Mở trình đơn chính

Việt Nam

Quốc gia ở khu vực Đông Nam Á

Việt Nam (tên chính thức: Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) là quốc gia nằm ở phía Đông bán đảo Đông Dương thuộc khu vực Đông Nam Á. Thủ đôHà Nội kể từ năm 1976, với Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố đông dân nhất. Phía Bắc Việt Nam giáp Trung Quốc, phía Tây giáp LàoCampuchia, phía Tây Nam giáp vịnh Thái Lan, phía ĐôngNam giáp Biển Đông và có hơn 4.000 hòn đảo, bãi đá ngầm cùng vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tếthềm lục địa được Chính phủ xác định khoảng trên 1 triệu km².

Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa
Việt Nam
Flag of Vietnam.svg Emblem of Vietnam.svg
Quốc kỳ Quốc huy
Vị trí của Việt Nam
Vị trí Việt Nam (đỏ) trên thế giới, bao gồm Quần đảo Hoàng SaQuần đảo Trường Sa (chấm đỏ)
Vị trí của Việt Nam
Vị trí của  Việt Nam  (xanh)

Đông Nam Á  (xám đậm)  –  [Chú giải]

Tiêu ngữ
"Độc lậpTự doHạnh phúc"
Quốc ca
"Tiến quân ca"
Hành chính
Chính phủ Nhà nước đơn nhất
Xã hội chủ nghĩa hệ thống đơn đảng
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng
Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân
Lập pháp Quốc hội Việt Nam
Thủ đô Hà Nội
21°2′B 105°51′Đ / 21,033°B 105,85°Đ / 21.033; 105.850
Thành phố lớn nhất Thành phố Hồ Chí Minh
10°46′B 106°40′Đ / 10,767°B 106,667°Đ / 10.767; 106.667
Địa lý
Diện tích 331.699 km² (phần đất liền)[1]
(128.565) mi² (hạng 66)
Diện tích nước 6,4[2] %
Múi giờ Giờ chuẩn Việt Nam (UTC+07:00)
Lịch sử
2 tháng 9 năm 1945 Tuyên bố độc lập
30 tháng 4 năm 1975 Thống nhất đất nước
2 tháng 7 năm 1976 Quốc hiệu hiện tại
28 tháng 11 năm 2013 Ban hành Hiến pháp hiện tại
Dân cư
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Việt
Sắc tộc
Dân số ước lượng (2018) 94.660.000[4] người (hạng 15)
Mật độ 311 người/km²

806 người/mi²
Kinh tế
GDP (PPP) (2018) Tổng số: 707.620 tỷ USD[5] (hạng 35)
Bình quân đầu người: 7,482 USD[5] (hạng 128)
GDP (danh nghĩa) (2018) Tổng số: 241.434 tỷ USD[5] (hạng 47)
Bình quân đầu người: 2,553 USD[5] (hạng 129)
HDI (2018) tăng 0,694[6]
trung bình (hạng 116)
Hệ số Gini (2016) 35,3[7]
trung bình (hạng 54)
Đơn vị tiền tệ Đồng (₫) (VND)
Thông tin khác
Mã ISO 3166-1 VN
Tên miền Internet .vn
Mã điện thoại +84
Cách ghi ngày tháng nn-tt-nnnn
Lái xe bên phải
Theo tên chính thức và Hiến pháp 2013

Theo truyền thuyết, nhà nước Xích Quỷ được thành lập từ năm 2879 TCN, giữ nền độc lập hơn 2 thiên niên kỷ tới khi Âu Lạc sụp đổ năm 208 TCN (sử khác chép 179 TCN), miền Bắc Việt Nam bị đô hộ khoảng 1000 năm bởi phong kiến Trung Quốc (vài giai đoạn độc lập sau một số cuộc khởi nghĩa) và giành lại độc lập hoàn toàn sau Trận Bạch Đằng năm 938. Các thế kỷ sau, các triều đại phong kiến Việt Nam giữ độc lập (trừ giai đoạn bị Bắc thuộc triều Nhà Minh), phát triển kinh tế, chính trị, quân sự đạt giai đoạn hoàng kim thời Lê sơ dưới thời vua Lê Thánh Tông. Giữa thế kỷ XIX, Pháp xâm lược Việt Nam, lập chính quyền thuộc địa nửa phong kiến cho đến Cách mạng tháng Tám, khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập. Thất bại tại Điện Biên Phủ năm 1954 khiến Pháp thoái lui khỏi Việt Nam. Cùng năm Việt Nam bị chia cắt làm hai miền do Hoa Kỳ không công nhận Hiệp định Genève và can thiệp quân sự vào miền Nam Việt Nam. Chiến tranh Việt Nam leo thang, kết thúc với chiến thắng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam năm 1975.

Năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng cải cách kinh tế và chính trị hướng Việt Nam vào nền kinh tế thế giới. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 178 quốc gia, quan hệ kinh tếthương mạiđầu tư với trên 224 quốc giavùng lãnh thổ, là thành viên Liên Hợp Quốc, ASEAN, ASEM, APEC, WTO, Tổ chức quốc tế Pháp ngữ, Phong trào không liên kết, UNESCO và các tổ chức quốc tế, khu vực khác.[8] Kể từ năm 2000, Việt Nam là một trong những nước có mức tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới[9], tốc độ tăng này chậm lại về sau. Dù đã cải cách kinh tế – xã hội, Việt Nam vẫn gặp những vấn đề về tỷ lệ hộ nghèo, bất bình đẳng thu nhập cao, dịch vụ chăm sóc sức khỏe kém và tình trạng bất bình đẳng giới tính.[10][11][12]

Mục lục

Tên gọi

Việt Nam hiện đã từng có gần 40 tên gọi, khởi đầu từ các quốc hiệu Xích Quỷ, Văn Lang cho tới Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. "Việt Nam" (chữ Hán: 越南) chính thức trở thành quốc hiệu khi Nhà Nguyễn được Nhà Thanh thừa nhận quốc hiệu này.[13] Năm Gia Long nguyên niên (Tây lịch năm 1802), vua Gia Long cho người mang quốc thư và cống vật sang Trung Quốc đề nghị Nhà Thanh thừa nhận quốc hiệu "Nam Việt" (南越) và phong hiệu cho vua Gia Long. Nhà Thanh không đồng ý cho Nhà Nguyễn đổi quốc hiệu thành Nam Việt vì nước Nam Việt trước có cương vực gồm cả tỉnh Quảng ĐôngQuảng Tây của Trung Quốc, mà lãnh thổ của Gia Long lúc đó chỉ nằm ở Giao Chỉ. Nhà Thanh đảo ngược tên "Nam Việt" 南越 thành "Việt Nam" 越南, và triều Nguyễn chấp nhận lấy làm quốc hiệu. Chữ "Việt" 越 đặt ở đầu biểu thị đất Việt Thường, cương vực cũ của nước này. Chữ "Nam" 南 đặt ở cuối thể hiện đất An Nam, là cương vực sau này. Đặt quốc hiệu là "Việt Nam" 越南 vẫn có hai chữ "nam việt" 南越 trong tên mà không nhầm lẫn với nước Nam Việt, thể hiện vị trí địa lý nằm ở phía nam Bách Việt. Năm Gia Long thứ ba (1804), vua Gia Khánh Nhà Thanh cho án sát sứ Quảng Tây Tề Bố Sâm (齊布森) sang tuyên phong Gia Long làm "Việt Nam quốc vương" 越南國王 mặc dù các vua Nhà Nguyễn vẫn theo lệ cũ tự phong "Hoàng đế" 越南皇帝 cho ngang hàng với vua Trung Quốc.[13][14]

Quốc hiệu "Việt Nam" được chính thức sử dụng lần đầu dưới thời vua Gia Long từ năm 1804.[15] Tên gọi này sau đó xuất hiện trong tác phẩm Việt Nam vong quốc sử của Phan Bội Châu năm 1905, và sau đó được sử dụng bởi Việt Nam Quốc dân Đảng.[16] Thời Pháp thuộc, đất nước thường được gọi bằng tên "An Nam" cho tới sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền Việt MinhHà Nội chính thức đặt quốc hiệu là "Việt Nam".[17]

Lịch sử

Bài chi tiết: Lịch sử Việt Nam

Lịch sử Việt Nam có thể chia ra các giai đoạn: tiền sử, Bắc thuộc, trung đại, cận đại và hiện đại.

Thời tiền sử và cổ đại

 
Trống đồng Đông Sơn - một ví dụ tiêu biểu cho Văn hóa Đông Sơn của người Việt cổ (700 TCN – 100).

Các nhà khảo cổ học tìm thấy những dấu vết của người đứng thẳng (Homo erectus) thời kỳ đồ đá cũ trên lãnh thổ Việt Nam cách đây khoảng 500.000 năm; các công cụ thô sơ bằng đá và các dấu răng của người tiền sử được phát hiện tại các tỉnh Lạng Sơn, Thanh Hóa, Yên Bái, Ninh BìnhQuảng Bình.[18] Tại các vùng phía Bắc, con người sinh sống trong các hang động đá vôi và sống bằng các hoạt động săn thú, hái lượm. Trong khi đó, tại các vùng duyên hải miền Trung như Nghệ An, con người chủ yếu sống bằng hoạt động đánh cá.[18]

Đến thời đại đồ đá mới cách đây 5000–6000 năm, người Việt cổ bắt đầu biết canh tác lúa nước; loạt dấu vết trồng lúa được phát hiện từ cao nguyên tới đồng bằng.[18] Ngoài ra, con người bắt đầu biết chế tác công cụ tinh tế hơn và làm đồ gốm với kỹ thuật tinh xảo.[18] Đến khoảng năm 1000 TCN, khu vực lúa nước ở sông Hồng và sông Cả phát triển thành nền văn hóa Đông Sơn với những trống đồng đặc trưng.[19] Sau đó, những nhà nước đầu tiên, Văn LangÂu Lạc, lần lượt xuất hiện vào khoảng thiên niên kỷ I TCN.[20]

Thời trung đại

 
Hoàng thành Thăng Long là nơi đóng đô của nhiều triều đại phong kiến Việt Nam
 
Bản đồ thể hiện sự thay đổi lãnh thổ Việt Nam từ triều đại nhà Lý năm 1009 đến hết triều đại nhà Nguyễn năm 1945 và công cuộc Nam tiến mở rộng bờ cõi nước Việt từ Bắc xuống Nam trong vòng từ năm 1069-1757

Từ thế kỷ II TCN, các triều đại phong kiến Trung Quốc cai trị người Việt trong hơn 1000 năm.[21] Sau các lần khởi nghĩa không thành của những tướng lĩnh như Bà Triệu, Mai Thúc Loan hoặc giành độc lập trong thời gian ngắn như Hai Bà Trưng, Lý Bí, đến năm 905, Khúc Thừa Dụ giành quyền tự chủ cho người Việt, song chưa hẳn là độc lập dân tộc vì Dụ tự nhận mình là quan triều đình phương Bắc.[22] Đến năm 938, sau khi chỉ huy trận chiến trên sông Bạch Đằng đánh bại quân Nam Hán,[23] Ngô Quyền lập triều xưng vương, đánh dấu việc người Việt độc lập khỏi các triều đình phương Bắc.

Sau nhà Ngô, lần lượt các triều Đinh, Tiền Lê, Trần tổ chức chính quyền tương tự các triều đại Trung Hoa, lấy Phật giáo làm tôn giáo chính của quốc gia và cho truyền bá cả Nho giáoĐạo giáo. Giai đoạn này, nhà Tiền Lê, nhà Lýnhà Trần đã có một số lần chống trả các cuộc tấn công của nhà Tốngnhà Nguyên, đều thắng lợi và bảo vệ nền độc lập của Đại Việt, trong đó có ba lần đánh thắng quân Nguyên Mông xâm lược dưới thời nhà Trần. Năm 1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, lập ra nhà Hồ, đổi tên nước là Đại Ngu, tiến hành cải cách. Năm 1407, Đại Ngu bị Nhà Minh của Trung Hoa thôn tính. Một số thành viên của hoàng tộc nhà Trần đứng lên khởi nghĩa, lập ra nhà Hậu Trần nhưng bị quân Minh đánh bại sau 7 năm kháng chiến. Năm 1427, Lê Lợi đánh đuổi quân Minh, lập nhà Hậu Lê, giành lại độc lập. Đây là triều đại mà chế độ phong kiến Việt Nam đạt đến đỉnh cao, đặc biệt là đời vua Lê Thánh Tông (1460–1497).[24]

Vào đầu thế kỷ XVI, khi Nhà Lê sơ suy yếu, Nhà Mạc đã cướp ngôi nhưng một bộ phận quan lại trung thành đã lập người khác trong dòng dõi vua Lê lên làm vua, tái lập Nhà Lê. Nhà Lê Trung Hưng giao tranh với Nhà Mạc sau 60 năm thì chiến thắng, diệt được Nhà Mạc. Nhưng vua Lê lại là bù nhìn, hai tập đoàn phong kiến mới Chúa TrịnhChúa Nguyễn tranh chấp nhau, gây ra cuộc nội chiến kéo dài hơn 100 năm, chia cắt Đại Việt thành đàng Ngoàiđàng Trong trong 200 năm. Cuối thế kỷ XVIII, một tướng khởi nghĩa tên là Nguyễn Huệ trong vòng 15 năm đã đánh bại hai lực lượng Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn cùng các cuộc xâm chiếm của Xiêm và Thanh để lập Nhà Tây Sơn, tái thống nhất Đại Việt. Nguyễn Huệ mất sớm, với người kế vị Hoàng đế Cảnh Thịnh, Tây Sơn bị Nguyễn Ánh, một thành viên dòng họ Chúa Nguyễn cùng với viện trợ từ Pháp lật đổ, lập Nhà Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam.[25] Suốt thời phong kiến, các triều , Trần, Hậu Lêchúa Nguyễn thu phục Chiêm Thành, Chân LạpTây Nguyên ở phía Nam, mở mang bờ cõi.[26]

Thời cận, hiện đại

 
Lễ tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945.

Việt Nam tiếp xúc với phương Tây từ thế kỷ 16. Vào thế kỷ 17, Đàng TrongĐàng Ngoài tiến hành trao đổi thương mại trước hết với Bồ Đào NhaHà Lan,[27] sau thêm AnhPháp. Các tu sĩ Dòng Tên do Bồ Đào Nha bảo trợ[28] đến truyền bá Công giáo từ năm 1615, được Hội Thừa sai ParisDòng Đa Minh tiếp nối. Công giáo tại Việt Nam phát triển trong hai thế kỷ tiên khởi 17 và 18.[29] Từ thời Gia Long, Nhà Nguyễn bế quan tỏa cảng, cấm ngoại thương, không tiếp xúc với công nghệ tiên tiến. Nửa sau thế kỷ 19, Pháp xâm lược bán đảo Đông Dương, thâu tóm nhà Nguyễn và thành lập Liên bang Đông Dương năm 1887. Thời Pháp thuộc, văn hóa, khoa học, kỹ thuật phương Tây được truyền bá song hành truyền thống.[30] Chính quyền thực dân bóc lột thuộc địa, khai thác tài nguyên đưa về Pháp.

Thế chiến thứ hai, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương, dựng chính thể Đế quốc Việt Nam với Nội các do Trần Trọng Kim đứng đầu. Chính phủ không có thực quyền, phải nộp thuế và cung ứng Nhật tài nguyên gồm lúa gạo, góp phần gây nạn đói năm Ất Dậu. Với sự chuẩn bị từ trước và ủng hộ của đa số, khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, Hồ Chí Minh lãnh đạo Việt Minh giành chính quyền từ tay Nhật. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập thành lập Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tới tháng 1 năm 1946, Chính phủ lâm thời tổ chức Tổng tuyển cử, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là đại diện hợp pháp duy nhất cho Việt Nam.[31] Sau Thế chiến, Pháp muốn lấy lại Đông Dương nhưng vấp phải phản kháng của phía ủng hộ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Để đối chọi, năm 1949, Pháp hậu thuẫn thành lập Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại, cựu hoàng đế Nhà Nguyễn làm Quốc trưởng.[32]

 
Chiếc xe tăng số 390 của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam – chiếc xe đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập trưa ngày 30/4/1975.

Chiến thắng của Việt Minh tại Điện Biên Phủ năm 1954 buộc Pháp rút khỏi Đông Dương. Hiệp định Genève lấy vĩ tuyến 17 chia Việt Nam thành hai vùng tập kết quân sự với Quân đội Nhân dân Việt Nam ở phía bắc và quân đội Liên Hiệp Pháp ở phía nam, dự kiến sau hai năm sẽ tổng tuyển cử cả nước.[33] Tuy nhiên, sau các can thiệp chính trị bên ngoài tại miền Nam, Việt Nam Cộng hòa kế thừa của Quốc gia Việt Nam, được Hoa Kỳ hỗ trợ tài chính, quân sự và được công nhận bởi các quốc gia đồng minh, tuyên bố không thi hành bầu cử thống nhất.[34] Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại miền bắc do Đảng Lao động Việt Nam lãnh đạo theo mô hình các nước xã hội chủ nghĩa đồng minh hậu thuẫn Chính phủ Cách mạng lâm thời ở miền nam, theo đường lối dân tộc chủ nghĩa, có lập trường chống Mỹ và Việt Nam Cộng hòa để thống nhất Việt Nam, tạo nên cuộc xung đột quân sự kéo dài hai thập kỷ. Sau đảo chính 1963, Việt Nam Cộng hòa tiếp tục xảy ra đảo chính và phản đảo chính.[35][36][37] Năm 1964, Hoa Kỳ đưa quân chiến đấu trực tiếp tại miền nam và bắt đầu ném bom miền Bắc.[38] Cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968 làm phong trào phản chiến gia tăng.[39] Năm 1973, sau những tổn thất chiến trường và khó khăn chính trường, tác động của phong trào phản chiến và chuyến thăm Trung Quốc của Richard Nixon,[40] Hoa Kỳ ký Hiệp định Paris rút phần lớn quân khỏi Việt Nam. Cuộc chiến kết thúc ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi tổng thống Dương Văn Minh của Việt Nam Cộng hòa tuyên bố đầu hàng.[41]

Năm 1976, Cộng hòa miền Nam Việt NamViệt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức tổng tuyển cử gộp nhất, đặt quốc hiệu Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Sau chiến tranh, do bùng nổ Chiến tranh biên giới phía Bắc chống Trung Quốc và Chiến tranh biên giới Tây Nam tiêu diệt chính quyền Khmer ĐỏCampuchia và chính sách kinh tế bao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời bị Hoa Kỳ cấm vận gần hai thập kỷ, Việt Nam hậu chiến lâm vào khủng hoảng kinh tếxã hội.[42] Năm 1986, Đại hội Đảng lần VI năm 1986 chấp thuận Đổi mới, cải tổ nhà nước và chuyển nền kinh tế theo hướng thị trường định hướng chủ nghĩa xã hội.[43] Thập niên 1990, Việt Nam bắt đầu hội nhập quốc tế, bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ năm 1994,[42] và gia nhập ASEAN năm sau đó.

Địa lý

Bài chi tiết: Địa lý Việt Nam
Trái: Cánh đồng lúa ở Cái Mơn
Phải: Tuyến độc đạo lên đỉnh Phan Xi Păng (độ cao 3.000m)
 
Bản đồ địa hình Việt Nam

Việt Nam nằm trên bán đảo Đông Dương, thuộc vùng Đông Nam châu Á, có lãnh thổ chạy dọc bờ biển phía đông của bán đảo này. Phần đất liền hẹp ngang, chạy dài theo chiều bắc – nam. Khoảng cách giữa cực bắc (Lũng Cú) và cực nam (mũi Cà Mau) theo đường chim bay là 1650 km. Vị trí chiều ngang hẹp nhất ở Quảng Bình chưa đầy 50 km. Đường biên giới đất liền dài 4.550 km: phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Tây giáp LàoCampuchia, phía Đông giáp Biển Đông.[44] Diện tích Việt Nam là 331.698 km², gồm khoảng 327.480 km² đất liền và hơn 4.500 km² vùng nước nội thủy (hồ nước ngọt lớn, mặt sông lớn, biển nội thủy ven biển), với hơn 2.800 hòn đảo, bãi đá ngầm, gồm cả Trường SaHoàng Sa mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền.

Địa hình Việt Nam có núi rừng chiếm khoảng 40%, đồi 40%, và độ che phủ khoảng 75% diện tích đất nước. Có nhiều dãy núi và cao nguyên như các dãy Đông Triều, Bắc Sơn, Ngân Sơn, Sông Gâm, Hoàng Liên Sơn, các cao nguyên Sơn La, Mộc Châu ở phía bắc, dãy núi Bạch Mã, Trường Sơn, cao nguyên Kon Tum, Pleiku, Đắk Lắk, Lâm Viên, Mơ Nông, Di Linh ở Tây Nguyên. Đồng bằng chiếm một phần tư diện tích, gồm các đồng bằng châu thổ như đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và các vùng đồng bằng ven biển như Bắc Trung BộNam Trung Bộ. Đồng bằng là nơi tập trung dân cư. Tổng thể Việt Nam gồm ba miền với miền Bắc có cao nguyên và vùng châu thổ sông Hồng, miền Trung là phần đất thấp ven biển, những cao nguyên theo dãy Trường Sơn, và miền Nam là vùng châu thổ Cửu Long. Điểm cao nhất Việt Nam là 3.143 mét, tại đỉnh Phan Xi Păng, thuộc dãy núi Hoàng Liên Sơn. Diện tích đất canh tác chiếm 17% tổng diện tích đất Việt Nam.

Đất Việt Nam chủ yếu là loại đất ferralit giàu sắt ở vùng đồi núi và đất phù sa màu mỡ ở đồng bằng. Đất ferralitic hình thành trên đá bazanTây Nguyên tơi xốp và phì nhiêu. Vùng ven biển đồng bằng sông Hồng và vùng đồng bằng sông Cửu Long có nhiều đất phèn. Rừng ở Việt Nam chủ yếu là rừng rậm nhiệt đới trên vùng đồi núi. Ở vùng đất thấp ven biển có rừng ngập mặn. Về tài nguyên đất, Việt Nam có rừng tự nhiên và các mỏ khoáng sản trên đất liền với phốt phát, than đá, chôrômát, vàng... Than đá có nhiều ở Quảng Ninh, Thái Nguyên và đồng bằng sông Hồng. Sắt ở Thái Nguyên, Hà Tĩnh. Về tài nguyên biển thì có , tôm, dầu mỏ, khí tự nhiên.

Mạng lưới sông ngòi có các sông lớn ở phía bắc là sông Hồng, sông Đà, sông Thái Bình,... Các sông lớn ở phía nam là sông Tiền, sông Hậusông Đồng Nai. Mùa mưa, các sông Việt Nam thường gây ra lũ lụt. Hệ thống sông, hồ nhiều ở miền núi phía bắc và Tây Nguyên. Biển Đông bao bọc phía đông, nam và Tây Nam Việt Nam. Các vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tếthềm lục địa được Chính phủ Việt Nam xác định gần gấp ba lần diện tích đất liền, khoảng trên 1 triệu km².

Khí hậu

Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết biến động thường xuyên. Phía bắc dãy Bạch Mã có hai mùa gió chính: gió mùa Đông Bắc lạnh và khô vào mùa đông tạo nên mùa đông lạnh; gió tây nam nóng khô và đông nam ẩm ướt vào mùa hè. Phía nam có gió đông bắc vào mùa khô và gió tây nam vào mùa mưa. Do nằm dọc theo bờ biển, khí hậu Việt Nam được điều hòa một phần bởi các dòng biển và mang nhiều yếu tố khí hậu biển. Độ ẩm tương đối trung bình là 84% suốt năm. Hằng năm, lượng mưa từ 1.200 đến 3.000 mm, số giờ nắng khoảng 1.500 đến 3.000 giờ/năm và nhiệt độ từ 5 °C đến 37 °C. Hàng năm, Việt Nam trải qua lụt lội và hứng chịu 5 đến 10 cơn bão/năm. Do nằm ở Bắc Bán cầu, nên bão (gió mạnh từ cấp 8 trở lên) và áp thấp nhiệt đới (gió mạnh cấp 6 hoặc cấp 7) vào Việt Nam xoáy ngược chiều kim đồng hồ.

Nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,5 độ Celsius trong vòng 50 năm (1964–2014).[45]

Sinh thái

Việt Nam nằm trong vùng sinh thái Indomalaya. Theo Báo cáo tình trạng môi trường quốc gia năm 2005, Việt Nam là một trong 25 quốc gia được coi là có mức độ đa dạng sinh học cao duy nhất. Được xếp hạng thứ 16 trên toàn thế giới về đa dạng sinh học, là nơi sinh sống của khoảng 16% các loài trên thế giới. Có 15.986 loài thực vật đã được tìm thấy trong cả nước, trong đó 10% là loài đặc hữu, Việt Nam có 307 loài giun tròn, 200 loài oligochaeta, 145 loài acarina, 113 loài bọ đuôi bật, 7.750 loài côn trùng, 260 loài bò sát, 120 loài lưỡng cư, 840 loài chim và 310 loài động vật có vú, trong đó có 100 loài chim và 78 loài động vật có vú là loài đặc hữu. Ngoài ra còn có 1.438 loài tảo nước ngọt, chiếm 9,6% tổng số loài tảo, cũng như 794 loài thủy sinh không xương sống và 2,458 loài cá biển. Vào cuối những năm 1980, một quần thể Tê giác Java nhỏ được tìm thấy ở Vườn Quốc gia Cát Tiên. Tuy nhiên, cá thể cuối cùng của loài này ở Việt Nam đã chết vào năm 2010.

Ngân hàng gen quốc gia Việt Nam bảo tồn 12.300 giống của 115 loài. Chính phủ Việt Nam đã chi 497 triệu đô la Mỹ để duy trì đa dạng sinh học trong năm 2004 và đã thiết lập 126 khu bảo tồn, trong đó có 28 vườn quốc gia. Việt Nam có 2 di sản thiên nhiên thế giớiVịnh Hạ LongVườn quốc gia Phong Nha ‒ Kẻ Bàng cùng 6 khu dự trữ sinh quyển, bao gồm Rừng ngập mặn Cần Giờ, Cát Tiên, Cát Bà, Kiên Giang, Đồng bằng sông Hồng và Tây Nghệ An.

Phân cấp hành chính

Bản đồ hành chính Việt Nam.

Phân cấp hành chính Việt Nam gồm 3 cấp: cấp tỉnh và tương đương, cấp huyện và tương đương, cấp xã và tương đương.

Việt Nam được chia ra 58 tỉnh và 5 thành phố trực thuộc trung ương trong đó có Thủ Đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh(Thành phố lớn nhất), Hải Phòng (thành phố Cảng), Đà Nẵng (thành phố Du Lịch và Cần Thơ. Cả năm thành phố đại diện cho 4 vùng : Vùng Đồng bằng sông HồngHà NộiHải Phòng; Vùng Nam Trung BộĐà Nẵng; Vùng Đông Nam BộThành phố Hồ Chí MinhTây Nam BộCần Thơ. Cả năm thành phố là kinh tế mũi nhọn của cả nước. 63 đơn vị hành chính cấp tỉnh và tương đương của Việt Nam lần lượt (sắp xếp theo bảng chữ cái):

(*) Thành phố trực thuộc trung ương

Dưới cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương là cấp quận, huyện, thị xãthành phố trực thuộc tỉnh. Tính đến năm 2015, Việt Nam có 713 đơn vị cấp quận/huyện/thị xã/thành phố thuộc tỉnh.

Dưới cấp quận/huyện/thị xã/thành phố thuộc tỉnh là các đơn vị hành chính phường, , thị trấn.

Dưới cấp phường/xã/thị trấn là các khu vực với các tên gọi khác nhau ở các vùng miền như khu phố, tổ dân phố, làng, thôn, ấp, khóm, buôn, bản, xóm.

Chính trị

Bài chi tiết: Chính trị Việt Nam

Việt Nam cho tới 2018 là một nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa. Hệ thống chính trị thực hiện theo cơ chế có duy nhất một đảng chính trịĐảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, với tôn chỉ: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ thông qua cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội Việt Nam. Vào năm 2016, các đại biểuĐảng viên trong Quốc hội có tỉ lệ là 95,8%[46], những người đứng đầu Chính phủ, các Bộ và Quốc hội cũng như các cơ quan tư pháp đều là Đảng viên và được Ban Chấp hành Trung ương hoặc Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam đề cử.

Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất lãnh đạo trên chính trường Việt Nam theo quy định trong Điều 4 của Hiến pháp 2013, vẫn cam kết với các nguyên tắc của Lênin "tập trung dân chủ", mà không cho phép thành lập một hệ thống đa đảng.[47] Người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam là Tổng Bí thư là một trong những người có quyền lực cao nhất Việt Nam, vì đứng đầu đảng duy nhất hợp lệ, cùng với Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ nắm quyền lập pháp, hành pháp. Tổng Bí thư từ đại hội XIINguyễn Phú Trọng.

Lập pháp

Quốc hội, theo hiến pháp là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiếnlập pháp với nhiệm vụ giám sát, quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, những nguyên tắc chủ yếu của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân. Trên 90% đại biểu Quốc hộiĐảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam nên quốc hội không độc lập từ đảng, tuân thủ gần tuyệt đối các quy định của Đảng, tuy nhiên sau thời Đổi mới, vai trò của Quốc hội đẩy lên cao hơn. Nhiệm kỳ Quốc hội là 5 năm. Chủ tịch Quốc hội được Quốc hội bầu do đề cử của Ban Chấp hành Trung ương. Chủ tịch Quốc hội từ năm 2016 là Nguyễn Thị Kim Ngân.

Hành pháp

 
Nhà Quốc hội (thay thế cho Hội trường Ba Đình).

Chủ tịch nước, theo Hiến pháp là người đứng đầu Nhà nước, nguyên thủ quốc gia được Quốc hội bầu do Chủ tịch Quốc hội giới thiệu từ đề cử của Ban Chấp hành Trung ương. Chủ tịch nước có 6 quyền hạn theo Hiến pháp 2013, trong đó: Công bố hiến pháp, luật, pháp lệnh; Tổng Tư lệnh các lực lượng vũ trang nhân dân và Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh Quốc gia; Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Chủ tịch nước thay mặt Nhà nước về đối nội và đối ngoại. Chủ tịch nước hiện nay là Nguyễn Phú Trọng.

Chính phủ, theo hiến pháp là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất. Chính phủ chịu giám sát và thực hiện báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước. Chính phủ gồm Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ. Đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng Chính phủ do Chủ tịch nước giới thiệu từ đề cử của Ban Chấp hành Trung ương để Quốc hội bầu. Thủ tướng Chính phủ từ 2016 là Nguyễn Xuân Phúc. Các Phó Thủ tướng do Thủ tướng đề nghị Quốc hội phê chuẩn, là người giúp việc hoặc ủy nhiệm Thủ tướng khi Thủ tướng vắng mặt. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ do Thủ tướng đề nghị Quốc hội phê chuẩn, đảm nhiệm chức năng quản lý Nhà nước đối với ngành hoặc lĩnh vực công tác được giao. Việc tổ chức nhân sự cấp cao này đều thông qua Bộ Chính trị quản lý. Các Thứ trưởng và chức vụ tương đương do Thủ tướng bổ nhiệm, nhưng Ban Bí thư thông qua và quản lý. Chính phủ Việt Nam có 18 bộ, 4 cơ quan ngang bộ và 8 cơ quan trực thuộc.

Tư pháp

Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của Việt Nam. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao là người đứng đầu Tòa án nhân dân tối cao, từ năm 2016 là Nguyễn Hòa Bình. Bên dưới Tòa án nhân dân tối cao là tòa án thành phố và các tòa án địa phương. Tòa án quân sự có thẩm quyền đặc biệt trong các vấn đề an ninh quốc gia. Việt Nam vẫn duy trì án tử hình; tính đến tháng 2 năm 2014, có khoảng 700 tù nhân bị tử hình ở Việt Nam.

Viện kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan giữ quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp cao nhất của Việt Nam. Đứng đầu cơ quan này là Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, từ năm 2017 là Lê Minh Trí.

Quân đội

 
Lính danh dự Việt Nam diễu binh trước Trung tâm Hội nghị Quốc gia, trong Hội nghị thượng đỉnh ASEAN năm 2010 tại Hà Nội

Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam bao gồm Quân đội nhân dân Việt Nam, Công an nhân dân Việt NamDân quân tự vệ. Quân đội nhân dân Việt Nam (VPA) là tên chính thức cho tổ chức quân sự hoạt động ở Việt Nam, được chia thành:

  • Quân chủng Lục quân: không tổ chức thành Bộ tư lệnh riêng như Hải quân, Phòng không- Không quân. Các đơn vị quân đoàn chủ lực và binh chủng thuộc quân chủng lục quân do Bộ Tổng tham mưu trực tiếp quản lý chỉ đạo.
  • Quân chủng Hải quân: được xây dựng trên cơ sở Cục Phòng thủ Bờ biển. Ngày thành lập 7.5.1955.
  • Quân chủng Phòng không – Không quân: Từ năm 2000, hai quân chủng Phòng không và Không quân được hợp nhất lại thành Quân chủng Phòng không – Không quân.

VPA có số lượng khoảng 450.000 người, nhưng tổng lực lượng, bao gồm cả lực lượng bán quân sự, có thể lên tới 5.000.000 người. Năm 2011, chi phí đầu tư quân sự ở Việt Nam khoảng 2,48 tỷ USD, tương đương khoảng 2,5% GDP năm 2010.

Quan hệ đối ngoại

 
Quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và các nước trên thế giới
  Việt Nam
  Quốc gia có quan hệ ngoại giao với Việt Nam
  Thực thể có quan hệ ngoại giao không chính thức với Việt Nam
  Quốc gia không có quan hệ ngoại giao với Việt Nam

Theo các văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng Cộng sản Việt Nam: Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam chủ trương đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế với phương châm "Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hòa bình, độc lậpphát triển".

Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc vào năm 1977. Từ sau thời kỳ đổi mới, Việt Nam chính thức bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc vào năm 1992 và với Hoa Kỳ vào năm 1995, gia nhập khối ASEAN năm 1995. Hiện đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 189 quốc gia (gồm 43 nước châu Á, 47 nước châu Âu, 14 nước châu Đại Dương, 30 nước châu Mỹ, 55 nước châu Phi).[48] Việt Nam cũng là thành viên của 63 tổ chức quốc tế và có quan hệ với hơn 650 tổ chức phi chính phủ.[49] Đồng thời có quan hệ thương mại với 165 nước và vùng lãnh thổ. Trong tổ chức Liên Hiệp Quốc, Việt Nam đóng vai trò là ủy viên ECOSOC, ủy viên Hội đồng chấp hành UNDP, UNFPAUPU.

Vai trò đối ngoại của Việt Nam trong đời sống chính trị quốc tế đã được thể hiện thông qua: tổ chức các hội nghị cấp cao ASEAN (1998), ASEM (2004), Thượng đỉnh APEC (2006, 2017), Cộng đồng Pháp ngữ (1997); làm thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ 2008–2009, thành viên của ECOSOC nhiệm kỳ 2016–2018,[50] chủ tịch ASEAN năm 2010.

Kinh tế

 
Gạo – một trong những mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam.
 
Một góc Thành phố Hồ Chí Minh – trung tâm kinh tế lớn nhất Việt Nam.

Từ ngàn năm nay, Việt Nam là một nước nông nghiệp. Trước năm 1986, Việt Nam là một quốc gia có nền kinh tế kế hoạch tương tự nền kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa. Chính sách Đổi mới năm 1986 thiết lập mô hình kinh tế mà Việt Nam gọi là "Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa". Các thành phần kinh tế được mở rộng nhưng các ngành kinh tế then chốt vẫn dưới sự điều hành của Nhà nước. Từ năm 1993 đến 1997, kinh tế Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình hằng năm khoảng 9%. Tăng trưởng GDP 8,5% vào năm 1997 đã giảm xuống 4% vào năm 1998 do ảnh hưởng của sự kiện khủng hoảng kinh tế Á châu năm 1997, và tăng lên đến 4,8% năm 1999. Tăng trưởng GDP tăng lên từ 6% đến 7% giữa những năm 2000–2002 trong khi tình hình kinh tế thế giới đang trì trệ. Ngày 7 tháng 11 năm 2006, Việt Nam được phép gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sau khi đã kết thúc đàm phán song phương với tất cả các nước có yêu cầu (trong đó có những nền kinh tế lớn như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Trung Quốc). Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức WTO ngày 11 tháng 1 năm 2007.[51]

Ngày 3 tháng 4 năm 2013, tại một hội thảo tại Hà Nội, các chuyên gia kinh tế đã nhận định nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng chậm lại sau 5 năm gia nhập WTO. Cụ thể, trong giai đoạn 2007–2011, chỉ có 1 năm (2008) Việt Nam đạt mức tăng trưởng GDP trên 8%. Tuy xuất khẩu tăng 2,4 lần lên 96,9 tỷ USD giai đoạn này nhưng mức tăng trưởng thấp hơn 5 năm trước khi gia nhập WTO. Đa phần tỷ trọng xuất khẩu là do khối doanh nghiệp FDI, chiếm khoảng 60%, mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam vẫn chủ yếu là nông – lâm sản, và khoáng sản thô. Sau hội nhập, tỷ trọng nhập siêu cũng tăng mạnh, 18 tỷ USD vào năm 2008. Kinh tế Việt Nam bị ảnh hưởng bởi giai đoạn khủng hoảng kinh tế từ 2007-2008 đến nay. Đến năm 2013, tình hình kinh tế Việt Nam tiếp tục đối mặt với áp lực, từ nợ xấu đến lạm phát, tín dụng tăng trưởng thấp.[52] Tình trạng tham nhũng không được cải thiện và luôn bị xếp hạng ở mức độ cao của thế giới[53][54] các khó khăn về vốn, đào tạo lao động, đất đai, cải cách hành chính, cơ sở hạ tầng, việc kinh doanh với hàng chục ngàn thủ tục từ 20 năm trước đang tồn tại và không phù hợp với nền kinh tế thị trường. Theo thống kê năm 2015 của Ngân hàng Thế giới thì PPP đầu người của Việt Nam năm 2014 là 5.294,4 USD, bằng 55,4% so với Indonesia, 65% so với Philippines, 37% so với Thái Lan và bằng 6,7% so với Singapore.[55]

Về địa lý kinh tế, Chính phủ Việt Nam phân chia và quy hoạch thành các vùng kinh tế-xã hội và các vùng kinh tế trọng điểm ở miền Bắc, miền Trung và miền Nam.

 
So sánh GDP-PPP giữa Việt Nam và các nước công nghiệp mới qua các năm 1980-2014
 
So sánh GDP-PPP bình quân đầu người giữa Việt Nam và một số nước trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á năm 2010
Một số dữ liệu 16 năm gần đây (2000-2016) - Nguồn: Tổng cục Thống kê[56]
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016
GDP
(tỷ USD,
làm tròn
)
31 32 35 39 45 52 60 70 89 91 101 135,5 155.8 171,2 186,2 193,2 202,6
GDP/đầu người
(USD)
402 416 441 492 561 642 730 843 1052 1064 1168 1.300 1.540 1.960 2.028 2109 2.215
Tỉ lệ tăng giảm GDP
(tăng giảm % so với năm trước)
6,8 6,9 7,1 7,3 7,8 8,4 8,2 8,5 6,2 5,3 6,7 5,89 5,03 5,42 5,98 6,68 6,21
Tỉ lệ tăng giảm GDP (%)
theo ngân hàng thế giới[57]
6,79 6,19 6,32 6,90 7,54 7,55 6,98 7,13 5,66 5,40 6,42 6,24 5,25 5,42 5,98 6,68 6,21
Xuất khẩu
(tỷ USD,
làm tròn
)
14 15 16 20 26 32 39 48 62 57 71 96,91 114,57 132,2 150,1 162,4 175,94
Nhập khẩu
(tỷ USD,
làm tròn
)
15 16 19 25 31 36 44 62 80 69 84 106,75 113,79 131,3 148 165,6 173,26
Chênh lệch–nhập siêu
(tỷ USD,
làm tròn
)
-1 -1 -3 -5 -5 -4 -5 -14 -18 -12 -13 -8,84 0,78 0,9 2,1 -3,2 2,68
FDI-đăng ký
(tỷ USD,
làm tròn
)
2,8 3,1 2,9 3,1 4,5 6,8 12,0 21,3 71,7 23,1 18,6 14 16,3 22,35 20,23 22,76 24,4
FDI-thực hiện
(tỷ USD,
làm tròn
)
2,4 2,4 2,5 2,6 2,8 3,3 4,1 8,0 11,5 10 11 11 10,46 11,5 12,35 14,5 15,8
Chênh lệch đăng ký-thực hiện FDI
(tỷ USD,
làm tròn
)
-0,4 -0,7 -0,4 -0,5 -1,7 -3,5 -7,9 -13,3 -60,2 -13,1 -7,6 -3 -5,84 -10,85 -7,88 -8,26 -8,6
Kiều hối
(tỷ USD,
làm tròn
)
1,7 1,8 2,1 2,7 3,2 3,8 4,7 5,5 7,2 6,2 8,1 9 10 11 12 12,25 9
Tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
(1000 tỷ VNĐ,
làm tròn
)
220 245 280 333 398 480 596 746 1009 1197 1561
Chỉ số giá tiêu dùng CPI
(tăng giảm % so với năm trước)
-0,6 0,8 4,0 3,0 9,5 8,4 6,6 12,6 19,9 6,5 11,7 18,58 6,81 6,04 4,09 0,63 4,74
Tăng giảm giá USD
(tăng giảm % so với năm trước)
3,4 3,8 2,1 2,2 0,4 0,9 1,0 -0,3 6,3 10,7 9,6 10.01 -1 1 1 3
Tăng giảm giá Vàng
(tăng giảm % so với năm trước)
-1,7 5,0 19,4 26,6 11,7 11,3 27,2 27,3 6,8 64,3 30,0

Các tỉnh thành có GDP bình quân đầu người cao nhất (xếp theo thứ tự từ cao xuống thấp): Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Cần Thơ, Hà Nội, Bình Dương, Đồng Nai, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, Hải Phòng, Tây Ninh, Kiên Giang, Quảng Ngãi, Lâm Đồng, đạt trên 2450 USD, theo sau là Khánh Hòa, Long An, Quảng Nam, Nam Định... Trong đó, Thành phố Hồ Chí Minh hiện đóng góp   tổng GDP cả nước. Các tỉnh thành có GDP bình quân đầu người thấp nhất (xếp theo thứ tự từ thấp lên cao): Hà Giang, Lai Châu, Cao Bằng, Điện Biên, Bắc Kạn, Yên Bái, Sơn La, Quảng Bình, Ninh Thuận, Nghệ An, Phú Thọ, Tuyên Quang, Thái Bình, Đồng Tháp, Phú Yên khoảng dưới 1530 USD, xếp sát là Thanh Hóa, Trà Vinh,... (2015). GDP bình quân đầu người Việt Nam năm 2015 ước đạt 2.109 USD, tính theo sức mua tương đương là ~5.800 USD.

Giao thông

Các tuyến giao thông nội địa chủ yếu từ đường bộ, đường sắt, đường hàng không đều theo hướng bắcnam. Hệ thống đường bộ gồm các quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ... có tổng chiều dài khoảng 222.000 km, phần lớn các tuyến đường quốc lộ và tỉnh lộ đều được trải nhựa và bê tông hóa, số ít các tuyến đường huyện lộ tại các tỉnh vùng sâu, vùng xa đang còn là các con đường đất. Hệ thống đường sắt Việt Nam có tổng chiều dài 2652 km, trong đó tuyến đường chính Hà NộiThành phố Hồ Chí Minh dài 1726 km được gọi là Đường sắt Bắc Nam. Ngoài ra, còn có các tuyến đường sắt ngắn từ Hà Nội đi Hải Phòng (hướng đông), Lạng Sơn (hướng bắc), Lào Cai (hướng tây bắc).

Các tuyến đường thủy nội địa chủ yếu nằm theo hướng đôngtây dựa theo các con sông lớn như sông Đà, sông Hồng (miền Bắc), sông Tiền, sông Hậu (miền Tây Nam Bộ), và sông Đồng Nai, sông Sài Gòn (miền Đông Nam Bộ). Việt Nam có 3.360 km đường bờ biển. Dự kiến quy hoạch chi tiết tuyến đường bộ ven biển Việt Nam trong tương lai là tuyến đường bắt đầu tại cảng Núi Đỏ, Mũi Ngọc (xã Bình Ngọc, Móng Cái, Quảng Ninh) tới cửa khẩu Hà Tiên (thị xã Hà Tiên, Kiên Giang) với chiều dài khoảng 3.041 km. Hệ thống đường biển xuất phát từ các cảng biển lớn ở 3 miền như cảng Hải Phòng, cảng Cái Lân (miền Bắc), cảng Tiên Sa, cảng Quy Nhơn (miền Trung) và cảng Sài Gòn, cảng Thị Vải (miền Nam).

Hệ thống đường hàng không Việt Nam gồm các sân bay quốc tế có các tuyến bay đi các nước và các sân bay nội địa trải đều ở khắp ba miền, 3 sân bay quốc tế hiện đang khai thác là Tân Sơn Nhất (Thành phố Hồ Chí Minh), sân bay Đà Nẵng (Đà Nẵng) và Nội Bài (Hà Nội), và các sân bay dự kiến khai thác đường bay quốc tế trong thời gian tới là Cam Ranh (Khánh Hòa), Cát Bi (Hải Phòng) và Phú Bài (Thừa Thiên – Huế), và đang xây dựng sân bay Long Thành (Đồng Nai).

Tỉ lệ tăng giảm luân chuyển hành khách qua từng năm (giai đoạn 2000–2010)

Nguồn: Tổng cục Thống kê
Đơn vị: %

Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Đường bộ 5,2 4,6 9,4 19 12,5 12,7 12,9 13,3 9,8 10,2 12,5
Đường sắt 17,6 7,1 7,9 10,1 7,6 4,3 -5,0 7,5 -2,1 -9,3 8,1
Đường thuỷ 1,8 7,3 9,8 -7,4 15,3 7,9 -6,4 -1,2 3 5,4 4,1
Đường hàng không 8,4 39,4 16,2 0,1 31,7 18,8 15,2 14,6 10 2,2 30,8

Truyền thông

Truyền thông Việt Nam có bốn loại hình báo chí là báo in, báo nói, báo hìnhbáo điện tử. Việt Nam hòa mạng internet quốc tế vào năm 1997 và hơn 10 năm nay, hàng loạt báo điện tử, trang tin điện tử đã ra đời. Thống kê đến tháng 7 năm 2010, tại Việt Nam có 706 cơ quan báo chí in, trong đó có 178 báo và 528 tạp chí. Có 65 đài phát thanh – truyền hình, gồm 2 đài phát thanh – truyền hình trung ương (VTV, VOV) và 63 đài phát thanh – truyền hình ở các địa phương. Có 34 báo điện tử, 180 trang tin điện tử của các cơ quan tạp chí, báo, đài và hàng ngàn trang thông tin điện tử.[58]

Tại Việt Nam, tất cả các cơ quan truyền thông, báo chí hoạt động dưới sự quản lý và giám sát của Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam, và dưới sự định hướng của Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo luật pháp Việt Nam, hiện nay chưa cấp phép cho báo chí tư nhân hoạt động.

Du lịch

Bài chi tiết: Du lịch Việt Nam

Số lượng khách du lịch đến Việt Nam tăng nhanh nhất trong vòng 10 năm từ 2000–2010. Năm 2013, có gần 7,6 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam và năm 2017, có hơn 10 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam, các thị trường lớn nhất là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hoa KỳĐài Loan.[59]

Việt Nam có nhiều điểm du lịch đa dạng từ miền Bắc đến miền Nam, từ miền núi tới đồng bằng, bãi biển, đảo. Từ các thắng cảnh thiên nhiên tới các di tích văn hóa lịch sử,... Các điểm du lịch miền núi nổi tiếng như Sapa, Bà Nà, Đà Lạt, Tam Đảo. Các điểm du lịch ở đồng bằng như Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, TP.Hồ Chí Minh, Nam Định,... Các điểm du lịch ở các bãi biển như Hạ Long, Nha Trang, Phan Thiết, Vũng Tàu, Thịnh Long, Sầm Sơn, Cửa Lò,... và các đảo như Cát Bà, Cù lao Chàm, Côn Đảo, Phú Quốc,...

Khách và khách du lịch quốc tế đến Việt Nam qua 10 năm gần đây (2000–2010)

Nguồn: Tổng cục Thống kê Đơn vị: triệu người

Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Lượt khách đến Việt Nam 2.1 2.3 2.6 2.4 2.9 3.4 3.5 4.2 4.2 3.7 5
Lượt khách đến Việt Nam du lịch 1.1 1.2 1.4 1.2 1.5 2 2 2.6 2.6 2.2 3.1

Khoa học

Thành tựu

 
Người máy TOPIO biết đánh bóng bàn

Với khoa học xã hộinhân văn, di sản học thuật Việt Nam bao gồm Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên. Hoàng đế Trần Nhân Tông khi thoái vị đã lập ra nhánh thiền Trúc Lâm vào thế kỷ XIII. Cuốn từ điển song ngữ Hán–Việt đầu tiên là Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa của Trịnh Thị Ngọc Trúc ra đời vào thế kỷ XVII. Công trình của học giả Lê Quý Đôn là một ví dụ của bách khoa toàn thư Việt Nam.

Những thành tựu kĩ thuật công nghệ ít hơn các thành tựu văn hóa có thể kế đến là Súng thần công sáng chế và cải tiến vào thời nhà Hồ (thế kỷ XV) bởi Hồ Nguyên Trừng. Số họcHình học đã được giảng dạy rộng rãi ở Việt Nam từ thế kỷ XV, sử dụng theo cuốn Đại thành toán pháp của nhà toán học Lương Thế Vinh làm nền tảng. Lương Thế Vinh đưa ra khái niệm số không, trong khi Mạc Hiển Tích dùng thuật ngữ số ẩn ("secret/hidden number") để chỉ đến số âm. Hoàng Tụy được coi là cha đẻ của lĩnh vực Tối ưu hóa toàn cục (Global Optimization) trong Toán học Ứng dụng của thế kỷ XX, trong khi Ngô Bảo Châu đã giành được Huy chương Fields năm 2010 cho chứng minh của ông về Bổ đề cơ bản cho các dạng tự đẳng cấu do Robert Langlands và Diana Shelstad phỏng đoán. Việt Nam có những tiến bộ trong phát triển robot, với mô hình hình người máy TOPIO.

 
Ngô Bảo Châu, nhà toán học người Việt đầu tiên nhận giải Field.

Chính sách

Năm 2010, tổng chi tiêu của Nhà nước vào khoa học và công nghệ chiếm khoảng 0,45% GDP. Theo UNESCO, Việt Nam đã dành 0,19% GDP để nghiên cứu và phát triển khoa học vào năm 2011. Từ năm 2005 đến năm 2014, số lượng các ấn phẩm khoa học được ghi lại trong Web Khoa học của Thomson Reuters đã tăng lên cao hơn mức trung bình ở khu vực Đông Nam Á. Ấn phẩm tập trung chủ yếu vào khoa học đời sống, vật lý và kỹ thuật.

Chiến lược tìm cách thúc đẩy hợp tác khoa học quốc tế lớn hơn, với kế hoạch thiết lập mạng lưới các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài và khởi xướng một mạng lưới kết nối các tổ chức khoa học quốc gia với các đối tác nước ngoài. Ngoài ra còn có bộ chiến lược phát triển quốc gia cho các lĩnh vực trong kinh tế, nhiều trong số đó liên quan đến khoa học và công nghệ. Ví dụ là Chiến lược phát triển bền vững (tháng 4 năm 2012) và Chiến lược phát triển ngành cơ khí (2006), cùng với Tầm nhìn 2020 (2006). Kêu gọi một nguồn nhân lực có tay nghề cao, một chính sách đầu tư mạnh mẽ để khuyến khích nâng cấp công nghệ trong khu vực tư nhân và đầu tư khu vực tư nhân để phát triển bền vững.

Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ 2011–2020, được thông qua vào năm 2012. Trọng tâm chính là lập kế hoạch tổng thể và ưu tiên, nhằm nâng cao năng lực đổi mới, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp. Chiến lược bao gồm:

  • Nghiên cứu về toán học và vật lý;
  • Điều tra biến đổi khí hậu và thiên tai;
  • Phát triển hệ điều hành cho máy tính, máy tính bảng và thiết bị di động;
  • Công nghệ sinh học áp dụng đặc biệt cho nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và y học;
  • Bảo vệ môi trường.

Nhân khẩu

Dân số

 
Tỉ lệ tăng dân số Việt Nam giảm dần trong giai đoạn 1980-2014[cần dẫn nguồn]
NămSố dân±% năm
1995 71.995.500—    
1996 73.156.700+1.61%
1997 74.306.900+1.57%
1998 75.456.300+1.55%
1999 76.596.700+1.51%
2000 77.630.900+1.35%
2001 78.620.500+1.27%
2002 79.537.700+1.17%
2003 80.467.400+1.17%
2004 81.436.400+1.20%
2005 82.392.100+1.17%
2006 83.311.200+1.12%
2007 84.218.500+1.09%
2008 85.118.700+1.07%
2009 86.025.000+1.06%
2010 86.932.500+1.05%
2011 87.840.000+1.04%
2012 88.775.500+1.07%
2014 90.493.352+0.96%
2015 91.447.601+1.05%
Nguồn: Dân số trung bình phân theo địa phương qua các năm, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.

Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó có 53 dân tộc thiểu số, chiếm khoảng 14% tổng số dân của cả nước. Dân tộc Việt (còn gọi là người Kinh) chiếm gần 86%, tập trung ở những miền châu thổđồng bằng ven biển. Những dân tộc thiểu số, trừ người Hoa, người Chămngười Khmer, phần lớn tập trung ở các vùng miền núi và cao nguyên. Trong số các dân tộc thiểu số, đông dân nhất là các dân tộc Tày, Thái, Mường, Hoa, Khmer, Nùng,... mỗi dân tộc có dân số khoảng 1 triệu người. Các dân tộc Brâu, Rơ Măm, Ơ Đu có số dân ít nhất, với khoảng vài trăm cho mỗi nhóm. Có các dân tộc mới di cư vào Việt Nam vài trăm năm trở lại đây như người Hoa ở miền Nam. Trong số các dân tộc này, người Hoangười Ngái là hai dân tộc duy nhất có dân số giảm trong giai đoạn 1999–2009. Việt Nam xếp thứ 15 trên thế giới về dân số.[60]

Theo điều tra của Tổng cục thống kê, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, trên toàn Việt Nam có 85.846.997 người, quy mô phân bố ở các vùng kinh tế - xã hội, trong đó đông dân nhất là vùng đồng bằng sông Hồng với khoảng 19,5 triệu người, kế tiếp là vùng bắc Trung bộduyên hải nam Trung bộ với khoảng 18,8 triệu người, thứ ba là vùng đồng bằng sông Cửu Long với khoảng 17,1 triệu người. Vùng ít dân nhất là Tây Nguyên với khoảng 5,1 triệu người. Theo số liệu ước tính của The World Factbook do CIA công bố thì vào tháng 7 năm 2011, dân số Việt Nam là 90.549.390 người, đứng thứ 14 trên thế giới (Ethiopia vượt lên vị trí 13).[61]

Theo điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ (IPS) 2014 thì 33,1% dân số Việt Nam đang sinh sống tại khu vực thành thị và 66,9% cư trú ở khu vực nông thôn.[62] Về tỷ số giới tính trung bình vào năm 2009 là 98 nam/100 nữ, trong đó vùng cao nhất là Tây Nguyên với 102 nam/100 nữ và vùng thấp nhất là Đông Nam Bộ với 95 nam/100 nữ.[63]

Bản mẫu:Dự đoán dân số

Theo nhận xét của tờ The Economist, mức độ giảm dân số do sinh suất tụt giảm tạo ra viễn cảnh lão hóa ở Việt Nam với tỷ lệ người cao niên hơn 60 tuổi dự đoán sẽ tăng từ 12% (2018) lên 21% (2040). Đỉnh dân số lao động của Việt Nam là vào năm 2013, sau đó sẽ giảm dần. Tỷ lệ trẻ/già được cho là gây chao đảo về tài chánh để cung cấp dịch vụ y tế và cấp dưỡng khi 90% người cao niên không có khoản tiết kiệm nào cả khi ngân sách nhà nước chỉ phụ cấp cho người hơn 80 tuổi với bình quân vài USD/tuần.[64][65]

Giáo dục

Bài chi tiết: Giáo dục Việt Nam

Tỷ lệ ngân sách nhà nước dành cho giáo dục ngày càng tăng từ 10,89% năm 2005 tăng lên đến 12,05% năm 2010 và 16,85% năm 2012.[66]

Nền giáo dục Việt Nam hiện nay đang hội nhập với các nước trong khu vực Đông Nam Á và trên thế giới. Ở Việt Nam có 5 cấp học: tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, đại họcsau đại học. Các trường đại học chủ yếu tập trung ở hai thành phố lớn là Hà NộiTP. Hồ Chí Minh. Theo kết quả đánh giá học sinh quốc tế (PISA) của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) được công bố ngày 3/12/2013, điểm trung bình môn Khoa học của học sinh Việt Nam ở độ tuổi 15 năm 2012 đứng thứ 8 thế giới.[67] Có ý kiến cho rằng kết quả này không phản ánh đúng chất lượng giáo dục của Việt Nam vì các trường phổ thông theo chỉ thị của Bộ giáo dục Việt Nam đã chuẩn bị khá kỹ lưỡng cho kỳ thi PISA từ trước đó.[68][69]

Giáo dục đại học

 
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, thuộc Đại học Quốc gia TP.HCM

Về nền giáo dục bậc đại học, hiện nay, Việt Nam có tổng 376 trường cao đẳng, đại học trên cả nước, trong đó Bộ Giáo dục và Đào tạo trực tiếp quản lý 54 trường, các Bộ, ngành khác quản lý 116 trường. Các tỉnh, thành phố là cơ quan chủ quản của 125 trường. Ba cơ sở đại học lớn nhất quốc gia gồm Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội. Năm 1988, Bộ Đại học ra Quyết định cho phép thành lập Trung tâm Đại học dân lập Thăng Long (hiện nay là Trường Đại học Thăng Long) như một mô hình giáo dục đại học mới, đánh dấu sự ra đời của trường đại học dân lập đầu tiên tại Việt Nam. Tính đến năm 2017, toàn Việt Nam có 84 trường dân lập, tư thục (60 trường đại học, 24 trường cao đẳng).[70] Tổng số sinh viên bậc đại học đến năm học 2016 - 2017 là 1.767.879 người,[71] số lượng tuyển sinh hằng năm trong những năm gần đây khoảng 500.000 người/kỳ thi.

Một ý kiến cho rằng chất lượng đào tạo giáo dục bậc đại học ở Việt Nam thấp, chưa thấy sự đồng hướng giữa người học, người dạy, nhà đầu tư cho giáo dục, người sử dụng lao động và xã hội. Quản lý nhà nước về giáo dục đại học còn nhiều trì trệ là nguyên nhân cơ bản của việc chất lượng giáo dục đại học Việt Nam ngày càng tụt hậu.[72] Nhà nước Việt Nam đang dần trao thêm quyền cho các trường đại học. Điều 32 Luật Giáo dục Đại học số 08/2012/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2012 quy định: "Cơ sở giáo dục đại học tự chủ trong các hoạt động chủ yếu thuộc các lĩnh vực tổ chức và nhân sự, tài chính và tài sản, đào tạo, khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng giáo dục đại học. Cơ sở giáo dục đại học thực hiện quyền tự chủ ở mức độ cao hơn phù hợp với năng lực, kết quả xếp hạng và kết quả kiểm định chất lượng giáo dục.". Điều 36 luật này cũng quy định "Hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học tổ chức biên soạn hoặc lựa chọn, duyệt giáo trình giáo dục đại học để sử dụng làm tài liệu giảng dạy, học tập trong cơ sở giáo dục đại học trên cơ sở thẩm định của Hội đồng thẩm định giáo trình do hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học thành lập.", tuy nhiên "Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên soạn giáo trình sử dụng chung các môn lý luận chính trị, quốc phòng - an ninh để làm tài liệu giảng dạy, học tập trong các cơ sở giáo dục đại học".[73] Các lãnh đạo hàng đầu của Chính phủ Việt Nam bày tỏ sự ủng hộ tự chủ đại học và yêu cầu thúc đẩy nhanh hơn nữa tiến trình này.[74] Ý kiến khác cho rằng đại học Việt Nam chưa đủ năng lực và thiếu sự sẵn sàng cho tự chủ,[75][76] các điều khoản trong Luật Giáo dục Đại học cho thấy quyền tự chủ của các trường đại học khó trở thành hiện thực vì nhiều điểm trái với tinh thần tự chủ đại học hoặc mơ hồ đến độ không thể thực thi.[77]

Từ năm 2000 tới nay, nhiều học sinh Việt Nam đã đi du học ở các nước phát triển như: Mỹ, Anh, Úc, Pháp, Đức, Nhật,... riêng năm 2007 đã có 39.700 học sinh đi du học.[78] Năm 2017, các trường: Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Xây dựng, Đại học Bách khoa Đà Nẵng, Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh đạt chuẩn kiểm định trường đại học do tổ chức HCERES của Pháp kiểm định.

Y tế

Về cơ sở hạ tầng, tính đến năm 2010, trên toàn Việt Nam có 1.030 bệnh viện, 44 khu điều dưỡng phục hồi chức năng, 622 phòng khám đa khoa khu vực;[79] với tổng số giường bệnh khoảng 246.300 giường.[80] Bên cạnh các cơ sở y tế nhà nước đã bắt đầu hình thành một hệ thống y tế tư nhân bao gồm 19.895 cơ sở hành nghề y, 14.048 cơ sở hành nghề dược, 7.015 cơ sở hành nghề y học cổ truyền, 5 bệnh viện tư có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần giảm quá tải ở các bệnh viện nhà nước.[81][82] Mạng lưới y tế cơ sở của Việt Nam hiện nay đã có 80% số thôn bản có nhân viên y tế hoạt động, 100% số trạm y tế trong đó gần 2/3 xã đạt chuẩn quốc gia.[83]

Về nhân lực trong ngành, Việt Nam hiện có hệ thống các trường đại học y, dược phân bổ trên cả nước. Mỗi năm có hàng nghìn bác sĩdược sĩ đại học tốt nghiệp ra trường. Ngoài ra còn có hệ thống các trường đào tạo kỹ thuật viên trung học y, dược, nha tại các địa phương. Hiện nay số lượng cán bộ nhân viên ngành y tế đã có 250.000 người, trong đó có 47.000 người có trình độ đại học các loại.[81]

Ngành Y tế hiện tại của Việt Nam đang được nhiều tổ chức quốc tế tài trợ vốn ODA và vốn NGO, tính đến năm 2010 Bộ Y tế Việt Nam đang quản lý 62 dự án ODA và trên 100 dự án NGO với tổng kinh phí hơn 1 tỷ USD, các dự án được phân bố ở đều khắp các vùng miền.[84] Những năm gần đây bị y tế Việt Nam được đánh giá là tham nhũng ở nhiều cấp độ, được tìm thấy trong cả ba lĩnh vực quản lý nhà nước, dịch vụ tại cơ sở y tế và quản lý bảo hiểm y tế.[85]

Tội phạm và tệ nạn

Việt Nam có tỷ lệ tội phạm ở mức thấp so với các nước cùng trình độ phát triển và thấp hơn một số quốc gia phát triển.[86] Các băng nhóm tội phạm có tổ chức như Năm Cam, Khánh Trắng,... ở mức hiếm, quy mô và độ tinh vi không sánh được với các tổ chức Mafia quốc tế.

Việt Nam là địa điểm những tội phạm trong và ngoài nước lộng hành như các đầu dây mại dâm, ma túy.[87] Việt Nam chịu ảnh hưởng từ những địa danh buôn bán ma túy như Tam giác vàngTrăng lưỡi liềm vàng (Golden Crescent). Theo một số quan chức nhận xét thì các hoạt động buôn bán ma túy càng ngày càng tinh vi và phức tạp.[87] Gần đây, Việt Nam cũng tham gia các hội nghị quốc tế để bàn thảo về các vấn đề trên như "Hội nghị quốc tế phòng, chống ma túy, khu vực nhóm công tác Viễn Đông" (IDEC FEWG) do Việt Nam chủ trì với sự hợp tác của 19 nước lân cận. Theo thống kê thì tính tới cuối năm 2012, cả nước có ước tính khoảng 170 nghìn người nghiện ma túy.[87] Các tệ nạn phổ biến nhất bao gồm cờ bạc, cá độ, sử dụng và buôn bán ma túy, mại dâm... Do sự phát triển của kinh tế - xã hội khiến, tình hình tội phạm có xu hướng tăng. Các tệ nạn liên quan đến cá độ trong hoạt động thể thao rơi phần nhiều ở bóng đá.[88] Một loại hình tội phạm phổ biến khác đó là tham nhũng với một số vụ án tiêu biểu như PMU 18, Vinashin.

Văn hóa

Bài chi tiết: Văn hóa Việt Nam
 
Múa rối nước, một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian của Việt Nam

Cộng đồng 54 dân tộc có những phong tục, những lễ hội mang ý nghĩa sinh hoạt cộng đồng, tín ngưỡng, sự khoan dung trong tư tưởng giáo lý khác nhau của tôn giáo, tính cặn kẽ và ẩn dụ trong giao tiếp truyền đạt của ngôn ngữ, từ truyền thống đến hiện đại của văn học, nghệ thuật.

Những vùng văn hoá có những nét đặc trưng riêng tại Việt Nam. Từ vùng đồng bằng sông Hồng với các đô thị chính: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định,... và vùng nông thôn của người Việt với văn hóa làng xã và văn minh lúa nước, đến những sắc thái văn hóa các dân tộc miền núi tại tây bắcđông bắc. Từ các vùng biên viễn của Việt Nam thời dựng nước ở Bắc Trung bộ đến sự pha trộn với văn hóa Chăm Pa của người ChămNam Trung Bộ. Từ vùng đất mới ở Nam Bộ với sự kết hợp văn hóa các tộc người Hoa, người Khmer và các bộ tộc Tây Nguyên.

Với lịch sử hàng nghìn năm hội tụ các dân tộc, từ văn hóa bản địa của người Việt thời Hồng Bàng đến những ảnh hưởng từ xa xưa của Trung QuốcĐông Nam Á đến những ảnh hưởng của Pháp thế kỷ XIX, phương Tây trong thế kỷ XX và toàn cầu hóa từ thế kỷ XXI, Việt Nam đã có những thay đổi về văn hóa theo các thời kỳ lịch sử.

Ngôn ngữ

Bài chi tiết: Tiếng Việt

Tiếng Việt là ngôn ngữ của người Việt (người Kinh) và là ngôn ngữ chính thức tại Việt Nam, được quy định tại Điều 5 Hiến pháp 2013. Đây là tiếng mẹ đẻ của hơn 85% dân cư Việt Nam, cùng với hơn 4 triệu người Việt hải ngoại; đây cũng là ngôn ngữ thứ hai của các dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, Việt Nam còn có nhiều ngôn ngữ thiểu số thuộc các ngữ hệ Nam Á, Nam Đảo, Hán-Tạng, Tai-Kadai, và H'Mông-Miền. Mặc dù tiếng Việt có một lượng lớn từ vựng vay mượn từ tiếng Hán và trước đây từng dùng chữ Nôm – một hệ chữ dựa trên chữ Hán – để viết nhưng tiếng Việt được cho là thuộc ngữ hệ Nam Á, và là ngôn ngữ có số lượng người sử dụng nhiều nhất trong ngữ hệ này. Chữ viết tiếng Việt ngày nay là chữ Quốc ngữ Latinh do các tu sĩ Dòng Tên sáng tạo.

Tôn giáo

 

Tôn giáo tại Việt Nam (2014)[89]

  Phật giáo (12.2%)
  Công giáo (6.9%)
  Cao Đài (4.8%)
  Tin Lành (1.5%)
  Hòa Hảo (1.4%)
  khác (0.1%)
 
Chùa Bút Tháp, Bắc Ninh

Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáotín ngưỡng. Cộng đồng các dân tộc tại Việt Nam có tín ngưỡng dân gian riêng. Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ những năm đầu Tây lịch cùng với Nho giáoĐạo giáo. Được gọi chung là tam giáo, ba tôn giáo ảnh hưởng nhiều nhất tới văn hóa Việt Nam. Phật giáo Việt Nam đa số thuộc Đại thừa và từng là quốc giáo thời Nhà LýNhà Trần. Các tư tưởng Nho giáo cho tới nay vẫn có vai trò trong trật tự xã hội Việt Nam. Công giáo được truyền vào Việt Nam từ thế kỷ 16 và Tin Lành từ đầu thế kỷ 20. Hồi giáo được truyền vào Chăm Pa, Nam Trung Bộ từ các vương triều Hồi giáo ở Ấn Độ và Quần đảo Mã Lai. Bên cạnh các tôn giáo thế giới, Việt Nam còn có một số tôn giáo nội sinh như đạo Cao Đàiđạo Hòa Hảo. Ngoài ra, có một lượng người tự nhận không tôn giáo.

Ẩm thực

 
Một ví dụ về ẩm thực đặc trưng của Việt Nam – Bánh cuốn.
Bài chi tiết: Ẩm thực Việt Nam

Có sự kết hợp của năm yếu tố cơ bản (Việt: ngũ vị): cay (kim loại), chua (gỗ), đắng (lửa), mặn (nước) và ngọt (đất). Nước mắm, nước tương,... là một trong những nguyên liệu tạo hương liệu chính trong món ăn. Nấu ăn truyền thống của Việt Nam được biết đến với các nguyên liệu tươi, ít dùng dầu, và phụ thuộc vào rau thơm, rau quả. Một đặc điểm phân biệt ẩm thực Việt Nam với một số nước khác: ẩm thực Việt Nam chú trọng ăn ngon, đôi khi không đặt mục tiêu hàng đầu là ăn bổ. Bởi vậy trong hệ thống ít có những món cầu kỳ, hầm nhừ ninh kỹ như ẩm thực Trung Hoa, không thiên về bày biện có tính thẩm mỹ như ẩm thực Nhật Bản, mà thiên về phối trộn gia vị hoặc sử dụng những nguyên liệu dai, giòn (ví dụ chân cánh gà, phủ tạng động vật, trứng vịt lộn...). Một trong những món ăn nổi tiếng thế giới là phở.

Âm nhạc

Bài chi tiết: Âm nhạc Việt Nam

Âm nhạc truyền thống khác nhau giữa các vùng phía Bắc và phía Nam của đất nước. Âm nhạc cổ điển ở miền Bắc là hình thức âm nhạc lâu đời nhất của Việt Nam. Trong suốt lịch sử, Việt Nam ảnh hưởng nặng nhất bởi truyền thống âm nhạc Trung Quốc, cùng với của Hàn Quốc, Mông CổNhật Bản. Nhã nhạc là hình thức âm nhạc phổ biến của ca nhạc cung đình. Chèo là một hình thức phổ biến sân khấu ca nhạc cổ. Xẩm hay Hát xẩm là một loại nhạc dân gian Việt Nam. Quan họ phổ biến ở Bắc Ninh và Bắc Giang. Hát chầu văn hoặc hát văn là một hình thức ca nhạc để hầu đồng trong các nghi lễ. Nhạc dân tộc cải biên là một hình thức hiện đại của âm nhạc dân gian Việt Nam xuất hiện từ những năm 1950. Ca trù (còn gọi là hát ả đào) là một dạng nhạc dân gian. Cồng Chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào ngày 15 tháng 11năm 2005. Đờn ca tài tử Nam Bộ là dòng nhạc dân tộc của Việt Nam đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể. Có một loạt các nhạc cụ truyền thống, như đàn bầu, đàn gáo, đàn nguyệt... Đàn đá là một nhạc cụ gõ cổ nhất của Việt Nam và là một trong những loại nhạc cụ cổ sơ nhất của loài người.

Trang phục

Bài chi tiết: Trang phục Việt Nam
 
Áo dài, trang phục truyền thống của Việt Nam.

Áo dài là trang phục truyền thống, được mặc trong những dịp đặc biệt như đám cướilễ hội. Áo dài trắng là đồng phục bắt buộc cho nữ sinh ở nhiều trường trung học phổ thông khắp Việt Nam. Áo dài đã từng được mặc bởi cả hai giới, nhưng ngày nay chủ yếu dành cho phụ nữ, đàn ông cũng mặc nó vào một số dịp như đám cưới truyền thống. Một số ví dụ khác về trang phục truyền thống của Việt Nam bao gồm áo tứ thân, áo ngũ cốc, yếm, áo bà ba, áo gấm,... Mũ nón truyền thống bao gồm nón lánón quai thao.

Các ngày lễ chính

Ngày tháng Số ngày Tên Ghi chú
1 tháng 1 1 Tết Dương Lịch
30 tháng 12 (29 tháng 12 nếu tháng thiếu) đến 4 tháng 1 5 Tết Nguyên Đán Âm lịch
10 tháng 3 1 Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương
30 tháng 4 Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước-Ngày Chiến thắng
1 tháng 5 Ngày Quốc tế Lao động
2 tháng 9 Quốc khánh

Thể thao

Môn thể thao truyền thống thịnh hành từ ngàn đời nay ở Việt Nam là võ thuật. Ngoài võ thuật, những môn mang tính cổ truyền khác như đá cầu, cầu mây hay cờ tướng đều được nhiều người yêu thích. Trong khi hiện tại thì môn bóng đá được nhiều người chơi và xem nhất.[90] Bóng đá phát triển đầu tiên từ các Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng, Quảng Ninh,... từ đầu thế kỷ XX. Tin tức về đội tuyển bóng đá quốc gia hay U-23 Việt Nam, diễn biến của các giải đấu quốc tế,... đều được dư luận quan tâm. Những năm gần đây, quần vợt cũng bắt đầu phổ biến ở các thành phố lớn. Ngoài ra, một số môn thể thao khác cũng thịnh hành ở Việt Nam như cầu lông, bóng chuyền, bóng bàn, billiards snookercờ vua. Đoàn thể thao Việt Nam bắt đầu tham gia Olympic mùa hè từ năm 1952 cho tới nay.[91] và đã có được huy chương vàng đầu tiên và duy nhất vào năm 2016 của Hoàng Xuân Vinh trong môn bắn súng. Ở Olympic người khuyết tật, Việt Nam bắt đầu tham gia từ năm 2000 và cũng có được huy chương vàng đầu tiên và duy nhất ở môn cử tạ do lực sĩ Lê Văn Công đạt được.[92]

Xếp hạng quốc tế

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ Dân tộc Kinh còn gọi là Việt.[3]
Ghi chú
  1. ^ Bộ Ngoại giao. “Một số thông tin về địa lý Việt Nam”. Chính phủ Việt Nam. Bản gốc lưu trữ 14 tháng 10 năm 2009. Truy cập 19 tháng 3 năm 2012. 
  2. ^ "Vietnam Geography Profile 2018". Index Mundi. 12 tháng 7 năm 2011.
  3. ^ “Dân tộc Kinh”. Đảng Cộng sản Việt Nam. 15 tháng 10 năm 2004. Bản gốc lưu trữ 5 tháng 2 năm 2016. Truy cập 21 tháng 11 năm 2015. 
  4. ^ “Thông cáo báo chí, Niên giám thống kê 2017, phần dân số và lao động tr 25”. Tổng cục Thống kê. 25 tháng 9 năm 2018. 
  5. ^ a ă â b “Report for Selected Countries and Subjects: Vietnam”. Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2019.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  6. ^ “2018 Human Development Report” (PDF). United Nations Development Programme p23. 2018. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2018. 
  7. ^ "Gini Index (estimate)". Ngân hàng Thế giới. Truy cập 21 tháng 11 năm 2015.
  8. ^ Một số thông tin cơ bản về Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bộ Ngoại giao Việt Nam. tr. 25. 
  9. ^ “Vietnam's new-look economy”. BBC. 18 tháng 10 năm 2004. 
  10. ^ "Distribution of Family Income – Gini Index". Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA). Truy cập 27 tháng 11 năm 2011.
  11. ^ “ScienceDirect – Journal of Econometrics: On decomposing the causes of health sector inequalities with an application to malnutrition inequalities in Vietnam”. Science Direct. 12 tháng 9 năm 2002. doi:10.1016/S0304-4076(02)00161-6. Truy cập 6 tháng 8 năm 2011. 
  12. ^ Gallup, John Luke (2002). “The wage labor market and inequality in Viet Nam in the 1990s”. REPEC. Truy cập 7 tháng 11 năm 2010. 
  13. ^ a ă Xuanjun Xie. “日本”起源于中国考 A Research On Japan's Origin with China. Google 图书. 第179页.
  14. ^ 郭振铎, 张笑梅. 越南通史. 北京: 中国人民大学出版社, năm 2001. ISBN 7-300-03402-0. Trang 536.
  15. ^ Woods 2002, tr. 38.
  16. ^ Tonnesson & Antlov 1996, tr. 117.
  17. ^ Tonnesson & Antlov 1996, tr. 126.
  18. ^ a ă â b "Origin of Vietnamese People". American Technologies, Inc. (Business Collaboration Services). Lưu trữ ngày 6 tháng 1 năm 2010.
  19. ^ Cooke, Li & Anderson 2011, tr. 46
  20. ^ Ngô Văn Thạo, tr. 823-824
  21. ^ "History of Vietnam: Chinese Colonization". Windows on Asia (Asian Studies). Lưu trữ ngày 25 tháng 8 năm 2007.
  22. ^ Hà Anh Thư 2000, tr. 29
  23. ^ "Spears offer insight into early military strategy". Thông tấn xã Việt Nam (tiếng Anh), 22 tháng 1 năm 2006. Lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2009.
  24. ^ Việt Nam sử lược (越南史略), Trần Trọng Kim tr. 99.
  25. ^ Eugene Page & M. Sonnenburg, tr. 723
  26. ^ Đại Việt sử lược, tr. 52
  27. ^ Nguyễn Khắc Ngữ (1988). Tây-phương tiếp-xúc với Việt-nam, Cuốn 1: Bồ-đào-nha, Tây-ban-nha và Hòa-lan giao-tiếp với Đại-Việt (thế kỷ XVI, XVII, XVIII). Montréal, Canada: Nhóm Nghiên cứu Sử Địa Việt Nam. 
  28. ^ Jacques, Roland (2002). Portuguese Pioneers of Vietnamese Linguistics Prior to 1650 – Pionniers Portugais de la Linguistique Vietnamienne Jusqu’en 1650 (bằng tiếng Anh & tiếng Pháp). Bangkok, Thái Lan: Orchid Press. ISBN 974-8304-77-9. 
  29. ^ Keith, Charles (2012). Catholic Vietnam: A Church from Empire to Nation. University of California Press. tr. 18–21. ISBN 9780520272477. 
  30. ^ "French Counterrevolutionary Struggles: Algeria and Indochina" (PDF). Học viện Quân đội Hoa Kỳ (1968), lưu trữ ngày 11 tháng 8 năm 2011.
  31. ^ Hirschman, Charles; Preston, Samuel; Vũ Mạnh Lợi (1995). "Vietnamese Casualties During the American War: A New Estimate" (PDF). 21 (4): 783–812. JSTOR 2137774.
  32. ^ “Cựu hoàng Bảo Đại và những canh bạc đế vương”. vnn.vn. Truy cập 27 Tháng mười hai 2018.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  33. ^ Nash, Gary B., Julie Roy Jeffrey, John R. Howe, Peter J. Frederick, Allen F. Davis, Allan M. Winkler, Charlene Mires, and Carla Gardina Pestana. The American People, Concise Edition Creating a Nation and a Society, Combined Volume (ấn bản thứ 6). New York: Longman, 2007.
  34. ^ Robert C. Doyle (2010). The Enemy in Our Hands: America's Treatment of Enemy Prisoners of War from the Revolution to the War on Terror. Đại học Kentucky. tr. 269. ISBN 978-0-8131-2589-3.
  35. ^ “Đảo chính VNCH 1964”. 
  36. ^ “Chính trường VNCH sau đảo chính 1963”. 
  37. ^ “Các vụ đảo chính 1964”. 
  38. ^ "Vietnam War", Clark D. Neher, Đại học Bắc Illinois (Hoa Kỳ).
  39. ^ "The Massacre at Huế". Tạp chí Time đăng ngày 31 tháng 10 năm 1969.
  40. ^ “Chuyến thăm Trung Quốc của Richard Nixon”. 
  41. ^ Malcolme W. Browne (13 tháng 10 năm 1999). "Saigon's Finale", đăng trên báo The New York Times.
  42. ^ a ă F. Martin, Michael (29 tháng 10 năm 2009). “U.S.-Vietnam Economic and Trade Relations: Issues for the 111th Congress” (PDF). CRS Report for Congress. 
  43. ^ "Đổi mới bắt đầu từ đâu?". Báo Cần Thơ đăng tải ngày 19 tháng 10 năm 2005. Lưu trữ ngày 25 tháng 10 năm 2005.
  44. ^ "Một số thông tin về địa lý Việt Nam". Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Bộ Ngoại giao). Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2015.
  45. ^ Biến đổi khí hậu trong quá khứ và tương lai ở Việt Nam Mỹ Xuân – Tổng cục Khí tượng Thủy văn (Dựa trên đề tài nghiên cứu của Phan Văn Tân, Ngô Đức Thành, Khoa Khí tượng Thuỷ văn và Hải dương học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN) 06/11/2014 lưu trữ
  46. ^ “Gần 96% đại biểu Quốc hội là đảng viên”. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2018. 
  47. ^ The Limits and Potential of Liberal Democratisation in Southeast Asia uni-hamburg, 10.12.2014
  48. ^ Theo trang web chính thức của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Quan hệ ngoại giao, truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2015
  49. ^ "Các tổ chức quốc tế", Bộ Ngoại giao Việt Nam. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2015.
  50. ^ “iệt Nam đã trúng cử Hội đồng Kinh tế - xã hội LHQ”. 
  51. ^ “Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO” (Thông cáo báo chí). Xuân Danh, Báo Thanh niên. 8 tháng 11 năm 2006. Truy cập 9 tháng 12 năm 2011. 
  52. ^ “Kinh tế đi xuống sau 5 năm gia nhập WTO” (Thông cáo báo chí). VnExpress. Ngày 3 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2013. 
  53. ^ “Tham nhũng trong mắt người dân đô thị VN” (Thông cáo báo chí). BBC. Ngày 16 tháng 12 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2011. 
  54. ^ “Việt Nam tham nhũng thứ ba châu Á?” (Thông cáo báo chí). BBC. Ngày 8 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2011. 
  55. ^ GDP per capita, PPP (current international $) cập nhật 14/4/2015, truy cập 20/4/2015
  56. ^ Niên giám các năm 2000, 2005, 2006, 2007, 2008, 2009, 2010, 2011, 2012, 2013, 2014, 2015, 2016, Tổng cục Thống kê
  57. ^ “GDP growth (annual %)”. 
  58. ^ “Vì sao cần tăng cường quản lý báo điện tử?” (Thông cáo báo chí). Nguyễn Công Dũng, Tạp chí Cộng sản. Ngày 7 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2011. 
  59. ^ “Khách quốc tế đến Việt Nam tháng 12 và 12 tháng năm 2013”. Tổng cục Thống kê. 25 tháng 12 năm 2013. Truy cập 1 tháng 12 năm 2014. 
  60. ^ The World Factbook CIA cập nhật tháng 7 năm 2014
  61. ^ Vietnam – Geography. Index Mundi. ngày 12 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2011.
  62. ^ “Dân số Việt Nam vượt mốc 90 triệu người”. Báo Điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam. Truy cập 16 tháng 8 năm 2015. 
  63. ^ BÁO CÁO KẾT QUẢ CHÍNH THỨC Tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009 7/2010
  64. ^ “Xu hướng phát triển dân số Việt Nam: Chưa giầu đã già”. RFI. 14 Tháng mười một 2018. Truy cập 27 Tháng mười hai 2018.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date=, |accessdate= (trợ giúp)
  65. ^ “Đối diện nguy cơ về dân số”. Đối diện nguy cơ về dân số. Truy cập 27 Tháng mười hai 2018.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  66. ^ Niên giám Thống kê 2013, Trung tâm Tư liệu Thống kê - Tổng cục Thống kê Việt Nam
  67. ^ Học sinh Việt Nam vượt Mỹ về Toán và Khoa học, Xuân Vũ, Báo điện tử Dân trí, 04/12/2013
  68. ^ Việt Nam vượt Mỹ, Úc nhờ... luyện 'gà chọi'?, Vietnamnet, 18/05/2015
  69. ^ Bộ Giáo dục bất ngờ với kết quả xếp hạng học sinh, Vietnamnet, 04/12/2013
  70. ^ “Muốn thành lập trường đại học tư thục phải có 1.000 tỷ đồng”. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2018. 
  71. ^ “Những con số "biết nói" về giáo dục đại học Việt Nam”. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2018. 
  72. ^ VnExpress - 30 năm chất lượng giáo dục đại học bị 'bỏ ngỏ' - 30 nam chat luong giao duc dai hoc bi 'bo ngo' Tiến Dũng, Thứ sáu, 30/10/2009 | 09:11 GMT+7
  73. ^ Luật số 08/2012/QH13 của Quốc hội: LUẬT GIÁO DỤC ĐẠI HỌC, CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2012
  74. ^ Thủ tướng thúc nhanh việc trao tự chủ đại học, Báo VietNamNet, 26/08/2014
  75. ^ Thiếu sẵn sàng tự chủ ĐH, Tuổi Trẻ Online, 01/08/2014
  76. ^ Tự chủ đại học - cái nhìn từ nhiều phía, Tuổi Trẻ Online, 08/01/2013
  77. ^ Tự chủ đại học ở Việt Nam: Thiếu thực chất, Vũ Thị Phương Anh, Tạp chí Tia Sáng, 22/08/2014
  78. ^ Muôn nẻo đường du học Cập nhật: Thứ ba, 04-03-2008 theo giaoduc.edu.vn
  79. ^ “Số cơ sở khám, chữa bệnh (chưa kể cơ sở tư nhân)” (Thông cáo báo chí). Tổng cục Thống kê (Việt Nam). Ngày 6 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012. 
  80. ^ “Số giường bệnh (chưa kể cơ sở tư nhân)” (Thông cáo báo chí). Tổng cục Thống kê (Việt Nam). Ngày 6 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012. 
  81. ^ a ă Nỗ lực giảm tải và những tín hiệu vui Thái Bình, Báo SứcKhoẻ và Đời Sống cập nhật 1/9, 2014 | 06:00
  82. ^ PHONG TRÀO THI ĐUA YÊU NƯỚC TRONG CHẶNG ĐƯỜNG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH Y TẾ VIỆT NAM 01/03/2010 10:31:40 AM ghi lại Bài phát biểu của TS. Nguyễn Quốc Triệu - Bộ trưởng Bộ Y tế tại Phủ Chủ tịch nhân Lễ kỷ niệm ngày Thầy thuốc Việt Nam chiều 24/02/2010
  83. ^ VOVNEWS.VN | Ngành Y tế 55 năm làm theo lời Bác dạy - Nganh Y te 55 nam lam theo loi Bac day Văn Hải hứ 7, 16:30, 27/02/2010
  84. ^ Năm 2009, ngành y tế triển khai hiệu quả các nguồn vốn viện trợ ĐCSVN 21:04 | 04/02/2010
  85. ^ Tham nhũng trong ngành y tế nghiêm trọng - Tuổi Trẻ Online Minh Quang 26/11/2009 22:48 GMT+7
  86. ^ Vietnam was among 8 safest destinations: MSN Travel | Tuổi Trẻ news cập nhật 10/21/2012 14:08 GMT + 7
  87. ^ a ă â Khánh Hiền (5 tháng 12 năm 2012). “Việt Nam chịu ảnh hưởng của các điểm "nóng" tội phạm ma túy - Pháp luật - Dân trí”. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2015. 
  88. ^ “Tệ lô đề ở Việt Nam lên báo nước ngoài - VnExpress”. VnExpress. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2012. 
  89. ^ Bielefeldt, Heiner (2014). “Press Statement on the visit to the Socialist Republic of Viet Nam by the Special Rapporteur on freedom of religion or belief”. United Nations Special Rapporteur on Freedom of Religion or Belief. Office of the United Nations High Commissioner for Human Rights. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2018. 
  90. ^ “Soccer is very popular in Vietnam”. SaigonNezumi.com. Ngày 2 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2012. 
  91. ^ “BBC Vietnamese - Thể thao - TQ hay Mỹ sẽ đứng đầu bảng Olympic?”. BBC Online. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2012. 
  92. ^ “Việt Nam có thêm 2 huy chương ở Paralympics”. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2018. 
  93. ^ “Vietnam”. Happy Planet Index. Truy cập 27 Tháng mười hai 2018.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  94. ^ “The Good Country Index - Results”. The Good Country Index. Truy cập 27 Tháng mười hai 2018.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  95. ^ Global Peace Index 2017
  96. ^ Country Rankings, truy cập 03/05/2018
  97. ^ “The lottery of life”. 21 Tháng mười một 2012. Truy cập 27 Tháng mười hai 2018 – qua The Economist.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date=, |accessdate= (trợ giúp)
  98. ^ “2018 WORLD PRESS FREEDOM INDEX. Trang 31” (Thông cáo báo chí). Phóng viên không biên giới. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2015. 
  99. ^ “CORRUPTION PERCEPTIONS INDEX 2017” (Thông cáo báo chí). Tổ chức Minh bạch Quốc tế. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2018. 
  100. ^ Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc. “Human Development Report 2015. Work for Human Development” (PDF) (bằng tiếng Anh). Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2018. 
  101. ^ “The Global Competitiveness Report 2017–2018” (PDF) (Thông cáo báo chí). Diễn đàn Kinh tế thế giới. 2018. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2018. 
  102. ^ “2013 KOF Index of Globalization (Rankings are based on data for the year 2010 - Xếp hạng dựa trên dữ liệu năm 2010)” (Thông cáo báo chí). KOF. 2013. 
  103. ^ “The Global Gender Gap Report 2010” (PDF) (Thông cáo báo chí). Diễn đàn Kinh tế thế giới. 2010. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2011. 
  104. ^ “2011 Global Hunger Index” (PDF) (Thông cáo báo chí). IFPRI. 2011. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2011. 
  105. ^ “Country Profile: Viet Nam” (Thông cáo báo chí). EPI. 2014. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2014. 
  106. ^ “EDGAR - GHG (CO2, CH4, N2O, F-gases) emission time series 1990-2012 per region/country - European Commission”. edgar.jrc.ec.europa.eu. Truy cập 27 Tháng mười hai 2018.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
Nguồn tham khảo
  • Woods, L. Shelton (2002). Vietnam: a global studies handbook. ABC-CLIO. ISBN 1-57607-416-1. 
  • Yue-Hashimoto, Oi-kan (1972). Phonology of Cantonese. Đại học Cambridge (Anh Quốc). ISBN 978-0-521-08442-0.
  • Tonnesson, Stein; Antlov, Hans (1996). Asian Forms of the Nation. Routledge. ISBN 0700704426.

Tham khảo

  • Non nước Việt Nam, Tổng cục Du lịch, Nhà xuất bản Hà Nội 2007
  • Herring, George C. America's Longest War: The United States and Vietnam, 1950-1975 (4th ed 2001), most widely used short history. ISBN 978-0072536188
  • Jahn GC. 2006. The Dream is not yet over. In: P. Fredenburg P, Hill B, editors. Sharing rice for peace and prosperity in the Greater Mekong Subregion. Victoria, (Australia): Sid Harta Publishers. p 237-240
  • Karrnow, Stanley. Vietnam: A History. Penguin (Non-Classics); 2nd edition (ngày 1 tháng 6 năm 1997). ISBN 0-14-026547-3
  • McMahon, Robert J. Major Problems in the History of the Vietnam War: Documents and Essays (1995) textbook ISBN 9780618749379
  • Tucker, Spencer. ed. Encyclopedia of the Vietnam War (1998) 3 vol. reference set; also one-volume abridgment (2001) ISBN 1851099611
  • Oxford Advanced Learner's Dictionary, 9th edition, Oxford University Press.

Liên kết ngoài

Nhà nước Việt Nam
Thông tin chung
Truyền thông
Cơ quan truyền thông thuộc Chính phủ Việt Nam
Cơ quan truyền thông thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam
Cơ quan truyền thông của các tổ chức nhà nước khác

Những cơ quan truyền thông này được hoạt động độc lập hơn các cơ quan truyền thông nêu phía trên.