Mở trình đơn chính

Sân vận động Wembley là sân vận động tại Wembley thuộc Borough of Brent, Luân Đôn, Anh. Sân vận động này được sở hữu bởi Hiệp hội bóng đá Anh (FA) và được dùng làm sân nhà của Đội tuyển bóng đá quốc gia Anh. Sân vận động Wembley còn là nơi diễn ra các trận chung kết các Cúp FACúp Liên đoàn.

Sân vận động Wembley
"The Home of Football"[1]
New Wembley
Wembley Stadium EE logo.png
Wembley Stadium interior.jpg
Vị tríWembley, Luân Đôn, Anh
Tọa độ51°33′21″B 0°16′47″T / 51,55583°B 0,27972°T / 51.55583; -0.27972Tọa độ: 51°33′21″B 0°16′47″T / 51,55583°B 0,27972°T / 51.55583; -0.27972
Giao thông công cộngLondon Underground Công viên Wembley
12px sân vận động Wembley
London Overground London Underground 12px Trung tâm Wembley
Chủ sở hữuHiệp hội bóng đá Anh
Nhà điều hànhWembley National Stadium Limited
Số phòng điều hành166
Sức chứa90.000[2] (Bóng đá, rugby union, rugby league, quyền Anh)
75.000 đến 90.000 chỗ ngồi và 15.000 chỗ đứng (buổi hòa nhạc)
60.000 đến 72.000 (điền kinh)
86.000 đến 87.000 (sức chứa UEFA)
86.000 (bóng bầu dục Mỹ)
Kỷ lục khán giảBóng đá: 89.874 (Cardiff City vs Portsmouth, 17 tháng 5 năm 2008)
Buổi hòa nhạc: 98.000 (Adele, tháng 6 năm 2017)[3]
Kích thước sân105 m × 68 m (115 yd × 74 yd)
Mặt sânDesso GrassMaster
Công trình xây dựng
Khởi công30 tháng 9, 2002 (2002-09-30)[4]
Được xây dựng2003–2007
Khánh thành9 tháng 3, 2007; 12 năm trước
Chi phí xây dựng789 triệu £[5][6]
(ngày này 1.093,46 tỷ £)
Kiến trúc sưHOK Sport (now Populous), Foster và Partners, Nathaniel Lichfield và Partners (chuyên gia tư vấn lập kế hoạch)[7]
Quản lý dự ánSymonds[8]
Kỹ sư kết cấuMott Stadium Consortium và Jimmy Higham– Mott MacDonald, Sinclair Knight Merz & Aurecon[8]
Kỹ sư dịch vụJimmy Higham[8]
Nhà thầu chungMultiplex[8]
Người thuê sân
Anh (2007–đến nay)
Tottenham Hotspur (2017–2019)[9][10]
Trang web
wembleystadium.com

Với 100.000 chỗ ngồi, Wembley là sân vận động có sức chứa lớn thứ 2 tại châu Âu, (sau sân Camp Nou). Để phân biệt với sân Wembley cũ, người ta thường gọi đây là Sân Wembley mới ("new Wembley Stadium"). Đây cũng là sân vận động có kinh phí xây dựng tốn kém nhất trên thế giới.

Sân Wembley mới bắt đầu được khởi công xây dựng từ năm 2002 với một mức chi phí khổng lồ, lên đến 757 triệu bảng Anh, hay tương đương với 1,2 tỷ USD. Đó là một số tiền không thể tin được bởi Hàn Quốc cũng chỉ chi có 1,6 tỷ USD để xây mới 8 sân vận động mới hoàn toàn cho VCK World Cup 2002.

Tuy vậy, hàng loạt trục trặc trong quá trình xây dựng đã khiến Wembley bị chậm tiến độ hơn 2 năm so với kế hoạch. Thay vì đưa vào sử dụng trong năm 2005, mãi đến tháng 7/2007, sân Wembley mới có thể được hoàn tất và sẵn sàng đưa vào sử dụng.

Có thể nói đội tuyển Đức là một cái tên gắn liền với sân Wembley huyền thoại trước đây. Tại trận Chung Kết World Cup 1966, đội tuyển Anh đã vượt qua đội tuyển Đức để giành Cúp vàng thế giới đầu tiên và duy nhất cho đến thời điểm này. Cuộc đối đầu Anh – Đức ngày 07 tháng 10 năm 2000 kết thúc với chiến thắng 1–0 nghiêng về phía đội khách với bàn thắng duy nhất của Dietmaar Hamann cũng là trận đấu cuối cùng trước khi Wembley bị phá dỡ để xây mới. Và trong trận mở màn sân Wembley mới Sư tử Anh lại bị người Đức qua mặt với tỉ số 2–1 vào ngày 22/08/2007.

Về CLB, có thể nói Chelsea F.C. là một phần lịch sử của sân Wembley khi The Blues là đội cuối cùng giành Cúp FA trên sân Wembley cũ (2000), đồng thời cũng là đội đầu tiên đoạt được cúp này trên sân Wembley mới (2007)

Hình ảnhSửa đổi

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ “Japan, Korea and the 2002 World Cup”. google.ca. 
  2. ^ “Hotels near Wembley”. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2016. 
  3. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Adele
  4. ^ “Timeline: The new Wembley”. BBC News. Ngày 21 tháng 2 năm 2006. 
  5. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên DailyMailCost1
  6. ^ “Wembley to break even by 2015, says FA chairman”. BBC News. Ngày 5 tháng 10 năm 2011. 
  7. ^ “Projects : Wembley Stadium”. Populous.com. 
  8. ^ a ă â b “Wembley Stadium, London”. Design Build Network. Ngày 19 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2010. 
  9. ^ “Tottenham Hotspur on Twitter”. 
  10. ^ “Tottenham Hotspur on Twitter”. 

Liên kết ngoàiSửa đổi