Dã ngoại thảnh thơi

series manga đề tài dã ngoại của Afro ra mắt năm 2015
(đổi hướng từ Yuru Camp△)

Dã ngoại thảnh thơi, hay còn biết tới với tên gốc Yurucamp△ (ゆるキャン△ Yurukyan?) là một bộ manga Nhật Bản được viết và minh hoạ bởi Afro. Câu chuyện lấy bối cảnh xung quanh tỉnh Yamanashi, Nhật Bản theo chân cuộc phiêu lưu của Shima Rin, Kagamihara Nadeshiko và những người bạn của họ đến các khu cắm trại khác nhau trên khắp đất nước.

Dã ngoại thảnh thơi
Bìa BD-DVD Season 1 của Yuru Camp.jpeg
Bìa Blu-ray / DVD Volume 1 với Shima Rin (trái) và Kagamihara Nadeshiko (phải)
ゆるキャン△
(Yurukyan)
Thể loạiPhiêu lưu[1]
Iyashikei[2]
Manga
Tác giảAfro
Nhà xuất bảnHoubunsha
Nhà xuất bản tiếng ViệtKim Đồng
Nhà xuất bản khác
Đối tượngSeinen
Tạp chí
Đăng tảiTháng 7, 2015 (2015-07) – nay
Số tập12 (danh sách tập)
Anime truyền hình
Yuru Camp logo.svg
Đạo diễnKyōgoku Yoshiaki
Kịch bảnTanaka Jin
Âm nhạcTateyama Akiyuki
Hãng phimC-Station
Cấp phép
Kênh gốcAT-X, Tokyo MX, BS11, SUN, KBS, YBS, HTB, SBS
Phát sóng 4 tháng 1, 2018 (2018-01-04) 1 tháng 4, 2021 (2021-04-01)
Số tập25 + 4 tập OVA
Anime truyền hình
Heya Camp
Đạo diễnMasato Jinbo
Kịch bảnMutsumi Ito
Âm nhạcTateyama Akiyuki
Hãng phimC-Station
Cấp phép
Crunchyroll
Medialink
Kênh gốcAT-X, Tokyo MX, BS11
Phát sóng 6 tháng 1, 2020 (2020-01-06) 23 tháng 3, 2020 (2020-03-23)
Số tập12
Phim truyền hình
Đạo diễn
  • Ninomiya Takashi (S1 #1–3, #8, #11, #12 / SP / S2)
  • Yoshino Mamoru (S1 #4–5, #9–10 / S2)
  • Tamazawa Kyōhei (S1 #6–7 / S2)
Sản xuất
  • Fujino Shinya (S1)
  • Morita Noboru (Tổng, SP / S2)
  • Gōda Tomohiro (SP / S2)
  • Kumagai Kiichi (SP / S2)
  • Iwakura Tatsuya (SP / S2)
Kịch bảnKitagawa Ayako
Âm nhạcOdagiri Dai
Kênh gốcTV Tokyo, TV Osaka, TV Aichi, BS TV Tokyo
Phát hành 10 tháng 1, 2020 (2020-01-10) – nay
Số tập12 + tập đặc biệt
Trò chơi điện tử
Laid-Back Camp Virtual: Lake Motsu
Phát triểnGemdrops
Thể loạiPhiêu lưu, thực tế ảo
Hệ máyMicrosoft Windows, PlayStation 4, Nintendo Switch, iOS, Android
Ngày phát hành
  • TC 2021
Trò chơi điện tử
Laid-Back Camp Virtual: Fumoto Campsite
Phát triểnGemdrops
Phát hànhGemdrops, Clouded Leopard Entertainment
Thể loạiThực tế ảo, phiêu lưu
Hệ máyMicrosoft Windows, PlayStation 4, Nintendo Switch, iOS, Android
Ngày phát hành
  • TC April 7, 2021
Trò chơi điện tử
Laid-Back Camp: Have a Nice Day
Phát triểnMAGES.
Phát hànhMAGES.
Thể loạiVisual novel, phiêu lưu
Hệ máyPlayStation 4, Nintendo Switch
Ngày phát hành
  • JP November 11, 2021
Phim anime
Yuru Camp: Movie
Đạo diễnKyōgoku Yoshiaki
Kịch bản
  • Tanaka Jin
  • Ito Mutsumi
Hãng phim
Công chiếu2022
Quốc giaNhật Bản
Ngôn ngữTiếng Nhật
Wikipe-tan face.svg Cổng thông tin Anime và manga

Bộ truyện được xuất bản lần đầu trên tạp chí Manga Time Kirara Forward trong khoảng thời gian từ tháng 7 năm 2015 cho đến tháng 2 năm 2019 trước khi nó được chuyển sang xuất bản qua website và ứng dụng đọc manga Comic Fuz.[3] Bộ truyện được cấp phép tại Bắc Mỹ bởi Yen Press. Tại Việt Nam, bộ truyện được Nhà xuất bản Kim Đồng phát hành dưới tựa đề Dã ngoại thảnh thơi vào mùa thu năm 2021.[4]

Phiên bản anime chuyển thể mùa 1 được sản xuất bởi xưởng phim C-Station phát sóng tại Nhật Bản từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2018. Bộ anime được cấp phép và đồng tài trợ bởi Crunchyroll. Một anime ngắn dựa trên cốt truyện chính với tựa Heya Camp lên sóng từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2020. Trong khoảng thời gian này, mùa đầu tiên của phiên bản live-action cũng được phát sóng. Mùa thứ tiếp theo của live-action được ra mắt vào mùa xuân năm 2021.[5][6] Mùa thứ 2 của loạt anime chuyển thể được lên sóng từ tháng 1 đến tháng 4 năm 2021 và một phim điện ảnh sẽ được ra mắt vào đầu hè năm 2022.[7]

Bản anime chuyển thể được Crunchyroll, Polygon đánh giá rất cao và đều xếp Dã ngoại thảnh thơi vào danh sách top những bộ anime hay nhất thập niên 2010 trong danh sách của họ.[8][9] IGN, một trang web chuyên đánh giá về trò chơi điện tử, phim ảnh và âm nhạc uy tín của Hoa Kỳ cũng đưa bộ anime vào danh sách những bộ anime hay nhất thập niên 2010 và nhận xét rằng: "Dã ngoại thảnh thơi là lễ kỷ niệm tuyệt vời giữa thiên nhiên và tình bạn".[10]

Cốt truyệnSửa đổi

Nadeshiko là một học sinh trung học chuyển từ Shizuoka đến Yamanashi và quyết định đi ngắm núi Phú Sĩ nổi tiếng xuất hiện trên tờ tiền nghìn yên. Mặc dù cố gắng đạp xe đến Motosu nhưng cô đã buộc phải quay lại do thời tiết xấu.[11] Không thể tận mắt nhìn thấy núi Phú Sĩ, cuối cùng cô đã ngủ lịm ở ghế gỗ bên đường. Khi cô thức dậy thì trời đã tối và cô đang ở một nơi mà cô không nhận ra cũng như không biết làm thế nào để trở về nhà. May mắn thay, Nadeshiko gặp Rin, một cô gái đang cắm trại một mình và người đã cứu cô.[12]

Nhân vậtSửa đổi

Nhân vật chínhSửa đổi

Kagamihara Nadeshiko (各務原 なでしこ?)

Lồng tiếng bởi: Hanamori Yumiri[13]
Diễn bởi: Ōhara Yuno
Một trong số những nhân vật chính của câu chuyện, họ của Nadeshiko xuất phát từ tên thành phố Kakamigahara, tỉnh Gifu. Trong chuyện, Nadeshiko được miêu tả là một cô gái hồn nhiên đến mức được gọi giống như một con cún,[14] cô có niềm yêu thích lớn với núi Phú Sĩ. Trong ngày đầu tiên chuyển đến tỉnh Yamanashi, cô đã đi một chặng đường dài để lên ngắm núi Phú Sĩ nhưng không may lại ngủ thiếp đi ở ghế gỗ bên đường. Trong quá khứ, Nadeshiko có thân hình có phần mũm mĩm hơn bây giờ,[15] tuy nhiên vào một ngày hè cô đã bị chị bắt tập thể dục để giảm cân.[16] Cô không ngại ngủ ở những nơi giá rét hay mang vác đồ nặng trên lưng.[17]

Shima Rin (志摩 リン?)

Lồng tiếng bởi: Tōyama Nao[13]
Diễn bởi: Fukuhara Haruka
Một trong những nhân vật chính của câu chuyện,[18] họ của cô xuất phát từ tên thành phố Shima, tỉnh Mie. Rin có vóc dáng nhỏ nhắn và thường bị nhầm với học sinh tiểu học.[19] Cô có một niềm đam mê lớn với cắm trại do được ông nội truyền lại nhưng hầu như cô chỉ hứng thú với những buổi cắm trại vào mùa đông và yên tĩnh nên cô chưa bao giờ cắm trại cùng với bất kì ai trước khi gặp Nadeshiko.[20] Kể từ khi gặp Nadeshiko, Rin bắt đầu nghiêm túc hơn với việc cắm trại của mình. Cô bắt đầu thử sức với những công việc như nấu nướng hơn là chỉ ăn mì ramen cốc.[21] Rin là thành viên của ủy ban thư viện,[22] cô thường đọc sách mỗi khi đi cắm trại hoặc khi ở thư viện.[22]
 
Thiết kế nhân vật Kagamihara Nadeshiko (trái) và Shima Rin (phải).

Ōgaki Chiaki (大垣 千明?)

Lồng tiếng bởi: Hara Sayuri[23]
Diễn bởi: Momoko Tanabe
Cô là chủ tịch câu lạc bộ ngoài trời của trường trung học Motosu. Họ của cô xuất phát từ tên thành phố Ōgaki, tỉnh Gifu. Chiaki là một người có tính cách nam tính và luôn để tóc bím hai bên trước khi cô quyết định cắt tóc ngang vai ở chương 54 của bộ truyện.[24] Khi còn học mẫu giáo, Chiaki thích đi cắm trại cùng gia đình và khi lên trung học cô quyết định đi cắm trại cùng bạn bè của mình và lập ra câu lạc bộ ngoài trời.[25] Để tận dụng ngân sách hạn hẹp của câu lạc bộ, cô thường mua những vật dụng cắm trại giá rẻ và dùng lại những phế liệu nhặt được ở ngoài trời.[26][27][28] Cô làm việc bán thời gian tại một cửa hàng rượu mà cô Toba thường xuyên tới.

Inuyama Aoi (犬山 あおい?)

Lồng tiếng bởi: Toyosaki Aki[23]
Diễn bởi: Yanai Yumena
Cô là đồng sáng lập câu lạc bộ ngoài trời với Chiaki,[26] họ của cô xuất phát từ tên thành phố Inuyama, tỉnh Aichi. Aoi có tính cách điềm đạm giống một người chị lớn và nói chuyện với phương ngữ Kansai thoải mái.[a] Cô ấy thường được gọi là "inuko"[b] bởi Chiaki. Cô nổi bật bởi hàm răng khểnh và lông mày rậm. Aoi thích kể những câu chuyện cười và mỗi khi nói dối cô có đôi mắt có phần "không đáng tin cậy".[29] Cô làm nhân viên thu ngân bán thời gian tại một cửa hàng mua sắm để trang trải cho chi phí cắm trại và hoạt động của câu lạc bộ.[30][31] Cửa hàng nơi Aoi làm việc ngay cạnh rượu Chiaki làm thêm.[31]

Saitō Ena (斉藤 恵那?)

Lồng tiếng bởi: Takahashi Rie[23]
Diễn bởi: Shida Sara
Là bạn cùng trường và là bạn thân của Rin, họ của cô xuất phát từ tên thành phố Ena, tình Gifu. Vào những ngày nghỉ mà Rin đi cắm trại, Rin thường gửi cô những hình ảnh trên đường đi cắm trại qua SNS. Ena hay nói đùa rằng mình là thành viên "câu lạc bộ đi thẳng về nhà" cũng như thường hay thức khuya và ngủ nướng những ngày nghỉ.[32][33] Cô cũng có chút hứng thú với cắm trại[34] và được Chiaki xem là người chủ chốt đưa Rin vào câu lạc bộ ngoài trời.[34] Cô có một bé cún tên là Chikuwa, giống Chihuahua và thường xuyên nhắc đến nó trong suốt loạt truyện. Ngoài ra, trong chuyến cắm trại giáng sinh trên cao nguyên Asagiri với Rin và Nadeshiko, cô được gọi Rin gọi là "chủ nhân của chú chó thỏ" vì đã trùm lên đầu Chikuwa một chiếc mũ hình tai thỏ.[35] Công việc của cô trong những ngày nghỉ và năm mới là phân loại các thiệp mừng năm mới trước khi chuyển sang làm tại một cửa hàng tiện lợi gần ga Utsubuna.[36]

Nhân vật phụSửa đổi

Kagamihara Sakura (各務原 桜?)

Lồng tiếng bởi: Inoue Marina[37]
Diễn bởi: Yanagi Yurina
Chị gái của Nadeshiko và hiện đang là sinh viên đại học. Sakura xuất hiện trong chap đầu tiên của câu chuyện để đón Nadeshiko về sau khi được Rin cứu giúp,[11] và đã mắng gay gắt Nadeshiko nhưng cô bản thân cô lại rất yêu thương em mình và ngược lại.[38] Cô có bằng lái xe ôtô và sử dụng chiếc xe giống như mẫu Nissan Racine trong suốt câu chuyện. Trong truyện, Sakura được miêu tả là một người phụ nữ xinh đẹp[39] nhưng lúc nào cũng lười biếng và khó phân biệt lúc cô ấy vui hay tức giận[40] tuy nhiên Nadeshiko có thể biết được tâm trạng của cô.[41]

Toba Minami (鳥羽 美波?)

Lồng tiếng bởi: Itō Shizuka
Diễn bởi: Tsuchimura Kaho
Xuất hiện lần đầu tiên trong chap 11 của nguyên tác,[42] cô là một giáo viên mới được nhận vào trường trung học Motosu và là giáo viên môn lịch sử.[31] Cô được miêu tả trong truyện là một giáo viên có vẻ ngoài xinh đẹp, hiền lành và tốt bụng[43] tuy nhiên lại bợm rượu và giọng điệu của cô mỗi khi say đều rất lầm lì. Toba lần đầu tiên gặp Rin và Nadeshiko trong một chuyến cắm trại với em gái mình khi đang say xỉn.[44] Tại cửa hàng rượu nơi Chiaki làm việc bán thời gian, cô là khách quen và thường mua sáu lon bia 500ml mỗi ngày.[43] Xe ôtô của cô là loại xe SUV.

Toki Ayano (土岐 綾乃?)

Lồng tiếng bởi: Kurosawa Tomoyo[45]
Diển bởi: Ishii Anna[46]
Ayano là bạn thời thơ ấu của Nadeshiko. Họ của cô xuất phát từ tên thành phố Toki, tỉnh Gifu. Cô lần đầu xuất hiện trong chap 13 của nguyên tác truyện tranh qua lời thoại của Nadeshiko[16] và xuất hiện chính thức trong chap 28 của bộ truyện. Cô thường được gọi là "Aya-chan"[c] bởi Nadeshiko.[16] Ayano biết mặt của Rin và các thành viên còn lại trong câu lạc bộ ngoài trời qua một tấm ảnh mà Nadeshiko đã gửi cho trước đó.[47] Cô và Rin cũng từng có một chuyến cắm trại cùng nhau đến thị trấn Oigawa ở chap 56 của bộ truyện.[48] Tuy nhiên sau khi đến nơi cắm trại, Ayano đã ngã khụyu xuống đất do kiệt sức bởi cô không quen những chuyến chạy xe xa như Rin.[47] Xe của cô là loại xe mô tô hạng hai Honda Ape.

Inuyama Akari (犬山 あかり?)

Lồng tiếng bởi: Matsuda Risae
Diễn bởi: Nishizawa Aina
Em gái của Aoi. Cô xuất hiện lần đầu trong chap 22 của nguyên tác gốc. Akari được miêu tả như một phiên bản nhỏ của Aoi[49] và nó thường được dùng làm chuyện đùa trong một số phân cảnh của nguyên tác truyện tranh và phim hoạt hình chuyển thể. Chiaki thường gọi cô là "little inuko"[d] và họ thân thiết đến mức có thể chơi với nhau mà không hề do dự.[50] Trong phiên bản anime truyền hình, Akari xuất hiện sớm hơn nguyên tác gốc trong tập 9 với tư cách một nhân vật phụ và ở phiên bản live-action, cô xuất hiện trong tập đặc biệt.

Shinshiro Hajime (新城 肇?)

Lồng tiếng bởi: Ōtsuka Akio (anime[37]; live-action[51])
Ông ngoại của Rin và là người yêu thích đi cắm trại ngoài trời. Sở thích cắm trại của Rin được ảnh hưởng lớn từ ông và hầu hết các thiết bị cắm trại của Rin đều do ông tặng lại.[52] Ông lần đầu xuất hiện ở chap 28 của nguyên tác để đón Rin sau khi cậu bị kẹt trong chuyến cắm trại do vấn đề về thời tiết xấu.[53] Trong phiên bản anime truyền hình chuyển thể, cảnh mà Hajime xuất hiện đã được điểu chỉnh lại sớm hơn so với nguyên tác gốc của tác giả Afro khi ông gặp Chiaki trong một chuyến cắm trại tuy nhiên không có chi tiết nào trong câu chuyện chỉ ra đó là ông của Rin và chính Chiaki cũng không biết điều này.

Shima Wataru (志摩 渉?)

Lồng tiếng bởi: Sakurai Takahiro[54]
Cha của Rin. Anh lần đầu xuất hiện vào chap 24 của bộ truyện nguyên tác.[36] Trong tập đầu tiên của phiên bản anime truyền hình chuyển thể mùa hai, anh là người chở Rin đến địa điểm cắm trại và đó cũng là lần đi cắm trại đầu tiên của Rin.

Shima Saki (志摩 咲?)

Lồng tiếng bởi: Mizuhashi Kaori
Diễn bởi: Ayumi Mikata
Mẹ của Rin. Cô lần đầu xuất hiện trong chap 6 của nguyên tác truyện tranh. Saki thường xuất hiện nhiều trong những phân cảnh khi Rin ở nhà hoặc lúc Rin dời nhà đi học hay cắm trại.[36][55] Trong quá khứ, cô đã từng nhiều lần lái xe mô tô đi cắm trại với ông ngoại của Rin và bố của Rin.[56]

Kagamihara Shūichiro (各務原 修一朗?)

Lồng tiếng bởi: Ōhata Shintaro
Diễn bởi: Noguchi Yūsuke
Cha của Nadeshiko. Anh lần đầu xuất hiện trong chap 16 của bộ truyện.[57] Theo Ayano, cha của Nadeshiko là người rất thích ăn[28] và đã từng rất béo cho đến một lần anh bị ép phải giảm cân.

Kagamihara Shizuka (各務原 静花?)

Lồng tiếng bởi: Yamamoto Nozomi
Diễn bởi: Yamamoto Eiko
Mẹ của Nadeshiko. Cô lần đầu xuất hiện trong nguyên tác gốc của tác giả Afro ở chap 16 của bộ truyện.[57]

Inuyama Mineko (犬山 みね子?)

Lồng tiếng bởi: Shindō Naomi
Bà của Aoi. Nhân vật này lần đầu xuất hiện trong chap 22 của nguyên tác gốc.[58]

Saitō Jun (斉藤 潤?)

Lồng tiếng bởi: Ōtsuka Akio[37]
Cha của Ena. Anh được đề cập đến lần đầu vào chap 19 của tập truyện gốc trong một cuộc đối thoại của Ena và xuất hiện chính thức ở chap 31.[59] Trong truyện, anh được miêu tả là người ít nói và thường xuyên làm những hành động kì lạ.

Toba Ryōko (鳥羽 涼子?)

Lồng tiếng bởi: Kokuryu Sachi
Diễn bởi: Kitahara Honoka
Em gái của Minami, người thường cắm trại với Toba. Rin và Nadeshiko ban đầu lầm tưởng cho rằng cô là con trai.[60] Ryōko lần đầu xuất hiện cùng với cô Toba ở chap 11 của nguyên tác gốc.[42]

Người dẫn truyện

Lồng tiếng bởi: Ōtsuka Akio[37]

Các chuyển thểSửa đổi

MangaSửa đổi

Manga lần đầu tiên được xuất bản trên tạp chí Manga Time Kirara Forward trong khoảng thời gian từ tháng 7 năm 2015 cho đến tháng 2 năm 2019 trước khi được chuyển sang xuất bản trên website và ứng dụng đọc manga Comic Fuz. Tính đến nay đã có tổng cộng 11 tập đã được phát hành.[61] Bộ truyện được cấp phép tại Bắc Mỹ bởi công ty xuất bản Yen Press với tập đầu tiên của manga ấn bản tiếng Anh được phát hành vào tháng 3 năm 2018.[62] Tại thị trường Việt Nam, bộ truyện được Nhà xuất bản Kim Đồng phát hành dưới tựa đề Dã ngoại thảnh thơi vào tháng 11 năm 2021.[4]

Danh sách các tập truyệnSửa đổi
 
Bìa truyện tập 1 phiên bản tiếng Việt.
#Tiếng NhậtTiếng Việt
Ngày phát hànhISBNNgày phát hànhISBN
1 12 tháng 11, 2015 (2015-11-12)[61]ISBN 978-4-8322-4635-522 tháng 11, 2021[63]ISBN 978-604-2-23284-5
2 12 tháng 7, 2016[61]ISBN 978-4-8322-4719-26 tháng 12, 2021[64]ISBN 978-604-2-23285-2
3 10 tháng 2, 2017[61]ISBN 978-4-8322-4804-520 tháng 12, 2021[64]ISBN 978-604-2-23286-9
4 12 tháng 7, 2017[61]ISBN 978-4-8322-4851-910 tháng 1, 2022[65]ISBN 978-604-2-23287-6
5 12 tháng 12, 2017[61]ISBN 978-4-8322-4900-4ISBN 978-604-2-23288-3
6 12 tháng 3, 2018[61]ISBN 978-4-8322-4927-1ISBN 978-604-2-23578-5
7 11 tháng 10, 2018[61]ISBN 978-4-8322-4983-7ISBN 978-604-2-23579-2
8 26 tháng 4, 2019[61]ISBN 978-4-8322-7092-3ISBN 978-604-2-23580-8
9 10 tháng 1, 2020[61]ISBN 978-4-8322-7149-4ISBN 978-604-2-23581-5
10 12 tháng 3, 2020[61]ISBN 978-4-8322-7174-6ISBN 978-604-2-23582-2
11 7 tháng 1, 2021[61]ISBN 978-4-8322-7240-8ISBN 978-604-2-23583-9
12 12 tháng 4, 2021[61]ISBN 978-4-8322-7269-9ISBN 978-604-2-23584-6
Mã ISBN tiếng Việt được lấy từ Cục Xuất bản, In và Phát hành - Bộ thông tin và truyền thông.[66]

Anime truyền hìnhSửa đổi

Phiên bản anime chuyển thể dài 12 tập do Kyōgoku Yoshiaki làm đạo diễn và xưởng phim C-Station sản xuất phát sóng từ ngày 4 tháng 1 năm 2018[67] cho tới ngày 22 tháng 3 năm 2018. Bộ anime được Tanaka Jin phụ trách giám sát kịch bản và Sasaki Mutsumi thiết kế nhân vật.[13] Đoạn video giới thiệu đầu tiên được phát hành vào tháng 11 năm 2017[68] và đoạn video giới thiệu thứ hai được phát hành vào tháng 12 cùng năm.[69] Một sự kiện giao lưu với dàn diễn viên lồng tiếng và các thành viên trong đoàn làm phim được tổ chức tại Toho Cinemas ở Shinjuku vào ngày 10 tháng 12 năm 2017.[70] Ca khúc mở đầu là "Shiny Days" của Asaka được phát hành dưới dạng đĩa đơn vào ngày 24 tháng 1 năm 2018 và ca khúc kết thúc là "Fuyubiyori" của Sasaki Eri.[71] Bộ anime phát hành ba tập Blu-ray / DVD từ ngày 28 tháng 3 năm 2018 cho đến ngày 25 tháng 7 năm 2018 và có thêm một tập OVA.[72] Mùa đầu tiên của anime được phát sóng trên các kênh truyền hình AT-X, Tokyo MX, Sun TV, KBS Kyoto, và BS11 từ ngày 4 tháng 1 năm 2018,[73] và phát lại trên kênh BS11 từ ngày 7 tháng 10 năm 2021.[74] Bộ anime được cấp phép phát sóng (ngoài khu vực Châu Á) và đồng tài trợ bởi Crunchyroll.[75][76] Ani-One, kênh YouTube thuộc công ty cấp phép Medialink phân phối bộ anime cho khu vực Đông Nam Á bắt đầu từ ngày 24 tháng 12 năm 2020.[77]

Mùa thứ hai cùng với một anime ngắn và một phim điện ảnh đã được thông báo sản xuất vào tháng 10 năm 2018.[78][79] Anime ngắn với tựa Heya Camp, được phát sóng từ ngày 6 tháng 1 năm 2020 đến ngày 23 tháng 3 năm 2020.[80][81] Anime ngắn này được đạo diễn bởi Jinbo Masato, với Ito Mutsumi đảm nhận phần cốt truyện,[82] Sasaki Mutsumi phụ trách thiết kế nhân vật.[83] Một video giới thiệu dài 30 giây cho anime ngắn này được phát hành vào tháng 8 năm 2019.[84] Vào tháng 12 năm 2019, một áp phích quảng bá đã được công bố sẽ trao cho năm người chiến thắng bằng cách trả lời câu hỏi nhằm thu thập ý kiến những người hâm mộ bộ anime.[85]

Mùa thứ hai của loạt anime được đạo diễn bởi Kyōgoku Yoshiaki.[86] Đoạn video giới thiệu cho mùa 2 của được công bố vào ngày 21 tháng 9 năm 2020[87] và đoạn video giới thiệu thứ 2 được công bố vào tháng 11 cùng năm.[88] Ca khúc chủ đề là "The Sunshower" của Asaka.[89] Một tập đặc biệt đi kèm với Blu-ray / DVD của loạt phim đã phát hành vào ngày 27 tháng 5 năm 2020.[90] Mùa thứ hai được phát sóng từ ngày 7 tháng 1 năm 2021 đến ngày 1 tháng 4 năm 2021.[91][92] Ca khúc mở đầu và kết thúc cho mùa thứ hai là "Seize The Day""Next to Spring" lần lượt do Asaka và Sasaki Eri thể hiện.[93] Một tập OVA đã được phát hành vào ngày 28 tháng 7 năm 2021.[94] Mùa thứ hai của loạt anime được phát sóng tại Nhật Bản trên các kênh AT-X, Tokyo MX, BS11, Sun TV, và KBS Kyoto từ ngày 7 tháng 1 năm 2021, từ ngày 9 tháng 1 trên kênh YBS, 10 tháng 1 trên Mie TV, 11 tháng 1 trên Hokkaido TV và từ 12 tháng 1 trên kênh SBS (Shizuoka Broadcasting System).[95] Kênh YouTube Ani-One phát trực tuyến bộ anime cho khu vực Đông Nam Á.[96] Tại Ấn Độ, bộ phim được phát hành trên Netflix từ ngày 30 tháng 6 năm 2021.[97]

Bối cảnh câu chuyệnSửa đổi

 
Ga Utsubuna được Nadeshiko sử dụng để đến trường hàng ngày.

Mặc dù bối cảnh chính của câu chuyện diễn ra ở xung quanh tỉnh Yamanashi, Nhật Bản nhưng tên một số các cửa hàng dụng cụ cắm trại, cửa hàng ăn uống, địa chỉ tên miền,... đã được thay đổi thành những tên không có thật.[98] Lấy ví dụ như trường trung học Minobu, nơi mà các nhân vật trong câu chuyện theo học không tồn tại ngoài đời thực.[99] Nhưng trong phiên bản anime truyền hình chuyển thể nó đã được miêu tả nằm đâu đó tại trường tiểu học Minobu cũ (đã đóng cửa vào tháng 3 năm 2017) và trường trung học Minobu (đóng cửa vào tháng 3 năm 2016).[99][100] Hay như cửa hàng bán dụng cụ cắm trại ngoài trời được miêu tả nằm ở thị trấn Minobu trong manga nguyên tác nhưng sự thật là tại thị trấn Minobu không tồn tại bất cứ cửa hàng nào bán dụng cụ cắm trại nào. Nên trong phiên bản chuyển thể live-action, nó đã được thay đổi thành cửa hàng bán đồ cắm trại "Elk" tại thành phố Kofu.[101] Ngoài những địa điểm đã nêu ở trên và một số địa điểm khác (nhà của những nhân vật chính trong câu chuyện[102],...) thì những nơi như Frespo Minobu, ga tàu Utsubuna hay các địa điểm cắm trại, đường tàu điện xuất hiện trong tác phẩm gốc và các chuyển thể đều là những địa điểm có thật.

Âm nhạcSửa đổi

Laid-Back Camp Original Soundtrackalbum nhạc phim mùa 1 của loạt anime Dã ngoại thảnh thơi, được phát hành vào ngày 21 tháng 3 năm 2018 bởi 5pb.[103] Hầu hết các ca khúc trong mùa đầu tiên được biên soạn bởi Tateyama Akiyuki[104] và được thu âm tại Daikanyama Mages. Studio. Album đạt vị trí thứ 9 trong bảng xếp hạng album Oricon được công bố vào ngày 2 tháng 4 năm 2018.[105]

Laid-Back Camp Season 2 Original Soundtrack là album nhạc phim mùa 2 của loạt anime Dã ngoại thảnh thơi, được phát hành vào ngày 31 tháng 3 năm 2021 bởi Mages.[106] Hầu hết các ca khúc trong mùa đầu tiên được biên soạn bởi Tateyama Akiyuki[107] và có một số nhạc sĩ khác tham gia như Shioya Nobuhiro,[108] Takeda Kohei,[109] Kuwabara Kenichi,[110] Matsushita Panao,[111]... Album đạt vị trí thứ 21 trong bảng xếp hạng album Oricon được công bố vào ngày 12 tháng 4 năm 2021.[112]

Anime điện ảnhSửa đổi

Một phim điện ảnh của bộ anime được thông báo ra mắt vào đầu mùa hè năm 2022[7] với các thành viên chủ chốt của bộ anime truyền hình trước đó sản xuất.[113] Một đoạn video giới thiệu của phim đã được phát hành vào tháng 10 năm 2021.[114]

Live-actionSửa đổi

 
Biểu trưng bản live-action mùa 1 của Dã ngoại thảnh thơi.

Mùa thứ nhất của live-action Dã ngoại thảnh thơi được công bố vào tháng 11 năm 2019 và lên sóng trên TV Tokyo từ ngày 10 tháng 1 năm 2020 đến ngày 27 tháng 3 năm 2020.[115] Ca khúc chủ đề là "Mabataki mo Sezu ni" (瞬きもせずに?) được sáng tác và trình bày bởi H△G và ca khúc kết thúc là "Replay" của ban nhạc Longman. Mùa thứ 2 của phiên bản live-action được công bố vào tháng 11 năm 2020[6] và phát sóng từ 2 tháng 4 năm 2021. Ca khúc mở đầu của mùa thứ hai là "Hello Youth" của ban nhạc Longman[116] và ca khúc kết thúc là "Wasuremono wo Shinai you ni" (わすれものをしないように?) do Sarasa Kadowaki trình bày.[117]

Trong quá trình thực hiện mùa đầu tiên của bộ phim, nhà sản xuất Fujino Shinya của TV Tokyo tiết lộ rằng ông muốn "tái tạo lại nguyên tác truyện tranh một cách trung thực nhất có thể và chính nó cũng là thách thức làm thế nào để thể hiện nguyên tác lên phiên bản live-action một cách xuất sắc nhất".[118] Vì lý do này, đoàn làm phim đã tiến hành thỏa thuận hợp tác với cả bảy địa điểm xuất hiện trong manga và anime chuyển thể để lấy làm bối cảnh cho bộ phim.[119] Vào ngày đầu tiên của lịch trình quay phim, tại khu cắm trại Koan đã diễn ra thời tiết xấu nên đoàn làm phim đã hoãn lại và điều chỉnh sang một ngày khác.[120]

Tuy vậy nhưng bộ phim vẫn nhận được nhiều phản ứng khác nhau từ khán giả do đây là phần phim live-action chuyển thể từ một tác phẩm rất ăn khách tại Nhật Bản. Trong một bài phỏng vấn, nhà sản xuất Fujino Shinya đã trả lời với báo chí rằng: "Tôi cảm thấy có chút gì đó chán nản do mọi người bàn luận về nó quá nhiều, nhưng chính vì những ý kiến này mà một lần nữa tôi có thể hứa với các bạn rằng tôi sẽ không biến tác phẩm quý giá của các bạn thành thảm họa".[119]

Trong tập thứ 2 của phiên bản live-action mùa 2, Otsuka Akio, diễn viên lồng tiếng cho ông nội Rin và cũng là người dẫn truyện cho cả 2 mùa phim chuyển thể anime trước đó cũng xuất hiện với tư cách ông nội của Rin mặc dù chỉ mỗi giọng nói của ông.[121] Bản thân Otsuka cũng xuất hiện trong dự án "Akicamp △" diễn ra vào tháng 4 năm 2020 và có nhiều kỳ vọng rằng ông cũng sẽ xuất hiện trong live-action.[122]

Trò chơi điện tửSửa đổi

Một trò chơi video thực tế ảo dựa trên loạt phim với tựa Yuru Camp VIRTUAL CAMP (ゆるキャン△ VIRTUAL CAMP Yurukyan Bācharu Kyanpu?) được phát triển bởi hãng phần mềm Gemdrops. Trò chơi được mô tả là "một cuộc phiêu lưu cắm trại ảo" và có sẵn 2 phần cốt truyện bao gồm một cốt truyện lấy bối cảnh ở hồ Montosu và một cốt truyện còn lại lấy bối cảnh ở khu cắm trại Fumoto nằm trên cao nguyên Asagiri. Tựa game có sẵn trên các dòng máy chạy hệ điều hành Microsoft Windows, các dòng máy chơi game như Nintendo Switch, PlayStation 4 hay các hệ điều hành di động AndroidIOS. Phiên bản Lake MotosuFumoto Campgrounds được phát hành lần lượt vào ngày 4 tháng 3 năm 2021 và 7 tháng 4 năm 2021.[123][124][125]

Một Visual Novel dựa trên nguyên tác gốc có tựa Yuru Camp Have a nice day! (ゆるキャン△ Have a nice day! Yurukyan Habu a naisu dei!?) được phát triển và phát hành bởi MAGES đã được phát hành cho dòng máy PlayStation 4Nintendo Switch vào ngày 11 tháng 11 năm 2021 tại thị trường Nhật Bản.[126][127][128]

Các nhân vật trong bộ truyện cũng đã xuất hiện cùng với các nhân vật của tạp chí Manga Time Kirara trong tựa game nhập vai dành cho các thiết bị di động Kirara Fantasia vào năm 2018.[129][130] Ngoài ra cũng có một số lần hợp tác khác với trò chơi bóng chày Cinderella Nine của Akatsuki vào năm 2019[131][132] hay Merc Storia của Happy Elements vào năm 2021.[133]

Radio trên internetSửa đổi

Một chương trình phát thanh trực tuyến trên internet với tựa đề "Trạm thông tin Raji Camp △ - Yuru Camp △" với sự tham gia của Hanamori Yumiri, diễn viên lồng tiếng cho nhân vật Nadeshiko, được phát trực tuyến mỗi tuần một lần trên Onsen kể từ ngày 12 tháng 7 năm 2020.[134] Một chương trình khác có tên "Trạm thông tin Raji Camp △ - Yuru Camp △ - Nico Live Special" đã được phát sóng trực tiếp trên 27 Hour NicoNico Live vào ngày 15 tháng 7 năm 2020.[135]

Đón nhậnSửa đổi

Anime truyền hìnhSửa đổi

Vào tháng 2 năm 2018, đài YBS Wide News đã có bài viết nói về Dã ngoại thảnh thơi rằng: "Do ảnh hưởng của bộ truyện, người hâm mộ đã được truyền cảm hứng để thử cắm trại mùa đông bất chấp cái lạnh".[136] Trong cùng tháng đó, các đại lý của Yamaha Vino cũng thông báo rằng các mẫu xe được thiết kế cùng màu sắc của chiếc xe của Rin đã bán hết.[137] Tỉnh Yamanashi, bối cảnh chính của bộ phim cũng chứng kiến sự gia tăng đáng kể số lượng khách du lịch đến thăm các địa điểm nổi bật trong loạt phim, đặc biệt là hai khu cắm trại Kōan và Suimeiso.[138][139]

Báo cáo thuế quận Minobu, tỉnh Yamanashi[140]
Năm Số lượng Số tiền Chú thích
2013 21 trường hợp 6,210,000 Yên
2014 25 trường hợp 3,674,000 Yên
2015 40 trường hợp 4,585,000 Yên
2016 30 trường hợp 3,405,000 Yên
2017 361 trường hợp 27,195,000 Yên Mùa 1 của loạt anime phát sóng
2018 465 trường hợp 18,605,000 Yên
2019 500 trường hợp 20,957,000 Yên
Anime ngắn Heya Camp và
live-action phát sóng
2020 728 trường hợp 28,532,000 Yên Mùa 2 của loạt anime phát sóng

Giáo sư Tanaka Atsushi tại đại học Yamanashi và một hội đồng nghiên cứu khác đã cùng khảo sát các tác động kinh tế của Dã ngoại thảnh thơi đối với khu vực quận Minobu.[141] Khảo sát cho thấy trong khoảng thời gian từ tháng tháng 4 năm 2018 đến tháng 1 năm 2019, doanh thu tiêu thụ hàng hóa và quà lưu niệm đã mang lại lợi nhuận lên tới 85 triệu yên.[142] Với du khách, mức chi tiêu nhiều hơn 40% so với mức được ghi nhận trước đó.[141][142] Sự gia tăng chi tiêu cùng với đà tăng trưởng kinh tế rõ rệt được cho là nhờ "hiệu ứng tâm lý" của loạt phim khiến cho người hâm mộ muốn chi tiêu nhiều hơn cho các địa điểm du lịch.[141]

Trong một khảo sát khác với người dân địa phương của đại học Yamanashi với câu hỏi: "Bạn có nghĩ Dã ngoại thảnh thơi đã dẫn tới việc cải thiện hình ảnh của khu vực không". Kết quả cho thấy có 98% số người trả lời đồng ý hoặc có phần đồng ý với quan điểm đã nêu.[143] Với câu hỏi: "Bạn có nghĩ Dã ngoại thảnh thơi sẽ khiến bạn muốn dừng chân ở đây lâu thêm chút nữa không", có 83% người trả lời cho biết họ muốn gắn bó với nơi này lâu thêm.[143] Trong năm tài chính 2017 (tính từ tháng 3 năm 2017 đến tháng 3 năm 2018), số lượng người nộp thuế lên cơ quan thuế quận Minobu, tỉnh Yamanashi đã tăng xấp xỉ 12 lần và số tiền thuế thu về cũng tăng hơn 8 lần so với năm trước đó (2016). Trong năm tài chính tiếp theo, 2018, số người nộp thuế tăng lên tuy nhiên số tiền thu về lại thấp hơn năm tài chính trước đó do các vấn đề liên quan đến kê khai thuế bị chậm trễ.[140]

Nhà văn kiêm biên tập viên tự do Keisuke Aoki đã giải thích sức hấp dẫn của bộ truyện trong một bài phỏng vấn với tờ Real Sound: Dã ngoại thảnh thơi là bộ truyện tranh dành cho lứa tuổi mới lớn với các nữ sinh trung học là nhân vật chính, nhưng nó cũng là thứ để bạn có thể học thêm nhiều điều về cắm trại. Bằng cách miêu tả nhân vật chính của câu chuyện là một người mới bắt đầu, tác giả có thể đan xen miêu tả sự phát triển trong các kiến ​​thức cắm trại của các nhân vật một cách tự nhiên".[144]

 
Các toa tàu dạng TH2100 cùng với các nhân vật trong Dã ngoại thảnh thơi.

Nhà văn tự do Harunooto viết, "Khi anime truyền hình được phát sóng, tỉnh Yamanashi, nơi câu chuyện của anime diễn ra đã tạo một trang web để khuyến khích mọi người đến thăm những địa điểm đã xuất hiện trong anime. Các hàng hóa và vật dụng có liên quan và hàng hóa đã bán hết" và ông gọi đó là "sự hưởng ứng tuyệt vời".[145]

Nhà phê bình anime Ryota Fujitsu mô tả mối quan hệ giữa Rin và Nadeshiko là "rất hiện đại". Theo Ryota, "Rin là một người thích cắm trại một mình, trong khi Nadeshiko thích ra ngoài trời với các thành viên của câu lạc bộ. Nhưng họ trao đổi ảnh và nhắn tin trên điện thoại thông minh rất thường xuyên cùng với đó là những cảm giác ngạc nhiên, phấn khích và tiếng cười".[146] Ngoài ra, ông đã chọn tác phẩm này vào danh sách Top 10 anime hay nhất năm 2018 do chính ông bình chọn.[146]

Tháng 11 năm 2019, Polygon, chuyên trang về đánh giá, đăng tải về trò chơi điện tử và phim ảnh có trụ sở tại Hoa Kỳ đã đưa Dã ngoại thảnh thơi vào danh sách những anime hay nhất của thập niên năm 2010.[8] Crunchyroll đã đưa bộ anime vào danh sách "Top 100 anime hay nhất của thập niên 2010".[9] IGN, chuyên trang đánh giá về trò chơi điện tử, phim ảnh và âm nhạc uy tín của Hoa Kỳ đã liệt kê Dã ngoại thảnh thơi là một trong số các bộ anime hay nhất của thập niên 2010 kèm với lời nhận xét: "Dã ngoại thảnh thơi là lễ kỷ niệm tuyệt vời giữa thiên nhiên và tình bạn".[10] Ba tập manga đầu tiên của bộ truyện đã được đưa vào danh sách những "Tiểu thuyết có đồ họa tuyệt vời dành cho thanh thiếu niên" năm 2019 của Hiệp hội Thư viện Hoa Kỳ.[147] Bộ truyện cũng được đề cử giải Eisner ở hạng mục "Phiên bản xuất bản tại Mỹ của tác phẩm ngước ngoài — Châu Á xuất sắc nhất" năm 2019.[148] Tại Tokyo Anime Award Festival 2019, mùa đầu tiên của loạt phim xếp vị trí thứ 4 trong hạng mục phim truyền hình của giải "Anime của năm: 100 Anime được yêu thích nhất".[149]

Thành phố Iwata, nằm ở tỉnh Shizuoka đã ghi nhận lượt khách tăng đáng kể ở những khu vực như Cổng Torii tại Bãi biển Fukuda, khu vực cắm trại Ryuyokaiyo Koen và Đền Mitsuke Tenjin. Điều này được cho là ảnh hưởng từ mùa thứ hai của loạt anime Dã ngoại thảnh thơi.[150]

Live-actionSửa đổi

Sau quá trình phát sóng mùa đầu tiên của live-action chuyển thể, nhờ việc tái hiện chân thực nguyên tác của tác phẩm gốc và phiên bản anime truyền hình, bộ phim đã nhận được sự đón nhận nồng nhiệt của khán giả, đặc biệt là diễn xuất của hai nhân vật Nadeshiko và Chiaki cùng với khung cảnh tuyệt đẹp của thiên nhiên vốn có là chỉ có live-action mới có thể lột tả hết được.[151][152][153] Phong cảnh trong phim được nhận xét rằng đẹp đến mức đáng kinh ngạc. Trên các trang mạng xã hội và diễn đàn của Nhật Bản, nhiều người hâm mộ nói đùa rằng "nó được vẽ nên một cách đầy choáng ngợp".[119] Trước những phản ứng tích cực của người hâm mộ, nhà sản xuất Fujino Shinya chia sẻ: “Thành thực mà nói, tôi cảm thấy nhẹ nhõm vì có hầu hết các khán giả đều hài lòng với mức độ chuyển thể sát với nguyên tác".[154]

 
Một bảng chỉ dẫn tuyến đường từ ga Kai-Tokiwa đến trường trung học Motosu do Hội đồng xúc tiến phục hồi Gojogaoka và NEXCO Central Japan hợp tác.

Các hợp tác chính phủ và doanh nghiệpSửa đổi

Một áp phích hợp tác giữa Dã ngoại thảnh thơi và Bộ Y tế, lao động và phúc lợi Nhật Bản đã được phát hành nhằm tuyên truyền các biện pháp phòng chống côn trùng.[155]
  • Cơ quan lâm nghiệp (Nhật Bản)
Một cuốn sách hướng dẫn có các nhân vật trong Dã ngoại thảnh thơi được thực hiện và phân phát tại các địa điểm tổ chức sự kiện và các quán ăn ngoài trời nhằm cung cấp các thông tin về các địa điểm cắm trại tại các khu vực rừng quốc gia. Việc làm này được coi là nỗ lực của chính phủ trong việc khuyến khích sử dụng các khu rừng quốc gia.[156]
 
Máy bán nước "Lucky Drink Shop" được thành lập dưới sự hợp tác của "Happy Drink Shop" và Dã ngoại thảnh thơi (được lắp đặt tại bãi đậu xe Joko-in gần trường trung học Motosu).
  • Minobu-san Kuon-ji
Một video giới thiệu toàn bộ khu vực Minobu-san với sự hợp tác của Dã ngoại thảnh thơi cùng các diễn viên lồng tiếng trong loạt anime giới thiệu địa danh này.[157]
  • Princess Cafe
Một chuỗi cà phê hợp tác với dự án anime có tên "Yuru Camp△ Cafe" sẽ mở các của hàng tại Ikebukuro, Akihabara, Nagoya, Osaka, Fukuoka và Sapporo từ ngày 6 tháng 4 đến ngày 29 tháng 4 năm 2018.[158]
  • Giải đua xe Fuji 24 Hours Race
Sự kiện hợp tác giữa Dã ngoại thảnh thơi và giải xe Fuji 24 Hours Race mang tên "Yuru Camp △ × FUJI SPEEDWAY" được tổ chức tại Fuji Speedway từ ngày 21 đến 23 tháng 5 năm 2021.[159]
  • Keio Group
Từ tháng 1 năm 2018, khi anime mùa 1 bắt đầu phát sóng, tất cả các toa tàu tuyến Keio và tuyến Inokashira đều được dán một áp phích với tác với nội dung: "Xe buýt Keio rất tiện lợi nếu bạn muốn thăm quan các điểm của Dã ngoại thảnh thơi!"[160]
  • Rurubu Yuru Camp △
Một cuốn sách hướng dẫn có tên "Rurubu Yuru Camp △" hợp tác với phiên bản anime truyền hình chuyển thể do nhà xuất bản JTB phát hành vào ngày 4 tháng 2 năm 2020, giới thiệu các thị trấn, khu cắm trại,... dựa trên phiên bản anime truyền hình.[161][162] Vào ngày 29 tháng 7 năm 2021, tập tiếp theo của cuốn sách được phát hành với tên "Rurubu Yuru Camp △ SEASON 2" dựa trên phiên bản anime chuyển thể mùa 2.[163]
  • Yamaha Music Entertainment Holdings
Một cuốn sách hướng dẫn về âm nhạc do Yamaha Music Entertainment Holdings phát hành vào ngày 28 tháng 7 năm 2021, với sự tham gia phỏng vấn của các nhạc sĩ của bộ anime truyền hình. Cuốn sách hướng dẫn tập chung giới thiệu về các nhạc cụ và các phụ kiện để nghe nhạc ngoài trời.[164]
  • Manga / Anime Sora yori mo Tōi Basho
Một số mặt hàng hợp tác giữa Dã ngoại thảnh thơi và Sora yori mo Tōi Basho đã được bày bán tại gian hàng của tập đoàn KADOKAWA tại hội chợ dōjinshi Comiket lần thứ 96 diễn ra vào tháng 8 năm 2019.[165]

Các chương trình có liên quanSửa đổi

Hanamori Yumiri, người lồng tiếng cho nhân vật Nadeshiko sẽ thực hiện thử thách cắm trại một mình được phát sóng trên kênh AT-X trong chương trình Club AT-X Suzumaoso từ ngày 2 tháng 12 năm 2017. Một đoạn ngắn trong chương trình đã được cắt ra và đăng tải kênh kênh YouTube vào ngày 24 tháng 11 năm 2017.[166]

Một dự án bao gồm 3 video mang tên "Akicamp △" đã được phát hành vào ngày 1 tháng 4 năm 2020 trong đó người dẫn chuyện Otsuka Akio đã thực hiện một chuyến đi cắm trại một mình. Dự án ban đầu được lên kế hoạch phát hành trong tháng 4 nhưng sau đó đã được kéo dài đến ngày 6 tháng 5 năm 2020.[167][168]

Giải thưởng và đề cửSửa đổi

Năm Giải thưởng Hạng mục Đề cử Kết quả Tham khảo
2019
Crunchyroll Anime Award[e]
Nhân vật nữ xuất sắc nhất
Kagamihara Nadeshiko
Đề cử
2019
Crunchyroll Anime Award[e]
Diễn viên lồng tiếng xuất sắc nhất (Tiếng Nhật)
Tōyama Nao
Đề cử
2019
Phiên bản xuất bản tại Mỹ của tác phẩm
ngước ngoài—Châu Á xuất sắc nhất
Dã ngoại thảnh thơi
(Manga)
Đề cử
2021
Liên hoan hoạt hình Thượng Hải[f]
Phim hoạt hình xuất sắc nhất
Dã ngoại thảnh thơi
Đề cử

Chú thíchSửa đổi

Ghi chúSửa đổi

  1. ^ Trong chương phụ "inuinu inuko-san", có một cảnh Aoi đã nói rằng cô ấy đến từ tỉnh Gifu, không phải Kansai và cô ấy từng sống ở thành phố Inuyama. Nhưng ngay sau đó, Aoi bảo đó chỉ là cô ấy đang nói đùa. Trong cảnh tiếp theo, Aoi cảm thấy khó chịu khi được chỉ ra thành phố Inuyama nằm ở tỉnh Aichi, không phải tỉnh Gifu.
  2. ^ inu trong tiếng Nhật nghĩa là cún, inuko là người yêu cún.
  3. ^ "-chan" là một kính ngữ thông dụng trong tiếng Nhật thường được dùng cho bạn thân, người yêu hay các thành viên nữ (chị, em,...) trong gia đình. Tuy nhiên không nên dùng kính ngữ "-chan" cho những người có địa vị cao hơn mình.
  4. ^ Little trong tiếng Anh là nhỏ bé; inu trong tiếng Nhật là cún, inuko là người yêu cún.
    Tuy nhiên cách gọi của Chiaki nên được hiểu là "phiên bản nhỏ của Aoi" thay vì "người yêu cún nhỏ bé".
  5. ^ a b Đề cử cho mùa 1 của loạt anime.
  6. ^ Đề cử cho mùa 2 của loạt anime.

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ “The Winter 2018 Anime Preview Guide - Laid-Back Camp” [Đánh giá ban đầu về Anime mùa đông 2018 - Laid-Back Camp]. Anime News Network (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2019.
  2. ^ “Laid-Back Camp at Otakon 2019” [Laid-Back Camp tại Otakon 2019]. Anime News Network. 15 tháng 8 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2020.
  3. ^ Antonio Pineda, Rafael. “Laid-Back Camp Manga Moves From Magazine to New App” [Manga Laid-Back Camp chuyển từ Tạp chí sang Ứng dụng mới]. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2019.
  4. ^ a b Nhà xuất bản Kim Đồng (1 tháng 8 năm 2021). “Thông báo của nhà xuất bản Kim Đồng về thời gian phát hành tại Việt Nam”. facebook.com. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2021.
  5. ^ ゆるキャン△:人気キャンプマンガが福原遥主演で実写ドラマ化 "野クル"メンバーに大原優乃、箭内夢菜も [Yuru Camp △: Manga nổi tiếng về cắm trại chuyển thể thành live action với sự tham gia của Haruka Fukuhara, Yuno Ohara và Yumena Yanai trong vai các thành viên câu lạc bộ ngoài trời.]. MANTAN Inc. 20 tháng 11 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2019.
  6. ^ a b Mateo, Alex. “Live-Action Laid-Back Camp Series Gets 2nd Season” [Series Live-Action Laid-Back Camp sẽ có phần thứ 2]. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2020.
  7. ^ a b 『ゆるキャン△』シリーズ公式 [@yurucamp_anime] (9 tháng 10 năm 2021). /映画『ゆるキャン△』2022年初夏全国ロードショー!\ シリーズ最新作の映画『ゆるキャン△』が2022年初夏に公開されます!さらに本作の世界観が垣間見えるティザービジュアルが公開!! スクリーンの中で、どのような5人が描かれるのかお楽しみに!http://yurucamp.jp #ゆるキャン [/ Roadshow của phim điện ảnh "Yuru Camp △" sẽ được tổ chức trên khắp Nhật Bản vào đầu mùa hè năm 2022! \ Phim điện ảnh mới nhất trong series, "Yuru Camp △", sẽ được phát hành vào đầu mùa hè năm 2022! Ngoài ra, một đoạn video giới thiệu giúp bạn có cái nhìn thoáng qua về bộ phim này đã được phát hành! Hãy chờ xem hành trình của họ sẽ diễn ra như nào trên màn ảnh.http://yurucamp.jp #YuruCamp] (Tweet) (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2021 – qua Twitter.
  8. ^ a b “The best anime of the decade” [Anime hay nhất của thập kỷ]. Polygon. 6 tháng 11 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2020.
  9. ^ a b Wolf, Ian (27 tháng 11 năm 2019). “Crunchyroll Names The Top 100 Anime of the 2010s” [Crunchyroll công bố danh sách cho 100 anime hay nhất của những năm 2010]. Anime UK News. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2020.
  10. ^ a b “The Best Anime of the Decade (2010 - 2019)” [Anime hay nhất của thập kỷ (2010 - 2019)]. IGN. 1 tháng 1 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2020.
  11. ^ a b Afro, Yuru Camp△, Chap 1, Nhà xuất bản Kim Đồng, tr. 27, ISBN 978-604-2-23284-5
  12. ^ Afro, Yuru Camp △, Chap 1, Nhà xuất bản Kim Đồng, tr. 18, ISBN 978-604-2-23284-5
  13. ^ a b c Yurucamp Anime Reveals Main Cast, 1st Visual” [Yuru Camp anime tiết lộ dàn diễn viên lồng tiếng.]. Anime News Network. 25 tháng 6 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2017.
  14. ^ Afro, Yuru Camp△, Tập 2, Nhà xuất bản Houbunsha, tr. 95, ISBN 978-4-8322-4719-2
  15. ^ Afro, Yuru Camp△, Tập 5, Nhà xuất bản Houbunsha, ISBN 978-4-8322-4900-4
  16. ^ a b c Afro, Yuru Camp△, Tập 2, Chap 13, Nhà xuất bản Houbunsha, tr. 95, ISBN 978-4-8322-4719-2
  17. ^ Afro, Yuru Camp△, Tập 1, Nhà xuất bản Houbunsha, tr. 135, ISBN 978-4-8322-4635-5
  18. ^ “『ゆるキャン△』TVアニメをもっと楽しむための5つのポイント | アニメイトタイムズ” [5 mẹo để thưởng thức Anime truyền hình "Yuru Camp △" | Animate Times]. 『ゆるキャン△』TVアニメをもっと楽しむための5つのポイント | アニメイトタイムズ (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2022.
  19. ^ Afro, Yuru Camp△, Tập 1, Nhà xuất bản Kim Đồng, ISBN 978-604-2-23284-5
  20. ^ Afro, Yuru Camp△, Tập 1, Nhà xuất bản Houbunsha, tr. 23, ISBN 978-4-8322-4635-5
  21. ^ Afro, Yuru Camp△, Tập 1, Nhà xuất bản Houbunsha, tr. 37, ISBN 978-4-8322-4635-5
  22. ^ a b Afro, Yuru Camp△, Tập 2, Nhà xuất bản Houbunsha, ISBN 978-4-8322-4719-2
  23. ^ a b c “Additional Cast For Cute Girls Of "Laid Back Camp" TV Anime Introduced”. Crunchyroll. 8 tháng 8 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2017.
  24. ^ Afro, Yuru Camp△, Tập 10, Nhà xuất bản Houbunsha, tr. 44, ISBN 978-4-8322-7174-6
  25. ^ Anime ngắn Heya Camp tập 0
  26. ^ a b Afro, Yuru Camp△, Tập 1, Chap 2, Nhà xuất bản Houbunsha, ISBN 978-4-8322-4635-5
  27. ^ Afro, Yuru Camp△, Tập 1, Chap 5, Nhà xuất bản Houbunsha, ISBN 978-4-8322-4635-5
  28. ^ a b Afro, Yuru Camp△, Tập 2, Chap 13, Nhà xuất bản Houbunsha, ISBN 978-4-8322-4719-2
  29. ^ Afro, Yuru Camp△, Tập 4, Nhà xuất bản Houbunsha, tr. 175–176, ISBN 978-4-8322-4851-9
  30. ^ Afro, Yuru Camp△, Tập 2, Chap 10, Nhà xuất bản Houbunsha, ISBN 978-4-8322-4719-2
  31. ^ a b c Afro, Yuru Camp△, Tập 3, Chap 14, Nhà xuất bản Houbunsha, tr. 25, ISBN 978-4-8322-4804-5
  32. ^ Afro, Yuru Camp△, Tập 1, Chap 3, Nhà xuất bản Houbunsha, ISBN 978-4-8322-4635-5
  33. ^ Afro, Yuru Camp△, Tập 3, Chap 18, Nhà xuất bản Houbunsha, ISBN 978-4-8322-4804-5
  34. ^ a b Afro, Yuru Camp△, Tập 4, Chap 20, Nhà xuất bản Houbunsha, tr. 163–164, ISBN 978-4-8322-4851-9
  35. ^ Afro, Yuru Camp△, Tập 4, Chap 21, Nhà xuất bản Houbunsha, tr. 70–71, ISBN 978-4-8322-4851-9
  36. ^ a b c Afro, Yuru Camp△, Tập 5, Chap 24, Nhà xuất bản Houbunsha, ISBN 978-4-8322-4900-4
  37. ^ a b c d “Yurucamp Anime Adds Marina Inoue and Akio Ohtsuka to Cast”. Anime News Network. 1 tháng 12 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2017.
  38. ^ Afro, Yuru Camp△, Tập 4, Chap 20, Nhà xuất bản Houbunsha, tr. 50, ISBN 978-4-8322-4851-9
  39. ^ Afro, Yuru Camp△, Tập 2, Chap 10, Nhà xuất bản Houbunsha, tr. 82, ISBN 978-4-8322-4719-2
  40. ^ Afro, Yuru Camp△, Tập 4, Chap 17, Nhà xuất bản Houbunsha, tr. 94, ISBN 978-4-8322-4851-9
  41. ^ Phiên bản anime truyền hình tập 1, tập 8.
  42. ^ a b Afro, Yuru Camp△, Tập 2, Chap 11, Nhà xuất bản Houbunsha, ISBN 978-4-8322-7240-8
  43. ^ a b Afro, Yuru Camp△, Tập 3, Chap 14, Nhà xuất bản Houbunsha, tr. 26, ISBN 978-4-8322-4804-5
  44. ^ Afro, Yuru Camp△, Tập 4, Chap 23, Nhà xuất bản Houbunsha, ISBN 978-4-8322-4851-9
  45. ^ “Laid-Back Camp TV Anime's 2nd Season Casts Tomoyo Kurosawa”. Anime News Network. 24 tháng 8 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2020.
  46. ^ “ドラマ「ゆるキャン△2」土岐綾乃役は石井杏奈、斉藤の父役は橋本じゅん(コメントあり)” [Live action "Yuru Camp △ 2": Anna Ishii trong vai Ayano Toki, Jun Hashimoto trong vai cha của Saito (có bình luận)]. Comic Natalie (bằng tiếng Nhật). 16 tháng 3 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2021.
  47. ^ a b Afro, Yuru Camp△, Tập 5, Chap 28, Nhà xuất bản Houbunsha, tr. 125, ISBN 978-4-8322-4900-4
  48. ^ Afro, Yuru Camp△, Tập 10, Chap 56, Nhà xuất bản Houbunsha, tr. 99, ISBN 978-4-8322-7174-6
  49. ^ Afro, Yuru Camp△, Tập 4, Nhà xuất bản Houbunsha, ISBN 978-4-8322-4851-9
  50. ^ Afro, Yuru Camp△, Tập 5, Chap 26, Nhà xuất bản Houbunsha, ISBN 978-4-8322-4851-9
  51. ^ @yurucamp_drama. “「#ゆるキャン△」ファンのみなさんはお気づきになったと思いますが… リンを迎えにきてくれたおじいちゃんの声は #大塚明夫 さんでした” [Đối với những bạn là fan của # YuruCamp △, có thể nhận ra rằng giọng nói của ông già đến đón Rin chính là Akio Otsuka.] (Tweet) – qua Twitter.
  52. ^ Afro, Yuru Camp△, Tập 2, Chap 11, Nhà xuất bản Houbunsha, tr. 115, ISBN 978-4-8322-4719-2
  53. ^ Afro, Yuru Camp△, Tập 5, Chap 28, Nhà xuất bản Houbunsha, ISBN 978-4-8322-4900-4
  54. ^ “Takahiro Sakurai will be playing as Rin Shima's father, Wataru Shima! (bằng Tiếng Nhật)”. Yuru Camp anime official website. 16 tháng 3 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2020.
  55. ^ Afro, Yuru Camp△, Tập 1, Chap 6, Nhà xuất bản Houbunsha, ISBN 978-4-8322-4635-5
  56. ^ Afro, Yuru Camp△, Tập 8, Chap 42, Nhà xuất bản Houbunsha, ISBN 978-4-8322-7092-3
  57. ^ a b Afro, Yuru Camp△, Tập 3, Chap 16, Nhà xuất bản Houbunsha, ISBN 978-4-8322-4851-9
  58. ^ Afro, Yuru Camp△, Tập 4, Chap 22, Nhà xuất bản Houbunsha, ISBN 978-4-8322-4851-9
  59. ^ Afro, Yuru Camp△, Tập 6, Chap 31, Nhà xuất bản Houbunsha, ISBN 978-4-8322-4927-1
  60. ^ Afro, Yuru Camp△, Tập 2, Chap 11, Nhà xuất bản Houbunsha, tr. 118, ISBN 978-4-8322-7240-8
  61. ^ a b c d e f g h i j k l m “ゆるキャン△” [Yuru Camp△] (bằng tiếng Nhật). Houbunsha. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2020.
  62. ^ “Cozy Up With the Official Laid-Back Camp Portable Grill” [Không sợ mùa đông lạnh lẽo khi cắm trại với lò nướng di động Laid-Back Camp chính thức]. Anime News Network. 23 tháng 1 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2018.
  63. ^ “Lịch phát hành sách định kỳ tháng 11/2021”. Nhà xuất bản Kim Đồng (bằng tiếng Việt). Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2022.
  64. ^ a b “Lịch phát hành sách định kỳ tháng 12/2021”. Nhà xuất bản Kim Đồng (bằng tiếng Việt). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2022.
  65. ^ “Lịch phát hành sách định kỳ tháng 01/2022”. Nhà xuất bản Kim Đồng (bằng tiếng Việt). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2022.
  66. ^ Cục xuất bản, in và phát hành - Bộ thông tin và truyền thông. “Dã ngoại thảnh thơi | Cục xuất bản”. ppdvn.gov.vn. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2021.
  67. ^ “Laid-Back Camp Anime Premieres on January 4” [Khởi chiếu Anime Laid-Back Camp vào ngày 4 tháng 1]. Anime News Network. 12 tháng 12 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2017.
  68. ^ Hodgkins, Crystalyn (10 tháng 11 năm 2017). “Yurucamp TV Anime's Trailer Reveals January Debut” [Đoạn giới thiệu của Yurucamp TV Anime tiết lộ buổi ra mắt tháng 1]. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2021.
  69. ^ Pineda, Rafael Antonio (22 tháng 12 năm 2017). “Laid-Back Camp Anime's 2nd Trailer Shows Rin Shima Setting Up Camp” [Trailer thứ 2 của phim hoạt hình Laid-Back Camp cho thấy Rin Shima dựng trại]. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2021.
  70. ^ 12月10日(日)にTOHOシネマズ新宿にて先行上映会の開催を決定! [Một buổi chiếu trước sẽ được tổ chức tại Toho Cinemas Shinjuku vào ngày 10 tháng 12 (CN)!] (bằng tiếng Nhật). 10 tháng 11 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2021.
  71. ^ “Yurucamp Anime's Theme Song Artists, New Visual Unveiled” [Nghệ sĩ bài hát chủ đề của Yurucamp Anime, visual mới được tiết lộ]. Anime News Network. 24 tháng 11 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2017.
  72. ^ “Laid-Back Camp Anime's 1st DVD, BD Includes Extra 'Episode 0' Anime” [BD, DVD đầu tiên của Laid-Back Camp Anime, BD bao gồm thêm 'Tập 0']. 17 tháng 2 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2022.
  73. ^ 放送日が決定しました! [Ngày phát sóng đã được ấn định!]. yurucamp.jp (bằng tiếng Nhật). 10 tháng 12 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2021.
  74. ^ BS11にて『ゆるキャン△』(第1作目)の再放送が決定! [BS11 sẽ phát sóng lại "Yuru Camp △" (mùa đầu tiên)!]. yurucamp.jp (bằng tiếng Nhật). 27 tháng 9 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2021.
  75. ^ “Crunchyroll to Stream Yurucamp Anime” [Crunchyroll phát trực tuyến anime Yuru Camp]. Anime News Network. 9 tháng 10 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2017.
  76. ^ “Crunchyroll co-production” [Hợp tác sản xuất Crunchyroll]. Crunchyroll. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2018.
  77. ^ Tanaka, Jin (24 tháng 12 năm 2020). “Mount Fuji and Curry Noodles [Núi Phú Sĩ và Mì cà ri]”. Yuru Camp△. Mùa 1. Tập 1 (bằng tiếng Nhật). Ani-One. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2021.
  78. ^ “Laid-Back Camp Anime Gets 2nd Season” [Anime Laid-Back Camp sẽ sản xuất mùa thứ 2]. Anime News Network. 7 tháng 10 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2018.
  79. ^ “Laid-Back Camp Anime Gets Film, New Short Anime” [Laid-Back Camp sẽ có một phần phim nữa và một anime ngắn]. Anime News Network. 7 tháng 10 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2018.
  80. ^ 『へやキャン』1話。“へや”なのに旅に出る!? [Tập 1 của "Heya Camp". Đó là một "căn phòng" nhưng nó đang đi du lịch!]. Dengeki Online (bằng tiếng Nhật). 25 tháng 12 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2021.
  81. ^ 2020年1月より AT-X、TOKYO MX、BS11にて TVアニメ放送開始! [TV anime sẽ bắt đầu phát sóng vào tháng 1 năm 2020 trên AT-X, TOKYO MX và BS11!]. yurucamp.jp (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2021.
  82. ^ Loo, Egan (24 tháng 4 năm 2019). “Laid-Back Camp Anime's Heya Kyan Anime Shorts Unveil Staff, January 2020 Premiere” [Đội ngũ sản xuất anime ngắn Heya Camp, công chiếu tháng 1 năm 2020]. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2021.
  83. ^ キャスト&スタッフ [Diễn viên & Nhân viên]. yurucamp.jp (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2021.
  84. ^ Pineda, Rafael Antonio (31 tháng 8 năm 2019). “Laid-Back Camp's Short Anime Previewed in Teaser” [Cái nhìn thoáng qua về anime ngắn Laid-Back Camp trong video quảng cáo]. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2021.
  85. ^ 「ゆるキャン△」アンケート開始! [Cuộc khảo sát "Yuru Camp △" đã bắt đầu!]. yurucamp.jp (bằng tiếng Nhật). 6 tháng 12 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2021.
  86. ^ “Laid-Back Camp Laid-Back Camp Anime's Shorts Unveils Staff, January 2020 Premiere” [Đội ngủ sản xuất Laid-Back Camp, công chiếu tháng 1 năm 2020]. Anime News Network. 24 tháng 4 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2019.
  87. ^ Dennison, Kara (21 tháng 9 năm 2020). “Laid-Back Camp Welcomes Us Back with New Trailer” [Laid-Back Camp trở lại với đoạn giới thiệu mới]. Crunchyroll. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2021.
  88. ^ “2nd Trailer for TV anime program "Laid-Back Camp season2" starting TV broadcast in January 2021” [Trailer thứ 2 của chương trình anime truyền hình "Laid-Back Camp" bắt đầu phát sóng trên truyền hình vào tháng 1 năm 2021.] (bằng tiếng Nhật). Anime Channel by フリュー. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2021 – qua YouTube.
  89. ^ “Laid-Back Camp Anime's Heya Kyan Anime Shorts Reveal Theme Song Artist, January 6 Premiere” [Anime ngắn Heya Camp công bố nghệ sĩ bài hát chủ đề, công chiếu ngày 6 tháng 1]. Anime News Network. 15 tháng 11 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2019.
  90. ^ “ROOM CAMP Anime's Home Video Release Includes New Anime Episode” [Video tại nhà Room Camp bao gồm một tập anime mới]. Anime News Network. 14 tháng 1 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2020.
  91. ^ Sherman, Jennifer (23 tháng 3 năm 2020). “Laid-Back Camp TV Anime's 2nd Season Reveals Visuals, January 2021 Premiere” [Phần thứ 2 của Laid-Back Camp TV Anime công bố visual, công chiếu vào tháng 1 năm 2021]. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2020.
  92. ^ Sherman, Jennifer (29 tháng 11 năm 2020). “Laid-Back Camp Season 2 to Premiere on January 7” [Laid-Back Camp mùa 2 sẽ công chiếu vào ngày 7 tháng 1]. Anime News Network. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2020.
  93. ^ “Myūjikku|Terebi Anime "Yuru Kyan△ Shīzun Tsū" Kōshiki Saito” Music|TVアニメ『ゆるキャン△ SEASON2』公式サイト [Âm nhạc|TV Anime "Yuru Camp△ mùa 2" Trang chủ]. yurucamp.jp (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2020.
  94. ^ Mateo, Alex. “Laid-Back Camp Anime Gets New OVA on July 28” [Anime Laid-Back Camp có OVA mới vào ngày 28 tháng 7]. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2021.
  95. ^ アニメ『ゆるキャン』2期、放送開始日はいつ? [Khi nào mùa thứ hai của anime "Yuru Camp" bắt đầu được phát sóng?]. Dengeki Online (bằng tiếng Nhật). 29 tháng 11 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2021.
  96. ^ Hazra, Adriana (2 tháng 1 năm 2021). “Ani-One Simulcasts Laid-Back Camp Anime's 2nd Season on January 7” [Ani-One phát trực tuyến mùa 2 của Laid-Back Camp từ ngày 7 tháng 1]. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2021.
  97. ^ Hazra, Adriana (12 tháng 6 năm 2021). “Netflix Streams Laid-Back Camp Anime's 2nd Season in India” [Netflix phát trực tuyến Laid-Back Camp mùa 2 ở Ấn Độ]. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2021.
  98. ^ “「ゆるキャン△」京極義昭監督インタビュー - アキバ総研” ["Yurucamp △" phỏng vấn Yoshiaki Kyogoku - Viện nghiên cứu Akiba]. akiba-souken.com (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2022.
  99. ^ a b 公益社団法人やまなし観光推進機構. “アニメ ゆるキャン△第三話で登場したモデル地” [Laid-Back Camp △ - Những địa điểm xuất hiện trong tập 3]. yamanashi-kankou.jp (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2022.
  100. ^ 公益社団法人やまなし観光推進機構. “アニメ ゆるキャン△第八話で登場したモデル地” [Laid-Back Camp △ - Những địa điểm xuất hiện trong tập 8]. yamanashi-kankou.jp (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2022.
  101. ^ エルク [@elkonline] (27 tháng 1 năm 2020). 実はエルク、ゆるキャン△実写のロケ地になりました。/ エルク登場回は2/27(第8話) \ @yurucamp_drama / ありがとうございました!(^^)! \ チェックしてね~!(^^)! [Trên thực tế, Elk hiện là một địa điểm cho Yuru Camp △ live action. (^^)! \ Xem ngay! (^^)!] (Tweet) (bằng tiếng Nhật). Truy cập 7 tháng 1 năm 2022 – qua Twitter.
  102. ^ まんがタイムきららキャラット. “Số báo tháng 3 năm 2018”. Tạp chí Manga Time Kirara Carat (bằng tiếng Nhật). Nhà xuất bản Houbunsha: Trang 27-32. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2022.
  103. ^ TVアニメ「ゆるキャン△」オリジナル・サウンドトラック [Nhạc phim anime "Yuru Camp△"] (bằng tiếng Nhật). 5pb. Records. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2021.
  104. ^ “Cast & Staff” [Diễn viên & Nhân viên]. yurucamp.jp (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2021.
  105. ^ 週間 アルバムランキング [Xếp hạng Album hàng tuần]. Oricon (bằng tiếng Nhật). 2 tháng 4 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2021.
  106. ^ TVアニメ『ゆるキャン△ SEASON2』オリジナル・サウンドトラック [Nhạc phim anime "Yuru Camp △ mùa 2"]. Oricon (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2021.
  107. ^ “Staff & Cast” [Nhân viên & Diễn viên]. yurucamp.jp (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2021.
  108. ^ 塩谷信洋プロフィール [Giới thiệu Nobuhiro Shioya] (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2021.
  109. ^ “Profile” [Giới thiệu]. Kohei Takeda Official Website (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2021.
  110. ^ KencharangoTV【ゆるキャン△2のBGMにチャランゴで参加してます!】 [KencharangoTV 【Tôi đang tham gia BGM của Yuru Camp △ 2 với Charango!】] (bằng tiếng Nhật). KencharangoTV (チャランゴ奏者・桑原健一). 6 tháng 1 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2021 – qua YouTube.
  111. ^ アニメ『ゆるキャン△SEASON2』の劇伴に参加しています [Tôi đang tham gia sản xuất nhạc gekitomo cho anime "Yuru Camp △ Season 2"]. panao.tokyo (bằng tiếng Nhật). 6 tháng 3 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2021.
  112. ^ 週間 アルバムランキング [Xếp hạng Album hàng tuần]. Oricon (bằng tiếng Nhật). 12 tháng 4 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2021.
  113. ^ Loo, Egan (31 tháng 3 năm 2021). “Laid-Back Camp Movie Reveals Returning Staff, 2022 Opening” [Phim điện ảnh Laid-Back Camp công bố đội ngũ nhân viên trở lại, khởi chiếu năm 2022]. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2021.
  114. ^ Loo, Egan (9 tháng 10 năm 2021). “Laid-Back Camp Movie Posts Early Summer 2022 Opening, New Teaser Visual” [Laid-Back công chiếu vào đầu mùa hè năm 2022, hình ảnh giới thiệu mới]. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2021.
  115. ^ "ゆるキャン△:人気キャンプマンガが福原遥主演で実写ドラマ化 "野クル"メンバーに大原優乃、箭内夢菜も" ["Yuru Camp △: Manga cắm trại nổi tiếng với sự tham gia của Haruka Fukuhara trong phim live-action Nokuru "các thành viên Yuno Ohara và Yumena Yanai"] (bằng tiếng Nhật). MANTAN Inc. 20 tháng 11 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2020.
  116. ^ “福原遥主演『ゆるキャン△』3月29日にスペシャルドラマ放送へ シーズン2は4月1日スタート” ["Yurucamp" với sự tham gia của Haruka Fukuhara sẽ được phát sóng vào ngày 29 tháng 3. Phần 2 sẽ bắt đầu vào ngày 1 tháng 4.] (bằng tiếng Nhật). Real Sound. 17 tháng 2 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2021.
  117. ^ “ドラマ「ゆるキャン△2」土岐綾乃役は石井杏奈、斉藤の父役は橋本じゅん(コメントあり)” [Trong phim "Yuru Camp△2", Anna Ishii đóng vai Ayano Toki, và Jun Hashimoto đóng vai cha của Saito.]. Comic Natalie (bằng tiếng Nhật). 16 tháng 3 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2021.
  118. ^ “ゆるキャン△:実写ドラマ化は成功? 原作再現度も話題 ドラマスタッフが見せたかったもの” [Laid-Back Camp △: Bộ phim live action có thành công không? Khả năng tái tạo nguyên tác gốc cũng là một chủ đề nóng mà các nhà làm phim muốn lột tả]. MANTANWEB(まんたんウェブ) (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2022.
  119. ^ a b c TV TOKYO Corporation, 「くぁwせdrftgyふじこlp」も完璧! ドラマ「ゆるキャン△」Pが語る驚異の原作再現度|テレ東プラス [「くぁwせdrftgyふじこlp」 rất hoàn hảo! Mức độ tái tạo nguyên tác tuyệt vời của bộ phim live action "Yurucamp △" | TV Tokyo plus] (bằng tiếng Nhật), Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2021, truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2022
  120. ^ 『ゆるキャン△』キャスティングの妙、渾身の野外ロケで“化けた”実写ドラマ版。制作陣がこだわった「原作再現」の方法論とは? Lưu trữ 2021-03-31 tại Wayback Machine [Yuru Camp bản live action bị tạm dừng quay. Phương án "tái tạo nguyên gốc của nhóm sản xuất đề cập là gì?], WHAT's IN? tokyo, Ngày 10 tháng 3 năm 2020.
  121. ^ “ゆるキャン△:実写版にも大塚明夫 リンの祖父役で声の出演 ファンは今後の"顔出し"に期待” [Laid-Back Camp △: Akio Otsuka xuất hiện trong phiên bản live-action với tư cách là ông nội của Rin. Người hâm mộ mong đợi "sự xuất hiện" trong tương lai]. MANTANWEB(まんたんウェブ) (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2022.
  122. ^ “ドラマ「ゆるキャン△2」に大塚明夫が"声だけ"出演! 粋な演出にファン「スタッフの愛を感じる」「キャスティングばっちりです」” [Akio Otsuka xuất hiện trong bộ phim truyền hình "Yurucamp △ 2" với chỉ giọng lồng tiếng! Người hâm mộ đang nói "Tôi có thể cảm nhận được tình yêu của các nhân viên" và "Buổi casting thật hoàn hảo.]. ねとらぼ (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2022.
  123. ^ Madnani, Mikhail. 'Laid-Back Camp Virtual' Is a New Adventure Game Based on the Laid-Back Camp Series Coming to iOS, Android, Switch, and More” ['Laid-Back Camp Virtual' - trò chơi phiêu lưu mới dựa trên loạt phim Laid-Back Camp sắp có trên iOS, Android, Switch,...]. TouchArcade.com. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2020.
  124. ^ Komatsu, Mikikazu. “Enjoy Virtual Camp Experience with Nadeshiko and Rin in Laid-Back Camp Adventure Game” [Tận hưởng Trải nghiệm cắm trại ảo với Nadeshiko và Rin trong Laid-Back Camp Adventure Game]. Crunchyroll.com. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2020.
  125. ^ “Laid-Back Camp - Virtual - Lake Motosu released today!” [Laid-Back Camp - Virtual - Lake Motosu phát hành hôm nay]. Twitter. Gemdrops. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2021.
  126. ^ Loo, Egan (27 tháng 3 năm 2021). “Laid-Back Camp Anime Gets Console Game With MAGES” [Laid-Back Camp Anime ra mắt Console Game với MAGES.]. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2021.
  127. ^ Romano, Sal. “Laid-Back Camp: Have a Nice Day! launches September 30 in Japan” [Laid-Back Camp: Have a Nice Day! ra mắt ngày 30 tháng 9 tại Nhật Bản]. Gematsu. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2021.
  128. ^ 『ゆるキャン△ Have a nice day!』(Switch/PS4)オープニングムービー(歌:亜咲花) ["Yuru Camp Have a nice day!"(Switch/PS4), ca khúc mở đầu Asaka] (bằng tiếng Anh), Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2021, truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2021
  129. ^ “「きららファンタジア」,新たに「ゆるキャン△」の参戦が決定。公式サイトではテレビCMの公開もスタート” [Kirara Fantasia "sẽ được tham gia bởi" Yuru Camp △ ". Một quảng cáo truyền hình cũng đã được phát hành trên trang web chính thức.] (bằng tiếng Nhật). 4Gamer.net. 5 tháng 1 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2021.
  130. ^ “「きららファンタジア」,3月31日24:30より「スロウスタート」&「ゆるキャン△」正式参戦記念特番を放送” ["Kirara Fantasia", một chương trình đặc biệt để kỷ niệm sự gia nhập chính thức của "Slow Start" và "Yuru Camp △" sẽ được phát sóng từ 24:30 ngày 31 tháng 3.] (bằng tiếng Nhật). 4Gamer.net. 30 tháng 3 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2021.
  131. ^ “「八月のシンデレラナイン」,「ゆるキャン△」コラボを9月5日にスタート” [Sự hợp tác giữa Cinderella Nine in August "và" Yuru Camp △ "sẽ bắt đầu vào ngày 5 tháng 9] (bằng tiếng Nhật). 4Gamer.net. 26 tháng 8 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2021.
  132. ^ “「八月のシンデレラナイン」,「ゆるきゃん△」コラボイベントを復刻開催” [Sự kiện hợp tác giữa Cinderella Nine vào tháng 8 và "Yuru Camp △" sẽ được tổ chức.] (bằng tiếng Nhật). 4Gamer.net. 19 tháng 11 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2021.
  133. ^ “「メルクストーリア」×「ゆるキャン△」コラボが開催” [Sự hợp tác giữa "Melkstoria" và "Yuru Camp △"]. 4Gamer.net (bằng tiếng Nhật). 16 tháng 3 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2021.
  134. ^ “インターネットラジオステーション<音泉>” [Trạm thông tin Raji Camp △ - Yuru Camp △]. onsen.ag (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2022.
  135. ^ “インターネットラジオステーション<音泉>開設15年企画 | インターネットラジオステーション<音泉>27時間ニコ生放送 特設サイト” [Chương trình phát thanh trực tuyến - Dự án kỷ niệm 15 năm thành lập của Otozumi - Chuyên trang phát thanh trực tiếp 27 giờ NicoNico của đài phát thanh trực tuyến Otozumi]. onsen.ag. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2022.
  136. ^ Sherman, Jennifer (12 tháng 2 năm 2018). “News Program: Laid-Back Camp Inspires Newbies to Try Winter Camping” [Tin tức: Laid-Back Camp truyền cảm hứng cho người mới thử cắm trại mùa đông]. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2021.
  137. ^ Sherman, Jennifer (18 tháng 3 năm 2018). “Laid-Back Camp Craze Continues With Camping, Merch, Dōjin Event” [Laid-Back Camp tiếp tục với sự kiện cắm trại, các hàng hóa, sự kiện Dōjin]. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2021.
  138. ^ Chapman, Paul (12 tháng 4 năm 2018). "Laid-Back Camp" Inspires Winter Camping Boom in Japan” ["Laid-Back Camp" là cảm hứng cho sự bùng nổ của cắm trại mùa đông ở Nhật Bản]. Crunchyroll. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2021.
  139. ^ “Laid-Back Camp's Real-Life Inspiration Sees Visitors Triple” [Cảm xúc thư giãn trong cuộc sống đời thường đã thu hút được số lượng khách truy cập gấp ba lần]. Anime News Network (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2021.
  140. ^ a b ふるさとチョイス. “山梨県身延町の自治体情報 | ふるさと納税 [ふるさとチョイス]” [Thông tin về chính quyền địa phương của thị trấn Minobu, tỉnh Yamanashi | Nộp thuế địa phương]. furusato-tax.jp. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2022.
  141. ^ a b c Hirabata, Genyo (6 tháng 3 năm 2019). 「ゆるキャン△」効果、観光消費2倍に 聖地巡礼も活発 [Chi tiêu du lịch gấp tôi do "Yuru Camp"; Hành hương đến các địa điểm linh thiêng đang hoạt động]. Asahi Shimbun (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2021.
  142. ^ a b Loveridge, Lynzee (28 tháng 2 năm 2019). “Yamanashi Prefecture Sees Spike in Tourism Earnings Thanks to Laid-Back Camp” [Tỉnh Yamanashi tăng thu nhập từ du lịch nhờ "Yuru Camp"]. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2021.
  143. ^ a b Bộ môn Hệ thống cộng đồng, Khoa Khoa học Đời sống và Môi trường, Đại học Yamanashi / Công ty TNHH Tư vấn Quản lý Yamanashi Chugin - Phòng Nghiên cứu Kinh tế (20/2/2019). “「ゆるキャン△」が地域に与えた影響調査について” (PDF). Đại học Yamanashi, Nhật Bản. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 1 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2022.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  144. ^ “『ゆるキャン△』『スーパーカブ』『ダンベル何キロ持てる?』……「女子高生×趣味」漫画の魅力とは?” ["Yuru Camp△", "Super Cub" ...... Sức hấp dẫn của manga "nữ sinh trung học x sở thích" là gì?]. Real Sound|リアルサウンド ブック (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2021.
  145. ^ Natasha Inc. “アニメ「ゆるキャン△」花守ゆみり&東山奈央インタビュー - コミックナタリー 特集・インタビュー” [Phỏng vấn Yumiri Hanamori và Nao Higashiyama từ anime "Yuru Camp △" - Comic Natalie Special Feature and Interview]. コミックナタリー (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2022.
  146. ^ a b “年末企画:藤津亮太の「2018年ベストアニメTOP10」 キーワードは「2人の女の子」” [Dự án cuối năm: Danh sách "Top 10 Anime hay nhất năm 2018" của Ryota Fujitsu.]. Real Sound|リアルサウンド 映画部 (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2022.
  147. ^ “2019 Great Graphic Novels for Teens” [Tiểu thuyết đồ họa tuyệt vời 2019 dành cho thanh thiếu niên]. American Library Association. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2019.
  148. ^ a b Hodgkins, Crystalyn (26 tháng 4 năm 2019). “Abara, Laid-Back Camp, Tokyo Tarareba Girls, More Nominated for Eisner Awards” [Abara, Laid-Back Camp, Tokyo Tarareba Girls, Được đề cử cho Giải thưởng Eisner]. Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2019.
  149. ^ “18年度アニメ『みんなが選ぶベスト100』発表 TV部門『BANANAFISH』、映画部門『コナン』が首位” [Công bố giải thưởng "Everybody's Choice 100 Anime hay nhất năm 2006" ở hạng mục truyền hình "BANANAFISH" và hạng mục điện ảnh "Conan" đứng đầu danh sách.]. ORICON NEWS. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2022.
  150. ^ Miyazawa, Teruaki (11 tháng 4 năm 2021). ゆるキャン効果で訪問増 磐田の観光施設、登場メニューや演出 [Số lượng du khách đến các cơ sở du lịch của Iwata đã tăng lên do ảnh hưởng của Yuru Camp.]. Chunichi Shimbun (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2021.
  151. ^ クランクイン! (1 tháng 11 năm 2020). “福原遥『ゆるキャン△』 原作&アニメファン絶賛「再現度高すぎる」” [Người hâm mộ nguyên tác và anime của "Yurucamp" đánh giá cao "Khả năng tái tạo nguyên tác"]. crank-in.net. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2022.
  152. ^ WEBザテレビジョン. “大原優乃、「ゆるキャン△」なでしこの再現度の高さに原作ファンから絶賛の声「完全になでしこ」” [Khả năng tái tạo nguyên tác nhân vật Nadeshiko sắc bén được người xem khen ngợi]. WEBザテレビジョン (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2022.
  153. ^ “実写版「ゆるキャン△」の再現度がすごい 田辺桃子演じる"大垣"に絶賛の嵐” [Khả năng tái tạo nguyên tác phiên bản live-action của "Yurucamp" là đáng kinh ngạc. Một cơn bão lời khen dành cho "Ogaki" do Momoko Tanabe thủ vai.]. トレンドニュース(GYAO!) (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2022.
  154. ^ 編集部, ABEMA TIMES. “福原遥、主演ドラマ「ゆるキャン△」への反響に喜び 再現度の高さが話題に | 芸能” [Haruka Fukuhara rất vui khi được phản hồi tốt với bộ phim live action "Yurucamp △".]. ABEMA TIMES. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2022.
  155. ^ “山梨県の「ゆるキャン△」聖地案内がアニメ公式サイトと見間違うレベル 現地をアニメとの比較で紹介” [Sách hướng dẫn về "Yuru Camp△" của tỉnh Yamanashi có thể bị nhầm lẫn với trang web anime chính thức.]. ねとらぼ (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2022.
  156. ^ “「ゆるキャン△」林野庁とコラボ 国有林の魅力伝えるガイドブックに” ["Yuru Camp" hợp tác với Cơ quan Lâm nghiệp để tạo ra một cuốn sách hướng dẫn truyền tải sự hấp dẫn của các khu rừng quốc gia]. ITmedia NEWS (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2022.
  157. ^ “山梨)身延山久遠寺が「ゆるキャン」コラボの紹介ビデオ:朝日新聞デジタル” [Minobu Yamakuonji giới thiệu video hợp tác "Yurucamp": Asahi Shimbun Digital]. 朝日新聞デジタル (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2022.
  158. ^ プリンセスカフェ (4 tháng 8 năm 2018). “ゆるキャン△カフェ” [Yuru Camp]. pripricafe.com. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2022.
  159. ^ “NAPAC 富士SUPER TEC 24時間レース「ゆるキャン△ x FUJI SPEEDWAY」コラボレーションイベントを開催【FSWインフォメーション No.I-14】 | 富士スピードウェイ公式サイト” [Sự kiện cộng tác NAPAC Fuji SUPER TEC 24 hours "Yuru Camp △ x FUJI SPEEDWAY" sẽ được tổ chức [FSW Information No.I-14] | Trang web chính thức của Fuji Speedway]. fsw.tv. 12 tháng 5 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2022.
  160. ^ アニメ『ゆるキャン△』シリーズ公式 [@yurucamp_anime] (27 tháng 1 năm 2018). “ja:現在京王線・京王井の頭線全駅に「ゆるキャン△」と京王バスのコラボポスターが掲載されております!お立ち寄りの際は是非見つけてみてくださいね♪ #ゆるキャン” [Áp phích hợp tác của "Yuru Camp △" và Keio Bus hiện đã được trưng bày tại tất cả các ga của Tuyến Keio và Tuyến Keio Inokashira! Hãy tìm nó khi bạn ghé qua. # YuruCamp] (Tweet) (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2018 – qua Twitter.
  161. ^ “『るるぶ』と『ゆるキャン△』が待望のコラボ!『るるぶ ゆるキャン△』2020年2月4日(火)発売!” [Sự hợp tác được mong đợi từ lâu giữa "Rurubu" và "Yuru Camp △" ! "Rurubu Yuru Camp △" sẽ được bán vào Thứ Ba, ngày 4 tháng 2 năm 2020!]. 株式会社JTBパブリッシング. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2022.
  162. ^ “『ゆるキャン△』が『るるぶ』とコラボ「これ読んで、たくさんキャンプしようね」” ["Yuru Camp △" hợp tác với "Rurubu": Hãy đọc cái này, và hãy cắm trại thật nhiều!]. Real Sound|リアルサウンド ブック (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2022.
  163. ^ “るるぶ×『ゆるキャン』コラボ聖地巡礼ガイドブック第2弾が発売決定!” [Ấn bản thứ hai của sách hướng dẫn du lịch địa điểm thánh hợp tác "Rurubu" x "Yuru Camp" hiện đang được bán!]. 電撃オンライン (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2022.
  164. ^ “「ゆるキャン△」とヤマハがコラボ - アキバ総研” [Hợp tác giữa "Yuru Camp △" và Yamaha - Viện nghiên cứu Akiba]. akiba-souken.com (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2022.
  165. ^ “『よりもい』×『ゆるキャン△』アニメコラボグッズがC96にて販売 | アニメイトタイムズ” [Yorimoi "và" Yuru Camp △ "Anime Hợp tác Hàng hóa sẽ được bán tại C96 | Animate Times]. 『よりもい』×『ゆるキャン△』アニメコラボグッズがC96にて販売 | アニメイトタイムズ (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2022.
  166. ^ “アニメ『ゆるキャン△』ポータルサイト” [Trang web cổng thông tin Anime "Yuru Camp △"]. アニメ『ゆるキャン△』ポータルサイト (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2022.
  167. ^ 株式会社インプレス (1 tháng 4 năm 2020). “大塚明夫の「あきキャン△」YouTubeで公開。「ゆるキャン△」シリーズ新番組” ["Akicamp △" của Akio Otsuka hiện đã có trên YouTube. Chương trình mới của loạt anime "Yuru Camp △"]. AV Watch (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2022.
  168. ^ “ゆるキャン△:「うちキャン△ペーン」で新作アニメ配信 大塚明夫「あきキャン△」配信延長も” [Yuru Camp △: Phân phối Anime mới thông qua chiến dịch "Uchi Camp △" và mở rộng Phân phối "Aki Camp △" của Akio Otsuka]. MANTANWEB(まんたんウェブ) (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2022.
  169. ^ a b “Winners of the 2019 Anime Awards—Updated Live!”. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2021.Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  170. ^ Wei, Xu (5 tháng 6 năm 2021). “Celebrating best of local and global TV” [Tôn vinh các chương trình truyền hình địa phương và truyền hình toàn cầu hay nhất]. Shine. Shanghai Daily. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2021.

Đọc thêmSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi