoạn CầmSửa đổi

Theo truyện Bích huyết kiếm, Bát Thủ Tiên Viên Mục Nhân Thanh dạy môn Trường Quyền Thập Đoạn Cầm của phái Hoa Sơn cho Viên Thừa Chí.

Tử Hà Thần CôngSửa đổi

Một môn võ học xuất hiện trong truyện Tiếu ngạo giang hồ, là bí kíp võ công tuyệt mật không truyền cho đệ tử thông thường của phái Hoa Sơn. Tử hà thần công là bộ sách luyện nội công và trị liệu thân thể, đồng thời giúp người luyện cải lão hoàn đồng. Khi vận nội công Tử Hà, trên mặt người dùng sẽ xuất hiện khí màu tím.

Tứ Tượng ChưởngSửa đổi

Trong truyện Ỷ Thiên Đồ Long ký, Tứ Tượng Chưởng của phái Nga Mi, trong tròn có vuông, âm dương tương thành.

Bên ngoài tròn là dương, bên trong vuông là âm, tròn mà động là trời, vuông mà tĩnh là đất, thiên địa âm dương, hóa phức tạp thành đơn giản, lấy một địch nhiều, vuông tròn động tĩnh.

Ưng Xà Sinh Tử BácSửa đổi

Ưng Xà Sinh Tử Bác, trong Ỷ Thiên Đồ Long ký, là công phu của Hoa Sơn gồm bảy mươi hai lộ, hùng mạnh của chim, thế linh động của rắn.

Vi Đà ChưởngSửa đổi

Theo truyện Thiên Long Bát Bộ, Vi Đà Chưởng là võ công căn bản của phái Thiếu Lâm. Đệ tử vừa bái sư nhập môn, bài đầu tiên học là La Hán Quyền, bài thứ hai là Vi Đà Chưởng. Bát Nhã chưởng là chưởng pháp tối cao, từ Vi Đà Chưởng học lên đến Bát Nhã chưởng, theo tuần tự, thông thường cũng phải mất ba bốn chục năm công phu. Hư Trúc đã từng dùng chưởng pháp này cùng với nội công của mình chống lại Cưu Ma Trí.

Viêm Viêm CôngSửa đổi

Xuất hiện trong truyện Hiệp khách hành, Viêm Viêm Công là một môn võ công của Tạ Yên Khách, chuyên dùng luyện nội công cao thâm chí dương cương mãnh, đây là công phu duy nhất Tạ Yên Khách truyền cho Thạch Phá Thiên, nhằm làm cho nội công chí hàn chí âm trong người cậu xung đột với nội công chí dương của Viêm Viêm Công mà tử vong.

Võ Đang Cửu Dương CôngSửa đổi

Xuất hiện trong truyện Ỷ Thiên Đồ Long ký, Võ Đang Cửu Dương Công là môn nội công biến hóa từ Cửu Dương Thần Công, do Trương Tam Phong sáng lập nên. Đây là là trấn phái tuyệt học của phái Võ Đang.

Năm xưa Giác Viễn Đại Sư qua đời đã đọc lại Cửu Dương Thần Công, khi đó Trương Quân Bảo (Trương Tam Phong, đệ tử của Giác Viễn đại sư), Vô Sắc Thiền Sư và Quách Tương (người lập nên phái Nga Mi) mỗi người đã học một phần của nó. Trong đó Trương Quân Bảo luyện được nội công tối thuần, Vô Sắc Thiền Sư luyện được nội công tối cao, Quách Tương luyện được nội công tối bác. Nhờ vậy mà Trương Quân Bảo đã có được nội lực cao thâm, võ công cái thế, sau này uy chấn thiên hạ, lập nên môn Phái Võ Đang được muôn người kính nể.

Võ Đang Trường QuyềnSửa đổi

Theo truyện Ỷ Thiên Đồ Long ký, Võ Đang Trường Quyền là công phu nhập môn của Võ Đang, quyền chiêu không có gì ảo diệu, nhưng những chiêu thức của nó cho phép một người nhỏ con hơn, yếu hơn có thể đánh ngã người to lớn, hung dữ hơn theo các nguyên lý như "tá lực đả lực" (mượn sức đánh sức), "tứ lạng bát thiên cân" (bốn lạng đẩy ngàn cân) v.v.

Năm xưa khi Trương Tam Phong còn ở Thiếu Lâm, nghe Giác Viễn đại sư đã từng nói tới: "dĩ kỷ tòng nhân, hậu phát chế nhân" (ta đi theo người, ra sau mà chế ngự được địch), Trương Tam Phong sau này lấy câu đó đem vào quyền pháp của phái mình.

Xà Hành Ly PhiênSửa đổi

Theo Anh hùng xạ điêu, Xà Hành Ly Phiên là một trong nhiều môn khinh công được ghi lại trong Cửu Âm Chân Kinh, đây là một môn thân pháp dùng để tránh né võ công. Môn võ công này dựa theo cách di chuyển của loài rắn mà sáng tạo ra, tuy nhiên khi dùng bộ thân pháp này phải lăn lộn vòng vòng trên mặt đất rất ảnh hưởng tới hình tượng nhưng vô cùng thực dụng.

Ỷ Thiên Đồ Long CôngSửa đổi

Theo truyện Ỷ Thiên Đồ Long ký, Ỷ Thiên Đồ Long Công là công phu do Trương Tam Phong sáng tạo ra, bao hàm âm dương cương nhu. Đây là một môn võ công cổ kim hiếm có, xếp vào hàng tuyệt đỉnh của Võ Đang.

Yếu quyết của nó đem võ học lồng vào thư pháp: Một nét ngang, một nét dọc, một cái chấm, một cái phảy, đều là toàn do dung hợp những gì tinh diệu nhất của võ công, bên trong bao hàm cương nhu, âm dương, tinh thần khí thế, phải nói là đạt đến cao điểm công phu của phái Võ Đang. Môn này tổng cộng hai mươi bốn chữ:

Võ lâm chí tôn

Bảo đao Đồ Long

Hiệu lệnh thiên hạ

Mạc cảm bất tòng

Ỷ Thiên bất xuất

Thùy dữ tranh phong

Ngân Câu Thiết Hoạch Trương Thúy Sơn, cha của Trương Vô Kỵ từng sử dụng môn công phu này khắc trên vách đá. Tuy ông công lực còn non, nét bút hằn vào đá chưa sâu mấy, nhưng nét chữ như rồng bay phượng múa, bút lực hùng kiện, tưởng như dùng khoái kiếm trường thương đục thành, khiến cho Tạ Tốn cũng phải nhất thời ngơ ngẩn ngước nhìn.

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Độc Cô Cửu Kiếm của Kim Dung? Hà Đình Nguyên, Báo Thanh Niên 10:10 PM - 21/11/2006

Liên kết ngoàiSửa đổi