Mở trình đơn chính

YG Entertainment

Công ty giải trí và hãng thu âm hàng đầu Hàn Quốc

YG Entertainment (HangulYG 엔터테인먼트) là một công ty giải trí của Hàn Quốc được thành lập vào năm 1996 bởi Yang Hyun-suk. Công ty hoạt động như một hãng thu âm, công ty tài năng, công ty sản xuất âm nhạc, công ty quản lý sự kiện, sản xuất buổi hòa nhạc và nhà xuất bản âm nhạc. Ngoài ra, công ty điều hành một số công ty con thuộc một công ty thương mại công cộng riêng biệt, bao gồm một thương hiệu quần áo, một cơ quan quản lý sân golf và một thương hiệu mỹ phẩm.[1]

YG Entertainment
Tên bản ngữ
YG 엔터테인먼트
Loại hình
Công ty cổ phần
Ngành nghềÂm nhạc đại chúng
Thể loại
Thành lập1996
Người sáng lậpYang Hyun-suk
Trụ sở chínhHàn Quốc Seoul, Hàn Quốc
Nhân viên chủ chốt
Hwang Bo-kyung (CEO)
Chủ sở hữu
  • Yang Hyun-suk (19.07%)
  • Naver (9.14%)
  • Beijing Weiying Technology (8.92%)
  • Tencent (4.86%)
  • Yang Min-suk (3.92%)
Công ty con
Websiteygfamily.com (tiếng Hàn)
ygfamily.jp (tiếng Nhật)

Các nghệ sĩ hiện tại bao gồm Big Bang, Dara, Akdong Musician, Lee Hi, Winner, iKon, Blackpink, Sechskies, Jinusean, và Treasure 13 cũng như các nam diễn viên và nữ diễn viên bao gồm Kang Dong-won, Choi Ji-woo, Cha Seung-won, Lee Sung-kyung, Nam Joo-hyuk, Jisoo, và Yoo In-na. Somi và Anda trực thuộc các công ty con The Black Label, YGX, and YG KPLUS của YG Entertainment.

Các cựu nghệ sĩ bao gồm Wheesung, 1TYM, Gummy, Seven, Minzy, Park Bom, 2NE1, Nam Tae-hyun, Lee Jong Suk, B.I ,One, CL, và Seungri

Quá trình hoạt độngSửa đổi

Vào tháng 3/1996, Yang Hyun Suk, một thành viên cũ của Seotaiji & Boys, đứng ra thành lập YG Entertainment. Nhóm nhạc đầu tiên được ra mắt dưới trướng công ty là Keep Six với album duy nhất Six in tha Chamber phát hành vào tháng 5 cùng năm. Jinusean là nghệ sĩ tiếp theo ra mắt và là nghệ sĩ đầu tiên đạt được thành công lớn. 1TYM tiếp bước phát hành album cùng năm với CEO Yang Hyun Suk. 1TYM và Jinusean nhanh chóng đưa đến với công chúng thể loại âm nhạc Hip hop. Vào năm 1999, các nghệ sĩ của công ty cùng hợp tác thu âm album dưới tên YG Family.

Công ty nhanh chóng phát hành album của các nghệ sĩ mới, Perry, Swi.T, Wheesung, và album hợp tác thứ hai của YG Family cũng được ra mắt vào năm đó. Vào năm 2003, Big Mama ra mắt, là nhóm nhạc đầu tiên nổi tiếng nhờ giọng hát chứ không phải vẻ bề ngoài. Se7en cũng ra mắt sau đó, cùng với LexyGummy. Năm 2005, YG Underground thành lập và phát triển để quản lý các nghệ sĩ là 45RPM và Stony Stunk. Ngoài ra, Se7en bắt đầu tiến ra nước ngoài và phát hành album tại Nhật, tham gia vào sự cộng tác giữa YG Entertainment và Nexstar Records. Big Bang ra mắt vào năm 2006 và đó là nhóm nhạc idol đầu tiên của công ty.

Big Bang nhanh chóng nổi tiếng kể từ khi ra mắt cho tới khoảng thời gian phát hành album tiếng Hàn thứ hai Remember. Năm 2008 cũng đánh dấu những album được phát hành bởi Gummy và Uhm Jung Hwa. Vào năm 2009, 2NE1 ra mắt và nhanh chóng trở thành một trong những nhà thống trị Kpop. Big Bang rẽ hướng sang Nhật Bản và phát hành album tiếng Nhật đầu tiên, For the World. G-Dragon, trưởng nhóm của Big Bang, phát hành album solo đầu tiên tại Hàn Quốc và nó trở thành album bán chạy nhất năm 2009.

Psy, một nghệ sĩ rap nổi tiếng, ký hợp đồng gia nhập năm 2010 và phát hành album Psy Five. Ngoài ra, công ty định tham gia thị trường chứng khoán nhưng đã bị từ chối. Người ta cho rằng lý do là vì YG Entertainment có quá ít nghệ sĩ và thu nhập không ổn định, cho dù thu nhập của công ty tăng dần tại Hàn Quốc và Nhật Bản vào năm 2009. YG Entertainment đã thông qua Ủy ban giao dịch chứng khoán công khai trên KOSDAQ để tham gia. Giá cổ phiếu dự kiến sẽ vào khoảng 24.600-28.800 won (khoảng 22–26 USD). Khoảng 35 triệu won sẽ kinh doanh chào bán công chúng.Sau đó PSY phát hành ra MV mới mang tên Gangnam Style, MV này đạt được trên 1.000.000.000 lượt xem trên YouTube, PSY vừa được nhận giải MV xuất sắc tại giải MTV được tổ chức vào tháng 11 năm 2012. Sau thành công rực rỡ đó, PSY tiếp tục cho ra MV Gentleman. Năm 2014, Gangnam Style đã chạm mốc 2.000.000.000 lượt xem trên Youtube và là MV có nhiều lượt xem nhất trên toàn thế giới tính đến lúc đó.

Vào tháng 5 năm 2018, Psy đã rời công ty sau 8 năm gắn bó.

Sau vụ bê bối của Burning Sun liên quan đến cựu thành viên Seungri của Big Bang, những cáo buộc tham nhũng xung quanh Yang Hyun-suk và vụ bê bối ma túy liên quan đến cựu trưởng nhóm B.I của iKon, Yang Hyun-suk đã từ chức CEO và rút lui khỏi tất cả các vị trí trong YG Entertainment và em trai của ông, Yang Min-suk, cũng đã từ chức CEO vào ngày 14 tháng 6 năm 2019.[2][3][4][5] Hwang Bo-kyung được bổ nhiệm làm CEO mới của YG Entertainment vào ngày 20 tháng 6 năm 2019.[6]

Đối tácSửa đổi

Trong nước, YG đã có quan hệ đối tác với M-Boat Entertainment và EunGun Entertainment, Yamazone Music và Booda Sound. Sau khi hợp đồng với Big Mama và Soul Star kết thúc, EunGun và M-Boat cũng kết thúc các hoạt động của họ với YG Entertainment.

Bắt đầu từ năm 2005, YG mở rộng sang thị trường nước ngoài. Se7en là nghệ sĩ YG đầu tiên mở rộng hoạt động sang những nước còn lại của châu Á. YG đã hợp tác cùng Nexstar Records, một nhãn hiệu Nippon Columbia, để quản lý việc phát hành những sản phẩm tiếng Nhật của Se7en [7]

Universal Music Japan quản lý các hoạt động tại Nhật của Big Bang,[8]Avex Group quản lý các hoạt động tại Nhật của 2NE1.[9] YG Entertainment phát hành các album tiếng Hàn thông qua 21 East Entertainment tại Trung Quốc, GMM International tại Thái Lan, và Universal Records tại Philippines.[10][11][12]

Năm 2011, YG Entertainment hợp tác với S.M. Entertainment, JYP Entertainment, KeyEast, AMENT và Star J Entertainment tạo nên United Asia Management để tạo ra một nỗ lực quảng bá âm nhạc Hàn Quốc ra quốc tế [13]

KMP HoldingsSửa đổi

Tháng 3 năm ngoái, KMP Holdings đã được thành lập thông qua hợp tác giữa YG, S.M. Entertainment, JYP, Star Empire, và các công ty khác. KMP là nhà phân phối chính thức những sản phẩm của những công ty trên. KMP là viết tắt của Korean Music Power.[14]

United Asia ManagementSửa đổi

SM Entertainment, YG Entertainment, JYP Entertainment, KeyEast, AMENT và Star J Entertainment sẽ tham gia để tạo nên một cơ quan quản lý lớn với cái tên ‘United Asia Management‘! Sự hợp tác này sẽ tạo ra nỗ lực thúc đẩy 'Hallyu' sang 'Asianlyu'. United Asia Management nhằm mục đích là nhà tiên phong thị trường toàn cầu, và tất cả các nghệ sĩ trực thuộc dưới sáu công ty con sẽ được hệ thống cơ sở dữ liệu toàn quyền quản lý. Một hệ thống sản xuất mới sẽ sử dụng cho phim ảnh và các phương tiện truyền thông khác. UAM cũng đóng vai trò là cơ quan toàn cầu cho các kế hoạch quảng bá, hoặc đang quảng bá, tại nước ngoài. UMA sẽ chính thức thành lập vào tháng 4/2011.

YGEXSửa đổi

YGEX được thành lập dưới quan hệ đối tác giữa Avex Group và YG Entertainment cho việc quảng bá và phát hành của các nghệ sĩ YG tại Nhật Bản. Các nghệ sĩ của YGEX bao gồm tất cả những nghệ sĩ đang hoạt động thuộc YG Entertainment.[15]

YG & Huyndai CardSửa đổi

Tháng 6 năm 2012, YG đã kết hợp cùng với hãng sản xuất Huyndai để chung tay phát hành và quảng bá Album "Alive" của Big Bang

Từ thiệnSửa đổi

YG Entertainment là một công ty tham gia rất nhiều hoạt động từ thiện, tạo dựng chiến dịch cộng đồng cùng với WITH. Họ quyên góp 100 won cho mỗi album bán ra, 1% từ các doanh thu bán lẻ, và 1,000 won cho bất cứ các vé hòa nhạc nào được bán ra cho các tổ chức từ thiện. Vào năm 2009, số tiền lên tới $141,000 USD. Họ vượt mức số tiền đó vào năm sau với $160,000 USD. Tổng cộng là $87,000 USD dành cho các suất học bổng cho Holt Children’s Services trong khi $69,000 USD là dành cho các trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo. YG Family cũng đã trực tiếp quyên tặng $4,400 USD, đó là số tiền mua than cho các gia đình nghèo khó trong mùa đông.[16] Công ty cũng thông báo rằng sẽ ủng hộ khoảng USD$500,000 cho việc cứu trợ các nạn nhân của trận động đất và sóng thần tại Nhật Bản năm 2011.[17]

Nghệ sĩSửa đổi

Các nghệ sĩ thu âm hiện tạiSửa đổi

Công ty conSửa đổi

The Black Label

  • Jeon So-mi
  • Zion.T
  • Okasian
  • Vince
  • Nhà sản xuất
    • Seo Won-jin
    • Dress
    • Joe Rhee
    • R.Tee
    • 24
    • Peejay
  • Okasian (The Cohort)
  • Bryan Chase (The Cohort)

YGXSửa đổi

Diễn viênSửa đổi

Vũ côngSửa đổi

Nghệ sĩ hàiSửa đổi

  • Ahn Young-mi

Cựu nghệ sĩSửa đổi

  • 2004-2008: Brave Brothers (hiện giờ là CEO của Brave Entertainment)
  • 2003-2013: Gummy (hiện giờ thuộc C-JeS Entertainment)
  • 2003-2015: Se7en (hiện giờ thuộc Eleven9 Entertainment)
  • 2NE1
    • 2009-2016: Minzy (hiện giờ thuộc The Music Works)
    • 2009-2017: Park Bom (hiện giờ thuộc D-Nation)
  • Winner
  • 2003-2017: Gu Hye-seon
  • 2016-2018: Lee Jong-suk
  • 2001-2018: Epik High
  • 2010-2018: Psy (hiện giờ là CEO của P-Nation)
  • 2015-2018: HIGHGRND Artists
  • 2016-2019: Kang Sung-hoon (Sechs Kies)
  • 2006-2019: Seungri (Big Bang)
  • 2015-2019: B.I (iKON)
  • 2015-2019: ONE
  • 2009-2019: CL
  • 2016-2019: Kim Sae- ron

Thực tập sinh hiện tạiSửa đổi

Thực tập sinh nữSửa đổi

  • Kang Seo-jin (2000) (thí sinh Kpop Star Mùa 4)
  • Im Chae-yoon (2002)
  • Han Byul (2006) (thí sinh Kpop Star Mùa 6)
  • Kim Jang Mi (2004)

Thực tập sinh namSửa đổi

  • Kim Yeon-gue (2004) (tham gia YG Treasure Box)
  • Lee In-hong (2004) (tham gia YG Treasure Box)

Thực tập sinh cũSửa đổi

  • Jang Hanna (Top 10 Kpop Star Mùa 3)
  • Lee Mi-dam (tham gia YG Treasure Box và Produce X 101)
  • Jung Jun-hyuk (tham gia YG Treasure Box)
  • Kim Jong-seob (một nửa bộ đôi Boyfriend - quán quân Kpop Star Mùa 6, tham gia YG Treasure Box)
  • Go Kyung-pyo (diễn viên)
  • Cho Mi-yeon ((G)I-DLE)
  • Lee Seo-yeon (fromis_9)
  • Jun. K (2PM)
  • Moon Sua (1999) (thí sinh Unpretty Rapstar Mùa 2)
  • Im Soo-ah (1999)
  • Lee Chae-young (2002) (thí sinh Kpop Star Mùa 3)
  • Jeon Woong (AB6IX)
  • Kim Seung-hun (CIX)
  • Lee Byong-gon (CIX)
  • Kidz Monster (Noh Tae-hyun) (HOTSHOT)
  • Kim Eun-bi (Superstar K2)
  • Yuna Kim (The Ark)
  • Hongseok (Pentagon)
  • Jang Hyun-seung (cựu thành viên BEAST, Trouble Maker)
  • Noa Kazama (2000)
  • Kang Seok-hwa (tham gia YG Treasure Box và Produce X 101)
  • Jang Jun-seo (tham gia YG Treasure Box)
  • Kim Sung-yeon (tham gia Mixnine, YG Treasure Box và Produce X 101)
  • Kil Do-hwan (tham gia YG Treasure Box)
  • Keita (tham gia YG Treasure Box)
  • Yun Si-yun (tham gia YG Treasure Box)
  • Kim Sung-joo (UNIQ)
  • Cho Seung-youn (UNIQ, tham gia Produce X 101)
  • Vương Nhất Bác (UNIQ)

YG Family Concerts và ToursSửa đổi

  • One Concert 2003 (Hàn Quốc)
  • Color of the Soul Train 2003 (Hàn Quốc)
  • One Concert 2004 (Hàn Quốc)
  • Thank U Concert 2005 (Hàn Quốc)
  • One Concert 2005 (Hàn Quốc)
  • 10th Anniversary World Tour 2006 (Hàn Quốc, Nhật Bản và Mỹ)
  • One Concert 2007 (Hàn Quốc)
  • Concert 2010 (Hàn Quốc)
  • YG Family Concert 2012 (Hàn Quốc Nhật Bản)
  • YG Family Concert 2014:POWER (Vòng quanh thế giới)

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Song, Su-hyun (15 tháng 8 năm 2016). “[KOSDAQ Star] Strong Japanese partner to defend YG from THAAD risk”. The Korea Herald. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2016. 
  2. ^ Kim, Sohee; Kang, Shinhye (14 tháng 6 năm 2019). “K-Pop Agency YG's Founder Quits as Artists Accused of Drug Use”. Bloomberg (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2019. 
  3. ^ Kim, Arin (14 tháng 6 năm 2019). “Yang quits as YG chief amid growing suspicions of drug offense cover-up”. The Korea Herald (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2019. 
  4. ^ Herman, Tamar (14 tháng 6 năm 2019). “YG Entertainment Founder Yang Hyun-Suk Leaves K-Pop Company Amid Turmoil”. Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  5. ^ https://variety.com/2019/biz/asia/yg-agency-boss-quits-as-k-pop-scandals-expand-1203252481/
  6. ^ “YG Entertainment Appoints New CEO and Addresses Scandals”. E! Online (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2019. 
  7. ^ McClure, Steve and Russell, Mark (ngày 11 tháng 6 năm 2005). “Korean Pop Seeps Into Japan”. Billboard. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011. 
  8. ^ “Big Bang”. Big Bang - Universal Music Japan. Universal Music Group. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011. 
  9. ^ “2NE1”. 2NE1 - Avex Official Website. Avex Group. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011. 
  10. ^ “It's Confirmed! Universal Records Will Release 2NE1 Albums!”. Universal Records Philippines Facebook Page. Facebook. Ngày 20 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011. 
  11. ^ “Lucky Number for 2011 is Se7en”. Universal Records Philippines Facebook Page. Facebook. Ngày 8 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011. 
  12. ^ “VIPs, You're Next”. Universal Records Philippines Facebook Page. Facebook. Ngày 13 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011. 
  13. ^ (tiếng Hàn)Lee, Jung Hyung (ngày 8 tháng 4 năm 2011). “키이스트, SM, YG, JYP 등 6개사 아시아 매니지먼트 에이전시 'UAM' 설립! (KeyEast, SM, YG, JYP & more join forces to establish a new global agency, "United Asia Management")”. Naver.com. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2011. 
  14. ^ “MK News”. Truy cập 17 tháng 2 năm 2015. 
  15. ^ “YGEX オフィシャルレーベルサイト” [YGEX Official Website]. YGEX (bằng tiếng Nhật). YG Entertainment and Avex Group. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2011. 
  16. ^ (tiếng Hàn)“YG, 2년 연속 1억원+@ 금액 기부”. Newsen. Ngày 28 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2011. 
  17. ^ Lee, Hye-rin (ngày 15 tháng 3 năm 2011). “YG, 日대지진 피해에 5억원 기부 결정” [YG Entertainment decided to donate 500 million won to earthquake victims]. Naver News (bằng tiếng Triều Tiên). NHN Corp. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2011. 

Liên kết ngoàiSửa đổi