Khác biệt giữa các bản “Đào Tấn”

không có tóm lược sửa đổi
n (bỏ "việt gian".)
Mãi đến bốn năm sau, năm Tự Đức thứ 24 (1871), khi vua [[Tự Đức]] cho soát xét lại những người chưa đỗ đạt, Đào Tấn mới được triệu về kinh thành Huế, được sơ bổ Điển tịch, sung vào Hiệu thư ở Nội các, tức hội nhà văn của triều đình, lo việc biên soạn và sáng tác, do vua Tự Đức làm chủ tọa.
 
Năm 1874, ông đư­ợc bổ nhiệm [[tri phủ]] Quảng Trạch sau thăng chức lên [[Phủ doãn]] Thừa Thiên. Làm quan suốt 3 triều, từ Tự Đức đến [[Thành Thái]] (1871 - 1904), ông kinh qua các chức vụ [[Tham biện]], [[Tổng đốc]] An Tĩnh, Tổng đốc Nam Ngãi, [[Thượng thư Bộ Hình]], [[Thượng thư Bộ Binh]], [[Thượng thư Bộ Công]], quan hàm nhất phẩm, được phong [[Hiệp biện Đại học sĩ]], tước Vinh Quang tử. Năm 1904 vì chống đối với đại thần [[Nguyễn Thân]], ông bị cách chức rồi lui về quê nhà ở ẩn.
 
Đào Tấn là một vị quan thanh liêm, cương trực, được giới sĩ phu trọng nể và nhân dân yêu quí<ref>Trích tóm tắt luận văn thạc sĩ "[http://daotan.tuong.googlepages.com/home242 Đào Tấn với Trầm Hương các]" của Trần Hà Nam</ref>
168

lần sửa đổi