Khác biệt giữa các bản “Panama”

n
Robot: Sửa đổi hướng
n (Bot: Thêm ba:Панама)
n (Robot: Sửa đổi hướng)
== Lịch sử ==
{{bài chính|Lịch sử Panama}}
Sau thời kì thám hiểm của [[Cristoforo Colombo]] (1502) và [[Balboa]] (1513), eo đất này là thuộc địa [[Tây Ban Nha]] từ đầu [[thế kỷ 16|thế kỉ 16]], bọn thực dân này đã mở những con đường để chuyển [[vàng]], [[bạc]] từ Panama và [[Peru]] ra hướng [[Đại Tây Dương]].
 
Vùng này trực thuộc Phó vương quốc Peru (1542) và [[New Grenada]] (1740), bị sáp nhập vào [[Đại Colombia]] năm 1819. Năm 1855, cuộc đổ xô tìm vàng ở [[California]] dẫn đến việc xây dựng đường. sắt nối liến [[Colón]] với Panama. Từ năm 1881 đến năm 1889, [[Ferdinand de Lesseps]] tiến hành khai thông kênh đào Panama, công trình bị trì hoãn vì thiếu vốn.
 
Đa phần chính trị trong nước Panama ở thế kỷ hai mươi gắn liền với [[Kênh đào Panama]] và chính sách đối ngoại của [[Hoa Kỳ]]. Đầu [[thế kỷ 20]], [[Theodore Roosevelt]] đã theo đuổi những nỗ lực đối ngoại của Hoa Kỳ nhằm tạo lập một thỏa thuận với [[Colombia]] sẽ cho phép [[Hoa Kỳ|Mỹ]] tiếp nhận hoạt đồng điều hành kênh của [[Pháp]] vốn bắt đầu từ thời [[Ferdinand de Lesseps]]. Tháng 11 năm 1903, [[Hoa Kỳ]] ủng hộ phong trào ''Separatist Junta'' bí mật gồm một số chủ đất giàu có người Panama dưới sự lãnh đạo của [[Tiến sĩ]] [[Manuel Amador Guerrero]] nhằm ly khai khỏi [[Colombia]].
 
Ngày [[3 tháng 11]] năm [[1903]], Panama tuyên bố độc lập khỏi [[Colombia]]. Chủ tịch Hội đồng Thành phố, [[Demetrio H. Brid]], cơ quan chính quyền cao nhất thời điểm đó, trở thành Tổng thống ''trên thực tế'', và đã chỉ định một ''[[Chính phủ Lâm thời]]'' ngày [[4 tháng 11]] để điều hành công việc của nhà nước cộng hòa mới thành lập. Hoa Kỳ, với tư cách quốc gia đầu tiên công nhận nước Cộng hoà Panama mới, đã gửi quân tới bảo vệ những lợi ích kinh tế của nước này. Quốc hội Lập hiến năm 1904 đã bầu Tiến sĩ [[Manuel Amador Guerrero]], một thành viên nổi bật thuộc đảng chính trị bảo thủ, làm Tổng thống hợp hiến đầu tiên của nước Cộng hoà Panama.
Tháng 12 năm 1903, những đại diện của nước cộng hòa đã ký [[Hiệp ước Hay-Bunau Varilla]] trao cho Hoa Kỳ quyền xây dựng và quản lý vô hạn định với Kênh đào Panama, mở cửa từ năm 1914. Hiệp ước này đã trở thành một vấn đề ngoại giao tiềm tàng giữa hai quốc gia, trở thành căng thẳng nhất vào [[Ngày của Martyr]] ([[9 tháng 1]] năm [[1964]]). Những vấn đề này sau đó đã được giải quyết khi hai bên ký [[Các hiệp ước Torrijos-Carter]] năm 1977.
 
Ý định ban đầu của những người thành lập đất nước là mang lại sự hòa hợp giữa hai đảng chính trị chính (Bảo thủ và Tự do). Chính phủ Panama đã trải qua các giai đoạn bất ổn chính trị và tham nhũng, tuy nhiên, ở nhiều thời điểm trong lịch sử của mình, thời gian cầm quyền của các vị tổng thống hợp hiến thường rất ngắn ngủi. Năm 1968, một cuộc [[đảo chính]] lật đổ chính phủ của vị tổng thống mới được bầu gần đó là [[Arnulfo Arias Madrid]] diễn ra. Tướng [[Omar Torrijos]] cuối cùng đã trở thành người nắm quyền lực trong một chính phủ quân sự ([[độc tài quân sự|junta]]), và sau này trở thành nhà lãnh đạo độc đoán cho tới tận khi ông chết trong một vụ tai nạn máy bay gây nghi ngờ năm 1981. Sau cái chết của Torrijos, quyền lực dần được tập trung trong tay Tướng [[Manuel Noriega|Manuel Antonio Noriega]], cựu lãnh đạo lực lượng cảnh sát mật Panama và cựu nhân viên CIA. Noriega liên quan tới vụ buôn lậu thuốc phiện vào Hoa Kỳ, dẫn tới những căng thẳng trong quan hệ hai nước cuối thập niên 1980.
 
Ngày [[20 tháng 12]] năm [[1989]], hai mươi bảy nghìn quân Mỹ [http://www.globalsecurity.org/military/library/report/2002/MOUTYates.htm] [[Cuộc xâm lược Panama của Hoa Kỳ|tấn công Panama]] nhằm lật đổ Noriega. Vài giờ sau vụ tấn công, tại một buổi lễ diễn ra bên trong một căn cứ quân sự Mỹ tại [[Vùng Kênh đào Panama]] cũ, [[Guillermo Endara]] (người chiến thắng trong cuộc bầu cử tháng 5 năm 1989) tuyên thệ nhậm chức tổng thống mới của Panama. Cuộc tấn công diễn ra mười năm trước khi quyền quản lý Kênh Panama được giao lại cho người Panama, theo một thời gian biểu do [[Các hiệp ước Torrijos-Carter]] quy định. Sau cuộc tấn công, Noriega tìm cách xin tị nạn tại [[TòaThành thánhVatican|Vatican]] qua phái bộ ngoại giao do Monsignor Jose S. Laboa đại diện. Để buộc Noriega đầu hàng, các lực lượng Mỹ đã chơi ầm ĩ liên tục bên ngoài đại sứ quán bài "Panama," của nhóm nhạc rock thập niên 1980 [[Van Halen]]. [http://online.wsj.com/public/article/SB117166770175011667-594gxYEdzMUX0fv0Agh66_ebeKU_20080216.html (WSJ)] Sau vài ngày, Noriega đầu hàng quân Mỹ, và bị đưa về Florida để chính thức bị dẫn độ và xét xử trước các cơ quan tòa án liên bang Mỹ. Ông bị buộc trách nhiệm về [[cuộc phóng thích tù binh trước hạn]] (parole) tháng 9 năm 2007.
 
Theo [[Các hiệp ước Torrijos-Carter]], [[Hoa Kỳ]] trả lại toàn bộ kênh đào và những vùng đất liên quan cho Panama ngày [[31 tháng 12]] năm [[1999]], nhưng giữ quyền can thiệp quân sự vì quyền lợi an ninh quốc gia của họ. Panama cũng giành được quyền kiểm soát những tòa nhà và cơ sở hạ tầng liên quan cũng như quyền quản lý hành chính đầy đủ với [[Kênh đào Panama]].
 
== Chính trị ==
Chính trị Panama theo hình thức nhà nước [[Cộng hòa]] [[Hệ thống Tổng thống|tổng thống]] [[dân chủ đại nghị|đại diện dân chủ]], theo đó [[Tổng thống Panama]] vừa là [[lãnh đạo quốc gia]] vừa là [[lãnh đạo chính phủ]], và một hệ thống nghị viện đa đảng. [[Quyền hành pháp]] thuộc chính phủ. [[Quyền lập pháp]] vừa do [[chính phủ]] vừa do [[Quốc hội Panama|Quốc hội]] đảm nhiệm. [[Tư pháp]] độc lập với [[quyền hành pháp|hành pháp]] và [[cơ quan lập pháp|lập pháp]].
 
Chính phủ theo chế độ dân chủ lập hiến, trong đó :
*[[Quyền hành pháp|Cơ quan hành pháp]]: đứng đầu nhà nước là [[Tổng thống]], tiếp theo là 2 Phó Tổng thống, được bầu cử với nhiệm kỳ 5 năm. [[Nội các]] được chỉ định bởi Tổng thống.
 
*[[Cơ quan lập pháp]]: [[Quốc hội]] lập pháp lưỡng viện gồm 71 thành viên được bầu cử với các nhiệm kỳ 5 năm.
 
*[[Tư pháp|Cơ quan tư pháp]]: Tòa án Công lý Tối cao gồm 9 thẩm phán được chỉ định với nhiệm kỳ 10 năm; 5 tòa án tối cao, 3 tòa thượng thẩm.
 
== Khu vực hành chính ==
* [[Tỉnh Los Santos|Los Santos]]
* [[Tỉnh Panamá|Panamá]]
* [[Veraguas (tỉnh)|Veraguas]]
 
;''Comarcas'' cấp tỉnh:
Kinh tế Panaman tăng trưởng 8% năm 2006 và lần đầu tiên trong mười năm qua lĩnh vực công cộng đã kết toán năm 2006 với một con số thặng dư thương mại<!-- I guess that's what "superavit" means --> of USD 88 million.{{verify source}} Hơn nữa, theo thông tin được công bố bằng tiếng Tây Ban Nha, "Informe Fiscal - Cierre año 2006" của Bộ Kinh tế và Tài chính ngày 14/02/2007, mức GDP danh nghĩa chính thức năm 2006 lên tới 16.704 tỷ dollar Mỹ; xem đường link bên dưới của bộ này.
 
Đồng tiền tệ Panama là [[Đồng Balboa Panama|balboa]], [[Tỷ giá trao đổi cố định|được quy định]] ở mức trao đổi tương đương với đồng [[đô la Mỹ|dollar Mỹ]]. Tuy nhiên, trên thực tế, nước này đã bị dollar hoá; Panama có đồng tiền xu riêng của mình nhưng sử dụng tất cả các loại tiền giấy bằng dollar Mỹ. Panama là một trong ba quốc gia trong vùng đã [[dollar hoá]] nền kinh tế, hai nước kia là [[Ecuador]] và [[El Salvador]].
 
Panama là một nước có nền kinh tế ổn định nhất trong số các nước [[Mỹ Latinh]], Panama có các lĩnh vực dịch vụ tiên tiến chiếm khoảng 75% GDP. Các dịch vụ bao gồm [[Kênh đào Panama]], [[ngân hàng]], [[Khu tự do Colon]], [[bảo hiểm]], [[cảng]] [[côngtenơ hóa|container]], đăng ký tàu đô đốc và [[du lịch]]. Thời kỳ khủng hoảng của Khu vực Tự do Colon và sự giảm giá mạnh của các mặt hàng xuất khẩu, sự giảm tốc độ sản xuất toàn cầu và việc rút quân của Mỹ đã làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế Panama trong năm 2000-2001. Chính phủ Panamma đặt kế hoạch cho các chương trình công tác công cộng, cải cách thuế, hiệp định thương mại khu vực mới để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Thập kỷ vừa qua cho thấy Panama duy trì được một nền kinh tế phát triển ổn định, trung bình hàng năm tăng trưởng từ 2% đến 4%.
 
Nền kinh tế Panama là nền kinh tế bị đô la hóa, cơ bản dựa trên các hoạt động dịch vụ với chất lượng cao, chiếm tới 3/4 tổng sản phẩm quốc nội. Trong các loại hình dịch vụ này có thể kể ra như: Kênh đào Panama, ngân hàng, Khu vực tự do Colon, bảo hiểm, cảng container, du lịch… Năm 2007, GDP nước này khoảng 29 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng GDP là 7,8%.
 
=== Vai trò là thị trường trung chuyển hàng hóa ===
Panama có vị trí địa lý vô cùng thuận lợi với [[kênh đào Panama]] dài 80&nbsp;km nối [[Đại Tây Dương]] với [[Thái Bình Dương]], không chỉ mang lại lợi ích kinh tế quan trọng cho Panama mà còn giúp các tàu biển tiết kiệm thời gian và chi phí trong vận tải đường biển. Panama phát triển mạnh [[thương mại quốc tế|ngoại thương]], [[dịch vụ]] [[thương mại]], [[tài chính]] [[ngân hàng]]. Đây là trung tâm tài chính ngân hàng quốc tế với chính sách thông thoáng tạo điều kiện tối đa cho các doanh nghiệp (thuế suất 0% nếu các nguồn vốn, tài chính không đầu tư/sử dụng trên lãnh thổ Panama, đơn giản hóa tối đa thủ tục hành chính trong việc thành lập cơ quan đại diện, tự do chuyển lợi nhuận ra nước ngoài...), là môi trường lý tưởng cho các nhà đầu tư cũng như cho các doanh nghiệp phát triển kinh doanh, quyền tự do kinh doanh của mọi pháp nhân được bảo đảm, không có sự phân biệt đối xử với người nước ngoài. Panama giữ vai trò trung tâm tài chính ở [[Mỹ Latinh]], là nơi cung cấp tín dụng, vốn đầu tư, cho vay, thanh toán quốc tế, [[bảo hiểm]]... cho các hoạt động kinh tế, thương mại của thị trường khu vực và thế giới.
 
Hiện nay Panama là nước có nhiều tàu nước ngoài thuê cờ nhất thế giới nhờ có chính sách ưu đãi và tạo thuận lợi cho khách hàng trên nhiều mặt: [[luật pháp|pháp luật]], [[tài chính]], [[bảo hiểm]]... Panama có mạng lưới viến thông bằng sợi cáp quang nối tất cả các quốc gia trên thế giới với tần suất 3.300 gb/giây. Hạ tầng cơ sở của Panama rất phát triển, dân trí cao, chất lượng cuộc sống ở mức cao (không có thiên tai dịch họa; môi trường sống xanh-sạch-đẹp, an lành và thân thiện). Hai ngôn ngữ chính được sử dụng ở Panama là [[tiếng Tây Ban Nha]] và [[tiếng Anh]].
 
Kênh đào Panama được xây dựng cho một luồng giao thông khoảng hơn 13.000 lượt tầu thuyền hàng năm và thông qua đường vận chuyển này đã tạo ra nguồn lợi nhuận kinh tế đáng kể cho thương mại quốc tế. Sử dụng các khu vực trong vùng kênh đào có ý nghĩa cho những cơ hội lớn đầu tư sinh lợi đối với các nhà đầu tư có nhu cầu tăng thêm gia trị [[sản phẩm]] [[hàng hóa|hàng hoá]] và [[dịch vụ]], sử dụng Panama như một vị trí chiến lược với các thị trường mới hoặc thị trường đã có sẵn. Sự thách thức lớn nhất đó là biến đổi đất nước trở thành một trung tâm hậu cần quốc tế gắn liền với sự phát triển của các lĩnh vực [[hàng hải]], [[công nghiệp]], [[du lịch]], [[thương mại]].
 
Panama là thị trường trung chuyển lớn trên thế giới với kho ngoại quan miễn thuế Colón lớn thứ 2 toàn cầu, lớn nhất [[châu Mỹ]] cùng các chính sách cởi mở, thông thoáng, tạo điều kiện tốt cho thương mại quốc tế, mọi giao dịch đều sử dụng đồng USD. Hiện nay có hơn 2000 công ty đặt văn phòng tại [[Khu Thương mại Tự do Colón]] trên tổng diện tích 988 ha, trao đổi thương mại đạt trị giá hơn 10 tỷ USD/năm, trong đó nhập khẩu chiếm 45% và tái xuất chiếm 55%. Khu miễn thuế này hàng năm đóng góp 7,5% GDP cho Panama.
 
=== Lạm phát ===
Theo Cao ủy Kinh tế vùng Mỹ Latinh và Caribe ([[ECLAC]], hay [[CEPAL]] theo tên viết tắt tiếng Tây Ban Nha thông dụng hơn), lạm phát của Panama tính theo [[Chỉ số giá tiêu dùng|Chỉ số Giá Tiêu thụ]] (CPI) là 2.0 phần trăm năm 2006.[http://www.cepal.org/publicaciones/xml/2/27542/Anexo_estadistico.pdf] Thường Panama có mức lạm phát thấp.
 
=== Bất động sản ===
Văn hoá, phong tục và ngôn ngữ của người Panama chủ yếu thuộc vùng Caribe và Tây Ban Nha. Về chủng tộc, đa số dân là người [[mestizo]] hay lai Amerindian, Châu Phi, Tây Ban Nha và người Hoa. [[Tiếng Tây Ban Nha]] là ngôn ngữ chính thức và chủ yếu; [[tiếng Anh]] cũng được công nhận là một ngôn ngữ chính thức và được sử dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp và tại vùng bờ biển Caribe. Hơn một nửa dân số sống tại [[Thành phố Panama]] –hành lang đô thị [[Colón, Panama|Colón]].
 
Đại đa số người Panama theo [[Giáo hội Công giáo Rôma|Cơ đốc giáo La Mã]], chiếm tới 80% dân số. Dù hiến pháp công nhận Cơ đốc giáo là tôn giáo của đại đa số người dân, Panama không có tôn giáo chính thức. Các tôn giáo nhỏ tại Panama gồm [[Tin Lành]] (12%), [[Hồi giáo]] (4.4%), [[Bahá'í]] (1.2%), [[Phật giáo]] (ít nhất 1%), [[Chính thống giáo Hy Lạp]] (0.1%), [[Do Thái giáo]] (0.4%), và [[Ấn Độ giáo|Hindu giáo]] (0.3%). Cộng đồng Do Thái tại Panama, với hơn 10.000 người, là cộng đồng lớn nhất trong khu vực (gồm Trung Mỹ, Colombia và Caribe). Cuộc di cư Do Thái diễn ra vào cuối [[thế kỷ 19]], hiện tại có các giáo hội Do Thái tại Thành phố Panama, cũng như các trường Do Thái. Bên trong [[Mỹ Latinh|Mỹ Latin]], Panama là một trong những nước có tỷ lệ [[người Do Thái]] trên dân số lớn, chỉ sau [[Uruguay]] và [[Argentina]]. Các cộng đồng Hồi giáo, [[Đông Á]], và [[Nam Á]] tại Panama cũng rất lớn.
 
Thành phố Panama có một [[Nhà thờ Đức tin Bahá'í]], một trong tám nhà thờ duy nhất trên thế giới. Được hoàn thành năm [[1972]], nó nằm trên một quả đồi cao quay mặt ra kênh, và được xây bằng bùn theo kiểu thiết kế Châu Mỹ bản xứ.
986.568

lần sửa đổi