Mở trình đơn chính

Vũ Uy

là một trong những khai quốc công thần nhà Lê sơ

Vũ Uy (1390-1424) hay Lê Uy là một trong những khai quốc công thần nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam.

Tiểu sửSửa đổi

VŨ UY: BÌNH NGÔ KHAI QUỐC CÔNG THẦN, TẶNG PHONG TAM TƯ SỬ, QUỐC TÍNH LÊ UY

   Cụ Vũ Uy là thế tổ đời thứ ba của gia tộc Vũ khắc làng Tò Hương, Tổng Tô Xuyên, huyện Phụ Dực, thuộc trấn Sơn Nam Hạ,nay là thôn Tô Đàm, xã An Mỹ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Trong tộc phả Vũ Khắc ghi:

“Tiên tổ khảo, Tiền Lê Triều (Đầu Lê Sơ) Khai quốc công thần, Tặng phong tam tư sử, Vũ tướng công tự Quốc tính Lê Uy.

先祖考.前黎朝.開國功臣.赠封三資使.武相公字獨泺先生

Cụ sinh vào khoảng năm 1390.

Năm 1406 Cụ cùng các tôn thất nhà Trần xây dựng Tô Xuyên Trang chống Hồ phục Trần.

Năm 1408 sự nghiệp không thành, Cụ đã vào Vĩnh Thành, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa xây dựng trang trại, tích lũy lương thảo, sau đó tụ nghĩa dưới cờ Lê Lợi.

Tháng 2 năm 1416 than dự Hội Thề Lũng Nhai

Cụ là một trong 18 vị tham dự Hội thề Lũng Nhai tháng 2 năm 1416 dươi sự lánh đạo của Lê Lợi. Cụ được Lê Lợi giao phụ trách quân lương. Năm 1424 cụ tực tiếp chỉ huy trận đánh ở Trấn Năng và huy sinh tại đó, năm cụ mới 35 tuổi. Phần mộ cụ khi đầu được để ở Lam Sơn, sau đó được hậu duệ đời thứ 5 di dời về Đa Căng, xã Vạn Thiện, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa. Sự nghiệp bình Ngô thắng lợi cụ được Lê Thái Tổ phong tặng Bình Ngô Khai quốc công thần, tặng phong Tam tư sử. Trong cuốn tọc phả Vũ Khắc còn ghi: Tiền Lê triều (đầu Lê sơ) Khai quốc công thần, tặng phong tam tư sử, Vũ tướng công tự Độc Lạc tiên sinh. (Độc Lạc nghĩa là không có phần mộ ở quê nhà) (Tộc phả Vũ Khắc làng Tô Đàm – An Mỹ - Quỳnh Phụ - Thái Bình)

Trang thế phả Vũ Võ Thanh Hóa ghi: Khai quốc công thần, Tuy quốc công, quốc tính Lê Uy.

Trang tộc phả họ Vũ làng Yên Phúc, xa Yên Hồ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh còn ghi lại: Tiền thủy tổ Lê triều bình ngô khai quốc công thần, Thiêu úy phụ triết hầu Võ tướng công, gia phong tự hiền tướng, tự sùng tướng, tự dụng tướng, tự Thiện tướng, tự Cẩn tướng, tự Trí tướng, Quận công, Phụng tứ quốc tính Lê tướng công.

- Theo Vũ Tộc Thế Phả, hậu duệ của Bình Ngô Khai Quốc, Tuy Quốc Công ở Thanh Hóa (Hậu Lộc, Nông Cống, Vạn đồn, Đa Căng, Du Tràng xã). Theo bản Vũ Tộc Phả Thứ chi, thì bản tộc tộc phả được soạn từ năm 1664, thời Lê Huyền Tông, niên hiệu Cảnh Trị (1663-1671). Được chép lại thời vua Nguyễn Vĩnh Thụy, niên hiệu Bảo Đại thứ 11, năm 1936 (1925-1945). Theo cuốn này thì ghi là Thiếu úy, Tuy quốc công, Bình Ngô Khai Quốc công thần, Quốc tính Lê Uy. Cụ Sinh vào khoảng 1390, tham gia sự nghiệp Bình Ngô (1416-1424), mất năm 1424.

Như vậy đối chiếu với tộc phả của gia tộc thì năm 17 tuổi cụ đã tham gia cùng các tôn thất nhà Trần xây dựng Tô Xuyên Trang chống Hồ phục Trần. Năm 1408 sự nghiệp không thành cụ vào Vĩnh Thành, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa, xây dựng trang trai, tích lũy lương thảo, sau đó tụ nghĩa dưới cờ Lê Lợi. Tham dự hội thề Lũng Nhai tháng 2 năm 1416, và mất 1424 năm 34 tuổi.

Cuốn thế phả đó còn ghi cháu đời thứ năm của cụ là Bổ thịnh hầu Vũ Thì An, sinh khoảng 1502, bạn thân của Trịnh Kiểm, cùng Trịnh Kiểm đánh nhà Mạc dược phong tước hầu, con cháu đã khai hoang lập ấp ở 45 trang, gom góp binh lương, góp phần to lớn khôi phụ nhà Lê Trung hưng (1553 – 1788) (Lê Trang Tông – Lê Mẫn Đế)

Năm Quí Mão 1663 (Ngang với thời Khang Hy năm thứ 2), các bậc công thần họ Vũ như: Bổ thịnh hầu Vũ Thì An, Chấn dũng hầu Vũ Đình Tung, Dương khê hầu Vũ Đình Phúc cùng các trang trưởng, hội họp, và cùng nghĩ rằng: “Người ta sinh ra là do tổ tiên, mọi vật đều có nguồn gốc, huống chi người linh hơn muôn vật, há lại quên nguồn gốc hay sao”. Nay mộ tổ táng tại Lam Sơn đã lâu đời, e sau này ít thăm non, sợ bị sai lạc. Nay chọn được đất tốt, gò đống đẹp ở Trang Đa Căng, tổng Vạn Thiện, huyện Nông Cống, phủ Tĩnh Gia, diện tích 1 mẫu, 5 sào, 5 thước, 5 tấc. Gò đất cao, thế đất đẹp, trước có đường tiểu lộ, sau có ngòi nước nhỏ, nước lưu thông, cây cối xanh tốt quanh năm. Kính đem mộ Tổ, mộ các trang trưởng về táng ở một gò, dưng bia, cử người trông nom.

Về ngày cúng giỗ: Các dòng họ Vũ Võ ở nông Cống Thanh  Hóa hàng năm tổ chức cúng giỗ vào ngày 16-2.

Họ Võ ở thôn Yên Phúc, xã Yên Hồ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh cúng giỗ vào ngày 16/ giêng hàng năm

Dòng họ Vũ Khắc tổ chức cúng giỗ vào ngày 29-2 (ngày cụ ra đi), được duy trì từ rất lâu, qua nhiều đời, còn để lại những áng văn cổ.

Kỳ cao ất giả kỳ quang tân, Kỳ bản thân giả kỳ lục mậu, Kính duy Tiên tổ. Phượnng sơn rựng khí, Ngọc án linh chung, Tả thánh đế an dân chi liệt, Khai nho gia quan rạng chi truyền, Công đức cái  tự  thân vi, Bá hồ tiền sở, Rĩ dực hồ hậu tử tôn tự. Kỳ nhật cái vi chi hậu, Cái hữu vi chi tiền, Kiều ngưỡng dư huy, bất thăng vĩnh mộ,  Tư­ nhân huý nhật, Chi  thiết phỉ nghi. Sơ sơ bất tiến, Chi nghi thành mạc ngu, Chiểu mao hàm thuỷ, Tứ đậu l­ưu hương chi hạ. Nghĩa thứ minh. Mộc bản thuỷ nguyên”.

其高讦者其光新,其本狲者其淥茂,敬惟先祖,鳳山孕氣,玉案靈鍾,瀉聖帝安民之烈.開儒家官樣之傳.公德盖自親為,播乎前所.以翼乎後子孫自.圻日戤為之後.盖有為之前.翘仰餘輝.不勝永慕,兹因諱日梔設菲儀.蒭蔬不薦之儀誠默寓.沼毛頷水.诅豆留香之下.義庶明木本水源.

Con cháu của cụ ở Thái Bình ở các đời đều đỗ đạt và làm quan

Thế tổ đời thứ 5:  Tiến sĩ  VŨ TRIỆU DUNG.

Khoa thi Ất Mùi, Niên hiệu Hồng Đức lục niên (1475), đậu cập đệ tam đồng tiến sĩ xuất thân năm 34 tuổi, giữ chức Thị Lang, Ngự sử đài giám sát ngự sử. Nhiều lần tháp tùng vua Lê Thánh Tông dẹp loạn Chiêm Thành, được phong Hùng uy vệ tràng viễn sở phó quản lãnh.

Vì thế trong từ đường Vũ Khắc vẫn còn lưu giữ đôi câu đối: "Bình Ngô tích tước Lam Sơn hiệu, Báo thủ danh tiêu Tiến sĩ đường.

Thế tổ đời thứ 6:

1. Tĩnh tây vệ quản lãnh, tặng phong Thái uý tinh quốc công, Vũ tướng công tự Liễu ổ tiên sinh.

         先祖考.靖西衞管领.赠封太尉并國公.武相公字柳塢先生.    忌五月二十日.                                                     

2. Tri phủ viên, thặng nhậm Hải Dương hữu tham chính, Vũ tướng công thuỵ Hoành Trực tiên sinh.

Thế tổ đời thứ 7:  Thái bộc tự tự thừa, cẩn sự tá lang, cải trà Vũ ban tối cao, Vũ tướng công tự Ngải Khê tiên sinh.

先祖考.太僕寺寺丞.謹事佐郎.改邪武班最高.武相公字艾溪先生. 忌十月十三日

Thế tổ đời thứ 8:  Quan Thái Bảo

1. Tiên Hoa huyện huyện quan, Tú lâm cục nho sinh, Hữu đại công ư quốc, tặng phong Thái bảo, Vũ tướng công tự Xuyên Tranh tiên sinh

先祖考.先花縣縣官.秀林局儒生.有大功於國.贈封太保.武相公.字川琤先生. 忌十月二十四日

2. Quốc tử giám giám sinh, Phụng nhập nội thị Vũ tướng công thuỵ Tuân Xuyên tiên sinh

Thế tổ đời thứ 9: 

1. Đô chỉ huy xứ, Tư đô chỉ huy xứ, Vũ tướng công tự Phúc Lâm tiên sinh

先祖考.都指揮使.司都指揮使.武相公字福林先生

2. Tường sinh thập lý hầu, Vũ tướng công thuỵ Lý Xuyên tiên sinh.

Thế tổ đời thứ 10:

1. Cụ VŨ DANH THÙY: Lê triều, Hồng lô tự tự thừa, Quận công, Hông lô tự khanh, đặc lĩnh tiến triều, tả tri rhị nội thư, tri binh phan tô khê hầu, Vũ tướng công thuỵ Minh Đoạn tiên sinh

先祖考.黎朝.鴻矑寺寺丞.特領薦朝.冩知侍內書.知兵番穌溪侯.武相公諡明断先生. 忌十月十一日

Cụ được phong tặng 6 đạo sắc chỉ, sắc phong (Còn lưu giữ tại từ đường gia tộc):

- Cảnh Hưng thứ 17 (1756). Sắc phong Trúng thí, Tiến công thứ lang, Thần sách vệ điện bạ.

- Cảnh Hưng năm thứ 25 (1764) Sắc phong Trúng Tam trường nhận chức Cẩn sự tá lang.

- Cảnh Hưng thứ 32 (1771).  Sắc phong khoa thi mùa xuân trúng Tam trường nhận chức Cẩn sự lang, Hông lô tự tự thừa.

- Ngày 28/01/1786 sắc phong Quận công, thống lĩnh quân thủy bộ thuộc Trấn Sơn Nam Thượng Hạ.

- Ngày 26/02/1786 Sắc phong Phó tri binh phiên nhất chỉ, Do Hồng lô tự khanh.

- Ngày 24/03/1786 sắc phong Tả tri thị nội thư, tả binh phiên nhất chỉ

- NGỰ THI (thơ Vua Ban 1787):

TỨ THI NHẤT LUẬT DĨ BIỂU TRUNG TRINH

Tú xuất Tô Xuyên đia dục anh

Thời hồ bản đáng thức trung thành

Ung dung dĩ thi tam triều lão

Quắc thước do khan vạn lý thành

Tuy rĩ hương thôn tỳ nhã tháo

Thắng ư chung đỉnh bôị thù vinh

Tráng du thực lãi công sơ trí

Kính khí lăng lăng quán nhật tinh

2. Cụ VŨ  DANH TOẠI, Kim bảng huyện, tri huyện, phụng thăng thứ nhất thực nhậm chức, Vũ tướng công thuỵ Trung Cẩn tiên sinh

Cụ đ ược phong tặng 3 sắc chỉ sắc phong: (còn lưu giữ tai từ đường)

- Cảnh Hưng năm thứ 25 (1764). Sắc phong Quốc tử giám giám sinh, các môn sứ, chức mệnh.

- Sắc chỉ thứ 2 phong "Tiến công thứ lang, Hồng lô tự các môn sứ

- Cảnh Hưng năm thứ 32 (1764) phong Trúng Tam trường, giữ chức Cẩn sự tá lang.

Thế tổ đời thứ 12: Cụ Vũ Thế Gia, Sinh đồ Vũ tính tự Mẫn Trai tiên sinh. cụ có tên trong bia đá khu di tích đình Đông Linh, thi trấn An Bài, Quỳnh Phụ

Khởi tổ đời thứ 13:  Nhâm dần (1842) khoa cử nhân, bản phủ bản huyện, tứ tô đình văn hội trưởng Vũ Nghiêm Trai thuỵ Doanh Cẩn tiên sinh.

Tiên tổ của dòng họ qua các  đời đều là các bậc Nho sinh, Sinh đồ, trúng Tam trường, Trúng thí, Quốc tử giám giám sinh, Thái úy, Thái bộc, Thái bảo, Tư đô, Hồng lô tự khanh, Quận công, quan huyện, Quan phủ, Tiến sỹ, Khai quốc công thần.

Dòng họ được các triều phong kiến, phong tặng bốn lăng: Lang tiến sĩ Vũ Triệu Dung, Lăng quan Thái Bốc, Lăng bà quận chúa (Sơn Hương Quận Công chúa) Lăng cụ Tiến sĩ Nguyễn Dần (Cụ tổ ngoại, gia tộc thờ cúng và trông giữ phần mộ).

Tham khảoSửa đổi

  • Hội sử học Hà Nội (2008), Khởi nghĩa Lam Sơn và thành lập vương triều Lê (Kỷ yếu hội thảo khoa học kỷ niệm 580 năm giải phóng Đông Quan và thành lập vương triều Lê), Nhà xuất bản Hà Nội.
  • Hưng Nghĩa hầu Vũ Uy
  • Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn, Khởi nghĩa Lam Sơn, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977.