Vương tế, Vương phu hoặc Hoàng quân là những cách dịch nôm na trong ngôn ngữ Việt Nam dành cho tước danh tiếng Anh được gọi là Prince Consort (tiếng Đức: Prinzgemahl; tiếng Ý: Principe consorte), một khái niệm danh phận hoặc tước hiệu xuất hiện ở Châu Âu dùng cho danh phận chồng của một Nữ vương (Queen Regnant) hoặc Nữ hoàng (Empress Regnant).

Thứ bậc Hoàng tộc, Quý tộc và Hiệp sĩ
Mũ miện của Bá tước
Hoàng đế & Hoàng hậu
Nữ hoàng & Hoàng tế
Thái hoàng thái hậu
Hoàng thái hậu / Thái thượng hoàng hậu
Hoàng thái phi
Vương thái hậu / Vương đại phi
Quốc vương & Vương hậu
Nữ vương & Vương phu
Thái tử & Thái tử phi
Thế tử & Thế tử tần
Công chúa & Phò mã
Đại Thân vương & Đại Vương phi
Đại Công tước & Đại Công tước phu nhân
Thân vương & Vương phi
Phó vương & Phó vương phi
Quận chúa & Quận mã
Huyện chúa & Huyện mã
Công tước & Công tước phu nhân
Hầu tước & Hầu tước phu nhân
Bá tước & Bá tước phu nhân
Tử tước & Tử tước phu nhân
Nam tước & Nam tước phu nhân
Hiệp sĩ & Nữ Tước sĩ

Tước hiệu này bắt đầu xuất hiện trong nền quân chủ nước Anh. Về bản chất, "Prince Consort" là một tước hiệu, không phải là một danh phận mặc định, do vậy trừ khi được chính thức công bố sắc phong, thì một người chồng của Nữ quân chủ cũng không có quyền tùy tiện sử dụng tước hiệu này. Một tước hiệu tương đương với "Prince Consort"King Consort (nôm na là Vương quân hay Phối vương), dù tước hiệu này phạm vào sự nhạy cảm và cực kỳ ít khi sử dụng.

Khái quátSửa đổi

Đồng quân vươngSửa đổi

Ban đầu, vì chế độ "Jure uxoris" mà rất nhiều chồng của nữ vương cũng trở thành quốc vương và có quyền trở thành "Đồng quân vương" (tiếng Anh là Co-ruler hay Co-monarch). Có từ tiếng Latinh, "Jure uxoris" có nghĩa là "Quyền của chồng thừa hưởng từ người vợ", khi người thừa kế là nữ thừa hưởng đất đai cùng tước vị do cha mẹ để lại, thì người chồng cũng có thể sở hữu với tư cách là chủ nhân như vợ, và có thể được phong tước vị tương ứng ngang với người vợ. Sau khi người vợ này qua đời, hậu duệ mang theo họ của người chồng sẽ thừa kế vĩnh viễn tài sản và tước vị mà gia tộc người vợ truyền lại. Đây cũng là một trong các lý do lớn mà vì sao rất nhiều quốc gia Châu Âu đều không muốn thừa nhận nữ giới kế vị, và nếu có kế vị, thì cũng sẽ hạn chế quyền hạn của người chồng. Cho dù là vậy, những hậu duệ của nữ giới - vẫn được theo họ chồng - theo quy luật vẫn bảo tồn quyền kế vị của mình về sau.

Lấy ví dụ kinh điển cho trường hợp này thì có Fernando II của Aragon, khi ông vừa là quốc vương của Aragon nhưng cũng là quốc vương tại Castilla do vợ ông, Nữ vương Isabella, là nữ chúa của Castilla. Trường hợp này xảy ra tiếp với con rể ông, Philip I của Castilla, một người nhà Habsburg, người sau đó được Hội đồng Castilla công bố là "Vua của Castilla" vì người vợ là Juanna được kế vị ngôi Vua tại Castilla, cũng từ đây ngai vàng Aragon và Castilla hợp nhất dưới tên Tây Ban Nha và do nhà Habsburg kế thừa.

Ngoài ra còn có Hoàng đế Sigismund của Thánh chế La Mã, có được ngai vàng quốc vương Hungary vì luật "Jure uxoris" sau khi ông kết hôn với Mary, Nữ vương Hungary. Hoàng đế Sigismund chỉ có một cô con gái, Elizabeth xứ Luxembourg, và khi Elizabeth kết hôn với Albert II của Đức thì cũng khiến Albert trở thành quốc vương đồng trị vì của Hungary sau khi Sigismund qua đời. Philip II của Tây Ban Nha, chồng của Nữ vương Mary nhà Tudor cùng William xứ Orange, chồng của Mary nhà Stuart bởi vì đạo luật "Jure uxoris" mà đều đã trở thành quốc vương của nước Anh trong một thời gian. Ngoài ra, các vị quý tộc là Conrad xứ Montferrat, Henry II, Bá tước xứ Champagne cùng Aimery xứ Cyprus đều lần lượt trở thành quốc vương của Vương quốc Jerusalem vì đã cưới Isabella I của Jerusalem, nữ thừa kế duy nhất nhà Anjou. Con gái bà, Maria xứ Montferrat, đã cưới John xứ Brienne, điều này khiến John cũng trở thành quốc vương Jerusalem và đồng trị vì cùng vợ mình, sau cái chết của Maria thì John tiếp tục làm đồng trị vì với cô con gái, Isabella II của Jerusalem. Sau đó, Isabella II lại cưới Friedrich II của Thánh chế La Mã, khiến Friedrich cũng thành quốc vương tiếp theo và kết thúc vai trò quốc vương của John.

Hôn phối của Nữ chúaSửa đổi

Vì tránh đạo luật "Jure uxoris", có rất nhiều biện pháp được các triều đại đưa ra nhằm hạn chế việc này, như khi Infanta Maria Theresa của Tây Ban Nha được cưới cho Louis XIV của Pháp, bà bị cha là Philip IV của Tây Ban Nha ép phải từ bỏ quyền thừa kế của mình đối với ngai vàng Tây Ban Nha. Đây là bởi vì khác với Pháp áp dụng Đạo luật Salic nên nữ giới không có quyền kế vị, các vị vua chúa ở thể chế Tây Ban Nha vẫn giữ quyền kế vị cho nữ giới, nên để tránh việc ngai vàng Tây Ban Nha rơi vào tay kẻ thù Pháp thì Quốc vương Philip IV phải tước đi quyền kế vị của con gái. Nữ vương Mary của Scotland kết hôn cùng Quốc vương Francis II của Pháp, và thỏa thuận của họ là sau khi Mary qua đời mà không có người thừa kế thì ngai vàng Scotland sẽ được quy về quyền sở hữu của vương triều Pháp.

Tại nước Anh, Philip của Tây Ban Nha cùng William xứ Orange đều là "Quốc vương" theo sự lên ngôi của người vợ và điều này đe dọa đến tài sản quốc gia của toàn bộ Anh sẽ rơi vào tay ngoại quốc. Hội đồng Anh không muốn gia tộc bên ngoài nước Anh can thiệp chỉ vì luật lệ "Jure uxoris", do đó làm thỏa thuận quy định rằng Philip bị bỏ đi vị hiệu "Quốc vương nước Anh" sau khi Mary qua đời. Còn trường hợp William, tuy ông vẫn được giữ vị hiệu quốc vương kể cả khi vợ ông qua đời, nhưng hậu duệ của ông đều bị xếp sau em gái và là người kế thừa hợp pháp của vợ mình, Anne, Nữ vương của Liên hiệp Anh[note 1]. Kể từ sau William III, chồng của Nữ vương Anne là Vương tử George của Đan Mạch cùng chồng của Nữ vương VictoriaVương tế Albert đều không có vị hiệu quốc vương của Anh, mà cao lắm là "The Prince Consort", một vị hiệu mà Maria II của Bồ Đào Nha tạo ra cho chồng bà: Auguste, Công tước xứ Leuchtenberg khi họ kết hôn năm 1834[1][2][3]. Tuy nhiên, danh vị "Prince Consort" về sau hay được biết đến qua việc Victoria phong cho Albert vào năm 1857, và từ đó danh hiệu này được dịch thành "Vương phu" hoặc "Vương tế" trong các báo đài Việt Nam. Sau trường hợp của Albert, nhiều người chồng của các nữ vương cũng được gọi theo danh vị ấy như một danh phận mặc định, dù trên thực tế thì đây là một tước hiệu và phải được tiến hành gia phong bài bản như ông Albert khi trước. Chồng của Elizabeth IIVương tế Philip, Công tước xứ Edinburgh, tuy rằng được báo đài Việt Nam gọi là "Hoàng tế", "Hoàng phu" cùng "Vương tế" tương tự ông Albert, nhưng vị hiệu của Philip chỉ là được thêm tôn xưng "Prince" như một Vương tử Anh cùng tước hiệu Công tước xứ Edinburgh (Duke of Edinburgh), ý nghĩa khác xa "The Prince Consort" của Albert khi trước. Chồng của Margrethe II của Đan MạchHenrik de Laborde de Monpezat từng nhận vị hiệu "The Prince Consort" vào năm 2005, nhưng kể từ 2016 thì chỉ được gọi đơn giản là "Prince Henrik of Denmark" (tức "Prince Henrik của Đan Mạch")[4][5].

Trong khi ấy, các nữ hoàng là trường hợp hiếm có hơn so với nữ vương, do các nền quân chủ lớn mạnh được gọi là đế chế rất ít khi chấp nhận phụ nữ nắm quyền, như Thánh chế La Mã. Tại Đế quốc Nga, tuy có nhiều nữ hoàng nhất trong các đế chế phương Tây, song một nửa số nữ hoàng Nga là hoàng hậu của những hoàng đế và lên ngôi do binh biến, điển hình có Catherine ICatherine II. Còn hai vị hoàng nữ từng trở thành nữ hoàng Nga, là Elizaveta của Nga cùng Anna của Nga, thì một người là hôn nhân không đăng đối, nên chồng của Elizaveta là Alexei Razumovsky không có tước hiệu chính thức nào. Còn chồng của Anna là Frederick William, Công tước xứ Courland lại mất trước khi Anna lên ngôi. Vì vậy, "Phối ngẫu của một Nữ hoàng phương Tây" chưa bao giờ thực sự có định hình, và càng không có khái niệm tước hiệu chính thức.

Phối vươngSửa đổi

Danh vị "King Consort", nôm na là "Vương quân" hoặc "Phối vương"[note 2], được hình thành với quan niệm "Người chồng của Queen thì phải là King", do trong tiếng Anh thì "Queen" ám chỉ cả Nữ vương lẫn Vương hậu.

Khi đạo luật "Jure uxoris" còn mạnh, chồng của một Nữ vương (Queen) dĩ nhiên trở thành Quốc vương (King) và trở thành người đồng trị vì cùng vợ mình. Điều này ảnh hưởng lớn đến tình trạng chính trị "Hai Vua đồng trị vì", do đó có các biện pháp hạ xuống vai trò của người chồng một nữ quân vương, ngoại trừ "The Prince Consort" do Nữ vương Victoria tạo ra, thì trong lịch sử từng xuất hiện biện pháp "The King Consort" - tức Phối ngẫu Quốc vương của Nữ vương. Tùy vào thỏa thuận hôn nhân hoặc luật lệ của Nghị viện quốc gia tương ứng, mà quyền lợi của Phối vương có thể ngang với vợ mình với tư cách Đồng quân vương, nhưng đôi khi cũng lại chỉ như một "Prince Consort" mà thôi.

Trong lịch sử Châu Âu, có những người nổi tiếng từng được đề cập làm "King Consort", rồi sau đó tùy lý do mà bị phản đối hoặc được chấp thuận, bao gồm:

Xem thêmSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Quyền kế vị của Anne dựa trên việc vợ chồng William và Mary không có con. Sau khi Mary qua đời, bất kì hậu duệ nào của William với người vợ kế cũng đều bị xếp sau Anne. Đạo luật dàn xếp năm 1701 công bố, nếu William và Anne qua đời mà không có con hợp pháp, thì ngai vị chuyển qua cho Sophia của Hannover.
  2. ^ Từ "Phối" trong phối ngẫu, ý chỉ vợ hoặc chồng (nói chung) của quân chủ, tiếng Anh là "Consort". Wikipedia tiếng Trung có giải pháp cho từ "King Consort" này là "Phối Quốc vương" (配國王), nên có thể rút thành Phối vương.

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ “No. 22015”. The London Gazette: 2195. ngày 26 tháng 6 năm 1857.
  2. ^ de Sousa 2000, tr. 145-146.
  3. ^ Weintraub 1997, tr. 88.
  4. ^ “Dronningen i sin nytårstale: Prins Henrik går på pension”. Politiken.dk (bằng tiếng Đan Mạch). Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2017.
  5. ^ “Denmark's Prince Henrik renounces title as Prince Consort”. Xinhuanet, China-Europe. ngày 15 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2017.
Nguồn tham khảo