Vương tộc Bonaparte

Nhà Bonaparte (ban đầu được viết là "Buonaparte") là một cựu hoàng gia và vương triều châu Âu có nguồn gốc từ Genova. Nó được thành lập vào năm 1804 bởi Hoàng đế Napoleon, người sáng lập ra Đệ Nhất Đế chế Pháp. Napoleon là con trai của nhà quý tộc Genova Carlo Buonaparte, sống tại Đảo Corse, bản thân Napoleon là một quân nhân, thăng tiến nhanh chóng trên đường binh nghiệp trong Cách mạng Pháp, lên nắm quyền và trở thành Đệ nhất tổng tài của Đệ Nhất Cộng hòa Pháp. 5 năm sau Đảo chính ngày 18 tháng Sương Mù (11/1799), Napoleon xưng đế, lập ra Đệ Nhất Đế chế Pháp (1804), kể từ đây Napoleon cùng đội quân của mình - Grande Armée, đã tham gia vào các trận chiến chinh phục trên khắp châu Âu, thống trị châu lục này thông qua một loạt các chiến thắng quân sự trong Chiến tranh Napoléon. Ông đã đưa các thành viên gia đình Bonaparte lên làm vua một số quốc gia đồng minh, mở rộng quyền lực của vương triều.

Vương tộc Bonaparte
tiếng Pháp: Maison Bonaparte
Italian and Corsican: Casa di Buonaparte
Pháp Gia đình Hoàng gia
Coat of Arms of Napoleon I, Emperor of the French
Coat of arms assumed by Emperor Napoleon I
Quốc giaĐệ Nhất Đế chế Pháp Đệ Nhất Đế chế Pháp & Đệ Nhị Đế chế Pháp
Flag of the Napoleonic Kingdom of Italy.svg Vương quốc Italy
Bandera de España 1808-1813.svg Vương quốc Tây Ban Nha
Flag of the Netherlands.svg Vương quốc Holland
Vương quốc Napoli Vương quốc Naples
Bản mẫu:Country data Westphalia Vương quốc Westphalia
Bandiera Elba.svg Thân vương quốc Elba
Andorra Thân vương quốc Andorra
Flag of the Grand Duchy of Berg (1806-1808).svg Đại công quốc Berg
Flag of the Principality of Lucca (1805-1809).svg Thân vương quốc Lucca và Piombino
Thành lập năm18 tháng 5, 1804 (1804-05-18)[1][2]
Thành lập bởiCarlo Buonaparte
Lãnh đạo hiện tạiDisputed:
Cai trị cuối cùngNapoleon III
Tước hiệu
Danh xưngImperial Majesty (France)
Majesty (other Crowns)
Phế truấtFrance:
1814 (1st) (1814 (1st))
1815 (2nd) (1815 (2nd))
1870 (3rd) (1870 (3rd))
Italy:
1814 (1814)
Spain:
1813 (1813)
Westphalia:
1813 (1813)
Elba:
1815 (1815)
Nhánh phụ

Nhà Bonaparte đã thành lập ra Hoàng gia Pháp (Imperial House of France) trong thời Đệ Nhất Đế chế Pháp, bao gồm cả một số thành viên không mang họ Bonaparte. Ngoài việc nắm giữ tước hiệu Hoàng đế của Pháp, triều đại Bonaparte còn nắm giữ nhiều lãnh thổ và tước hiệu khác trong suốt Chiến tranh Napoléon, bao gồm Vương quốc Ý, Vương quốc Tây Ban Nha, Vương quốc Westphalia, Vương quốc HollandVương quốc Napoli. Vương triều nắm quyền trong khoảng một thập kỷ cho đến khi các cuộc Chiến tranh Napoléon bắt đầu diễn ra. Cuộc chiến này đã mang đến cho Pháp những đối thủ rất mạnh, trong đó có Đế quốc Áo, Vương quốc Anh, Đế quốc Nga, Vương quốc Phổ, ngoài ra còn có các phong trào bảo hoàng, đặc biệt là của Nhà Bourbon ở Pháp, Tây Ban Nha, Vương quốc Hai SiciliaVương quốc Sardinia. Triều đại của Napoleon cuối cùng xụp đổ sau khi vị hoàng đế này thất bại tại Trận Waterloo, Đại hội Viên đã cho khôi phục lại các vương triều trước đó bị xoá sổ bởi Đệ Nhất Đế chế Pháp.

Trong thời trị vì của Hoàng đế Napoleon I, Gia đình hoàng gia Pháp bao gồm các cá nhân có mối quan hệ huyết thống với hoàng đế như: anh em, vợ cùng các con. Ngoài ra còn có một số nhân vật cũng được đưa vô danh sách hoàng gia dù không mang họ Bonaparte, cụ thể là anh rể Joachim Murat, người chú Joseph FeschEugène de Beauharnais (con riêng của vợ Napoleon).

Trong giai đoạn từ năm 1852 đến 1870, Louis Bonaparte, cháu của Napoleon I đã xưng đế và lập ra Đệ Nhị Đế chế Pháp, với đế hiệu là Napoleon III. Tuy nhiên, trong Chiến tranh Pháp-Phổ (1870 - 1871), vương triều của Nhà Bounaparte một lần nữa bị lật đổ khỏi ngai vàng Pháp. Những người ủng hộ tuyên bố gia đình Bonaparte sở hữu ngai vàng được gọi là "Bonapartists". Người đứng đầu hiện nay là Jean-Christophe, Hoàng tử Napoléon.

Nguồn gốc ÝSửa đổi

Gia đình Bonaparte (tiếng Ý ban đầu: Buonaparte) là những người theo chủ nghĩa yêu nước ở các đô thị Sarzana, San MiniatoFlorence của Bán đảo Ý. Tên bắt nguồn từ tiếng Ý: buona ("tốt") và parte ("phần" hoặc "bên"). Trong tiếng Ý, cụm từ "buona parte" được sử dụng để xác định một phần nhỏ của kích thước đáng kể, nhưng không xác định, trong tổng số.

Gianfaldo Buonaparte là người thuộc gia tộc Buonaparte đầu tiên được biết đến tại Sarzana vào khoảng năm 1200. Hậu duệ của ông là Giovanni Buonaparte vào năm 1397 kết hôn với Isabella Calandrini, em họ của hồng y Filippo Calandrini sau này. Giovanni trở thành thị trưởng của Sarzana và được Giovanni Maria Visconti bổ nhiệm làm ủy viên của Lunigiana vào năm 1408. Con gái của ông, Agnella Berni, là bà cố của nhà thơ Ý Francesco Berni và chắt của họ Francesco Buonaparte là một lính kỵ binh đánh thuê phục vụ cho Ngân hàng Genoese của Saint George. Năm 1490, Francesco Buonaparte đến đảo Corsica, nơi được kiểm soát bởi ngân hàng. Năm 1493, ông kết hôn với con gái của Guido da Castelletto, đại diện của Ngân hàng Saint George ở Ajaccio, Corsica. Hầu hết con cháu của họ trong các thế hệ tiếp theo là thành viên của hội đồng thị trấn Ajaccio. Cha của Napoléon, Carlo Buonaparte, đã nhận được bằng sáng chế quý tộc từ Vua Pháp vào năm 1771.[1]

Cũng có một gia đình Buonaparte ở Florence; tuy nhiên, mối quan hệ cuối cùng của nó với những người Buonaparte ở SarzanaSan Miniato vẫn chưa được biết. Jacopo Buonaparte ở San Miniato là bạn và là cố vấn của Giáo hoàng Clement VII của Nhà Medici. Jacopo cũng là nhân chứng và đã viết bài tường thuật về "Sack of Rome (1527)", đây là một trong những tài liệu lịch sử quan trọng nhất kể lại sự kiện đó.[4] Tuy nhiên, hai trong số các cháu trai của Jacopo, Pier Antonio Buonaparte và Giovanni Buonaparte, đã tham gia vào cuộc nổi dậy của Medici năm 1527, sau đó họ bị trục xuất khỏi Florence và sau đó được phục hồi bởi Alessandro de' Medici, Công tước xứ Florence. Anh trai của Jacopo là Benedetto Buonaparte duy trì sự trung lập về chính trị.[5] Nhánh San Miniato bị diệt vong cùng với Jacopo vào năm 1550. Thành viên cuối cùng của gia đình Florence là một giáo sĩ tên là Gregorio Bonaparte, người qua đời năm 1803, để [6]

Có một hầm mộ của gia tộc Buonaparte nằm trong Nhà thờ San Francesco ở San Miniato. Hầm mộ thứ hai, Chapelle Impériale, được xây dựng bởi Napoléon IIIAjaccio 1857.

Hoàng tộc PhápSửa đổi

Vương miện do gia tộc nắm giữSửa đổi

Hoàng đế PhápSửa đổi

Vua của HollandSửa đổi

Vua của NaplesSửa đổi

Vua của WestphaliaSửa đổi

Vua của Tây Ban NhaSửa đổi

Nữ đại công tước xứ TuscanySửa đổi

Đứng đầu Nhà Bonaparte (từ năm 1852)Sửa đổi

Cây phả hệSửa đổi

Biểu tượng của Nhà BonaparteSửa đổi

Nghiên cứu DNASửa đổi

Thành viên còn sốngSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ a b Raymond Horricks (1995). Napoleon's Elites. Transaction Publishers. tr. 11. ISBN 9781412829281.
  2. ^ Frédéric T. Briffault (1846). The Prisoner of Ham: Authentic Details of the Captivity and Escape of Prince Napoleon Louis. T.C. Newby. tr. 344. carlo maria buonaparte nobility 1771.
  3. ^ The Home And Foreign Review, Issue 5, pg 395
  4. ^ Jacopo Bonaparte: Sac de Rome. Écrit EN 1527 par Jacques Bonaparte. Témoin oculaire, hrsgg. by Bonaparte, Napoléon Louis, Florenz 1850
  5. ^ Drake, Joshua F. (tháng 10 năm 2005). “The partbooks of a Florentine ex-patriate: new light on Florence, Biblioteca Nazionale Centrale Ms. Magl. XIX 164–7”. Early Music. 33 (4): 639–646. doi:10.1093/em/cah154. S2CID 191585911.
  6. ^ Burke, Sir Bernard (1869). Vicissitudes of Families. London: Longmans, Green, Reader, and Dye.

Liên kết ngoàiSửa đổi