Vĩnh Phú Đông là một thuộc huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu, Việt Nam.

Vĩnh Phú Đông

Hành chính
VùngĐồng bằng sông Cửu Long
TỉnhBạc Liêu
HuyệnPhước Long
Trụ sở UBNDẤp Mỹ I
Phân chia hành chính11 ấp
Thành lập09/11/1990[1]
Địa lý
Tọa độ: 9°25′56″B 105°30′34″Đ / 9,43222°B 105,50944°Đ / 9.43222; 105.50944Tọa độ: 9°25′56″B 105°30′34″Đ / 9,43222°B 105,50944°Đ / 9.43222; 105.50944
Diện tích48,68 km²[2]
Dân số (2007)
Tổng cộng17.393 người[2]
Mật độ357 người/km²
Dân tộcKinh, Hoa, Khmer, Chăm
Khác
Mã hành chính31870[2]

Địa lýSửa đổi

Địa giới hành chính xã Vĩnh Phú Đông:

Xã Vĩnh Phú Đông có diện tích 48,68 km², dân số năm 2007 là 17.393 người,[2] mật độ dân số đạt 357 người/km².

Xã Vĩnh Phú Đông là nơi sinh sống của bốn dân tộc là: Kinh, Hoa, Khmer, Chăm, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số, thứ hai là Khmer, Hoa và Chăm. Toàn xã có 3.528 hộ với 17.393 nhân khẩu. Tỷ lệ tăng dân số là 1,5%, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn ở mức cao 20,06%.

Điều kiện tự nhiênSửa đổi

Tổng diện tích tự nhiên của xã là 4.774 ha, trong đó năm 2007 diện tích đất canh tác trong nông nghiệp là 3.198,68 ha chiếm khoảng 67% diện tích đất tự nhiên của toàn xã, diện tích gieo trồng đạt 7.090,5 ha. Diện tích ao hồ nuôi cá là 12,62 ha. Đất đai trong xã là đất độc canh cây lúa, không có đất cho lâm nghiệp.

Hành chínhSửa đổi

Xã Vĩnh Phú Đông được chia thành 11 ấp: Huê III, Mỹ I, Mỹ II, Mỹ IIA, Mỹ Tân, Phước IIIA, Phước IIIB, Vĩnh Lộc, Vĩnh Phú A, Vĩnh Phú B, Tường I.

Lịch sửSửa đổi

Ngày 25 tháng 07 năm 1979, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 275-CP[3] về việc điều chỉnh địa giới một số xã của huyện Phước Long thuộc tỉnh Minh Hải: Chia xã Vĩnh Phú Đông thành bốn xã lấy tên là xã Vĩnh Phú Đông, xã Đông Phú, xã Hưng Phú và xã Đông Nam.

Ngày 25 tháng 9 năm 2000, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 51/2000/NĐ-CP, về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Hồng Dân để thành lập huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu. Theo đó, xã Vĩnh Phú Đông thuộc huyện Phước Long.

Nông thôn mớiSửa đổi

Ngày 15/6/2015, xã Vĩnh Phú Đông được công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới năm 2015.

Ngày 10 tháng 01 năm 2020, xã Vĩnh Phú Đông được công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao năm 2019, đây là xã thứ tư của huyện và tỉnh.

Kinh tếSửa đổi

NôngnghiệpSửa đổi

Năm 2007, sản xuất nông nghiệp đạt được một số thành tựu nổi bật, đóng góp vào GDP 101 tỷ 749 triệu, tăng 8% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng còn gặp nhiều bất lợi do thời tiết khí hậu thất thường gây khó khăn cho sản xuất rau màu, bệnh dịch cho sản xuất lúa và chăn nuôi.

Cây lúa là cây chủ lực trong sản xuất nông nghiệp của xã, vì vậy trong năm 2007 mặc dù chịu ảnh hưởng của dịch bệnh rầy nâu, bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá, nhưng được sự quan tâm chỉ đạo của các ngành, các cấp trong xã và sự nỗ lực của bà con nông dân, sản xuất lúa vẫn đem lại hiệu quả cao, đảm bảo đời sống cho nhân dân.

Diện tích đất canh tác trong năm là 3.067 ha, diện tích gieo trồng đạt 7.090,5 ha.

Năng suất bình quân đạt 4,2 tấn/ha, sản lượng đạt 31.616,2 tấn, trong đó:

  • Đông Xuân diện tích 1.003,3 ha, năng suất 4 tấn/ha, sản lượng 4.013,2 tấn
  • Hè Thu diện tích 3.067 ha, năng suất 4 tấn/ha, sản lượng 12.268 tấn
  • Lúa vụ 2 diện tích 3.070 ha, năng suất 5 tấn/ha, sản lượng 15.335 tấn.

Rau màu: Trồng rau màu đã và đang trở thành một ngành quan trọng góp phần nâng cao thu nhập của người nông dân, giúp họ sử dụng đất đai có hiệu quả. Diện tích trồng màu trong năm đạt 131,68 ha, trong đó màu trên rẫy là 83 ha, màu dưới ruộng là 48,68 ha, tổng sản lượng quy ra thóc đạt 191 tấn. Loại cây màu chủ yếu được trồng xen dưới ruộng là cây dưa hấu, ngoài ra còn có một số loại cây khác như bắp, khổ qua, dưa leo, cà chua, bí đỏ, rau cần, hành hẹ và các loại rau đậu khác,… Tuy nhiên, so với tổng diện tích đất nông nghiệp còn rất nhỏ, chiếm 2,76%.

Cải tạo vườn tạp: Năm 2007, tiếp tục thực hiện đề án số 04 của BCH Đảng bộ huyện Phước Long, các ngành, các cấp cùng toàn dân trong xã cải tạo được 76,12 ha, nâng tổng diện tích vườn tạp lên 347,52 ha, chiếm 7,28% diện tích đất nông nghiệp. Nhìn chung phát triển vườn tạp trong xã là không đáng kể.

Chăn nuôiSửa đổi

Chăn nuôi không phải là ngành phát triển mạnh của xã, nhưng trong những năm qua với chủ trương chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng đa dạng hóa cây trồng vật nuôi thì chăn nuôi đang ngày càng phát triển, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân. Khắc phục những ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm và bệnh lở mồm, long móng, đàn gia súc, gia cầm trong xã phát triển được 53.981 con, trong đó trâu, bò, dê 257 con, heo 9.496 con, gia cầm chủ yếu là gà và vịt là 44.228 con.

Kinh tế hợp tác và kinh tế trang trạiSửa đổi

Toàn xã có 2 hợp tác xã tiếp tục được củng cố, đồng thời thành lập thêm bốn tổ hợp tác sản xuất và 11 câu lạc bộ khuyến nông.

Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệpSửa đổi

Bên cạnh nông nghiệp, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp cũng phát triển mạnh, nhiều cơ sở đã mở rộng quy mô sản xuất, toàn xã có 34 cơ sở sản xuất, doanh nghiệp, thu hút hơn 29 lao động.

Cơ sở hạ tầngSửa đổi

Thực hiện chỉ thị 200 của Thủ tướng chính phủ, hưởng ứng ngày môi trường thế giới, xã đã vận động nhiều hộ dân phá bỏ cầu tiêu trên sông, xây dựng cầu tiêu hợp vệ sinh, khai thông cống rãnh, dọn dẹp vệ sinh tạo cảnh quan thông thoáng, sạch sẽ, bảo vệ môi trường và nguồn nước.

Nhiều lộ đất đen được làm mới ở ấp Tường I, Huê III, Phước IIIB. Xây dựng thêm 4 cây cầu bê-tông mới dài 60m. Bắt mới 4 cây cầu gỗ địa phương dài 64m. Phát hoang bụi rậm lộ giới 3 tuyến dài 4.000m. Xây dựng bờ kè dài 3.269m với 224 hộ dân, làm hàng rào các tuyến bằng cây xanh dài 11.585m với 438 hộ dân tham gia.

Ngoài ra, xã còn tiến hành mở rộng mạng lưới cáp quang, nạo vét kênh mương phục vụ nhu cầu sử dụng điện và tưới tiêu cho nhân dân. Tuy nhiên, hệ thống thuỷ nông nội đồng khép kín trong xã chưa phát huy tác dụng, tình hình ngập úng chưa được khắc phục.

Tóm lại, năm 2007 xã đã xây dựng và củng cố nhiều cơ sở hạ tầng, vật chất, kỹ thuật để phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt cho nhân dân.

Thương mại và dịch vụSửa đổi

Nhìn chung hệ thống thương mại, dịch vụ trên địa bàn xã khá nghèo nàn. Toàn xã không có chợ cũng như trung tâm thương mại để phục vụ tiêu thụ sản phẩm. Mọi hoạt động tiêu thụ sản phẩm của nông dân đều được thực hiện với những người thu gom lẻ, những chiếc thuyền buôn chạy dọc các tuyến kênh. Ngoài ra, việc giao thương buôn bán cũng được thực hiện thông qua chợ thị trấn Phước Long, dự kiến đến năm 2008 thì chợ xã sẽ được xây dựng để phục vụ nhu cầu giao thương buôn bán của người dân.

Mô hình sản xuấtSửa đổi

Mô hình lúa-cá: Mô hình lúa cá triển khai áp dụng trong quy hoạch phát triển vùng ngọt ổn định của huyện Phước Long đến năm 2010 trên địa bàn các xã Vĩnh Phú Đông, Vĩnh Thanh. Tổng diện tích của mô hình là 1.000ha, năng suất bình quân là 600 kg cá/ha. Các giống cá nuôi xen kẽ chủ yếu là cá: Chép Hường, Lóc, Rô Đồng, Rô Phi,… Trong những năm trước mô hình phát triển khá rộng rãi trong toàn huyện, nhưng hiện nay mô hình ngày càng bị thu hẹp do thị trường đầu ra cho sản phẩm không ổn định, mất trộm,… Vì vậy, chỉ còn một số hộ thực hiện rải rác ở cá cấp.

Mô hình lúa-màu: Mô hình lúa-màu được áp dụng ở nhiều xã trong huyện PhướcLong như xã Vĩnh Phú Tây, Vĩnh Thanh, Hưng Phúvà Vĩnh Phú Đông nhằm thực hiện chủ trương của huyện là chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng đa dạng hoá cây trồng vật nuôi, nâng cao thu nhập cho nông dân, phát triển nền nông nghiệp bền vững. Trong đó, tỷ lệ hộ tham gia ở Vĩnh Phú Đông là cao nhất tập trung ở các ấp: Mỹ I, Mỹ II, Mỹ IIA, Huê III, Tường I, Mỹ Tân, Vĩnh Lộc. Diện tích của mô hình là 260ha với 360 hộ tham gia.

Mô hình sản xuất kết hợp giữa trồng lúa với nhiều loại cây rau màu khác như: bí đỏ, dưa hấu, bắp, cà chua,… nhưng mô hình kết hợp lúa-dưa hấu và lúa-bí đỏ lại cho hiệu quả cao nhất trên địa bàn huyện.

Mô hình 2 lúa - 1 màu: có vốn đầu tư khoảng 35 triệu/ha/năm cho tổng thu nhập 75 triệu/ha/năm, lợi nhuận trung bình là 40 triệu/ha/năm.

Mô hình 1 lúa - 2 màu: có vốn đầu tư khoảng 35 triệu/ha/năm cho tổng thu nhập 90 triệu/ha/năm, lợi nhuận trung bình là 52 triệu/ha/năm.

Mô hình luân canh lúa màu: sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao, hạn chế sự bạc màu của đất, kỹ thuật canh tác đơn giản, dễ thực hiện, sản phẩm đa dạng đáp ứng được nhu cầu của thị trường.

Xã có hơn 40 km đường trục ấp, hơn 25 km đường ngõ xóm, 100% đường nội đồng cứng hóa được xây dựng hoàn thành; gần 50 cây cầu bê-tông được xây; hơn 99,93% hộ sử dụng điện an toàn; 4 trường học đạt chuẩn quốc gia; 11/11 ấp có nhà văn hóa - thể thao; thu nhập bình quân đầu người cuối năm 2016 đạt 36,8 triệu đồng/năm,… Đó là những thành quả to lớn sau 5 năm xây dựng nông thôn mới ở Vĩnh Phú Đông.

Xã hộiSửa đổi

Giáo dụcSửa đổi

Năm học 2006-2007 và năm 2007-2008 công tác giáo dục đạt được nhiều thành tựu nổi bật, toàn xã có 2.666 em học sinh các bậc học. Tỷ lệ lên lớp đạt 100%, thi tốt nghiệp bậc tiểu học đạt 100%. Năm học 2007-2008, xã có 166 giáo viên và cán bộ quản lý, số học sinh là 2.561 em (trong đó bao gồm 230 em học sinh mầm non). Tỷ lệ huy động trẻ em trong độ tuổi đến trường đạt 98%. Công tác vệ sinh trong trường học cũng được hoàn thành tốt. Xã đã xây dựng thêm 8 phòng học ở điểm trường trung tâm và sửa sang các điểm trường trong toàn xã. Ngoài ra, công tác giáo dục phổ cập trong năm cũng đạt kết quả khá tốt. Trường cấp hai trong xã sẽ được công nhận đạt chuẩn quốc gia trong năm học tới.

Văn hoá truyền thanhSửa đổi

Toàn xã có một trạm truyền thanh luôn được củng cố và duy trì, đáp ứng ngày càng tốt hơn việc tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước. Bên cạnh đó xã còn tổ chức nhiều hoạt động vui chơi, giải trí nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Mỗi ấp đều có một đội bóng đá, một đội bóng chuyền, đặc biệt có đội đua ghe ngo đi thi đấu đạt giải cao ở khu vực.

Năm 2007, xã đã công nhận thêm 150 hộ đạt chuẩn văn hóa, đạt 85% kế hoạch, nâng tổng số hộ đạt chuẩn văn hóa lên 2.998 hộ, tổ chức tuyên truyền được 18 cuộc với 1.250 lượt người tham dự, cắt 35 băng đường và trang trí.

Chú thíchSửa đổi

Tham khảoSửa đổi