Khác biệt giữa các bản “Thuế thân”

n
Robot: Sửa đổi hướng
n (using AWB)
n (Robot: Sửa đổi hướng)
'''Thuế thân''', còn gọi là '''thuế đinh''', '''thuế đầu người''', hay '''sưu''' là một trong thứ thuế của chế độ [[phong kiến]] và [[chế độ quân chủ|quân chủ]]. Đây là sắc thuế tiêu biểu trong các sắc [[thuế khoán]].
 
==Việt Nam==
* Thời kỳ [[Bắc thuộc]] [[nhà Minh]] thì hộ chế cũng như điền chế tính theo kiểu của Trung Quốc. Mỗi người dân đều có một cái thẻ biên tên tuổi, hương quán để phục vụ cho việc thu thuế.
 
* [[Nhà Lê sơ|Nhà Lê]]: năm Hồng Đức thứ nhất (1470) định cứ 3 năm sửa hộ tịch một lần (tiểu điền), sáu năm sửa lại một lần (đại điền). Mỗi làng phải khai số chính hộ và khách hộ. Ai biết chữ thì cho vào hạng học nhiều; thứ đến xét hạng chức sắc; sau cùng xét hạng dân đinh và chia làm: tráng hạng (hay lính hạng), quân hạng, dân hạng, lão hạng, cố hạng, cùng hạng. Thuế đinh không tính theo số ruộng mà định nhất luật mỗi người đồng niên phải đóng 8 tiền. Đến đời Huyền Tôn (1664) thì bỏ cách tính này mà dùng lệ khai ở xứ [[Nghệ An]] và [[Thanh Hóa|Thanh Hoá]], và lệ bình ở các trấn. Theo cách này, nhà nước không cần theo định kỳ duyệt lại hộ tịch như trước mà chỉ làm một lần nhất định (hoặc bằng lời khai của xã trưởng mà thôi), thuế đinh mỗi suất là 1 quan 8 tiền. Năm Bảo Thái thứ tư, chúa Trịnh Cương sửa lại ngạch thuế đinh gọi là "dung", định rằng: "''con trai từ 17-19 tuổi là hoàng đinh, từ 20-48 là chính đinh, từ 50-59 là lão hạng, từ 60 tuổi trở lên là lão nhiêu''". Hạng chính đinh phải nộp mỗi người 1 quan 2 tiền và 4 bát gạo, hạng sinh đồ cùng hoàng đinh và lão hạng được miễn thuế. Ngạch thuế điệu (là các thứ thuế phụ đời trước để bổ sung vào các việc tế tự và công tác của nhà nước) nay dồn lại thành một, mỗi suất đinh phải nộp 6 quan tiền.<ref>Theo Việt Nam Văn hóa sử cương của [[Đào Duy Anh]], trang 91. Nhà xuất bản Văn hoá thông tin, xuất bản năm 2006</ref>
 
* [[Nhà Nguyễn]]: sau khi lên ngôi, vua [[Gia Long]] định lại việc thu thuế:
** Kê khai: ''Lệ định 5 năm một lần làm sổ đinh, trong làng từ chức sắc cho đến quân dân, đều phải vào sổ. Kể từ 18 tuổi trở lên, 59 tuổi trở xuống, đều phải khai vào sổ'' (Đinh bạ)
** So sánh mức thuế: để biết mức thuế thân thời đó có thể so sánh với thuế điền như :''Thuế điền thì chia ra làm 3 hạng: nhất đẳng điền mỗi mẫu đồng niên nộp thóc 20 thăng; nhị đẳng điền 15 thăng; tam đẳng điền 10 thăng. Còn thứ ruộng mùa đồng niên phải nộp 10 thăng''
** So sánh thu nhập: ''Năm [[Kỷ Hợi]] (1839) là năm [[Minh Mạng|Minh Mệnh]] thứ 20, vua Thánh Tổ định lương bổng đồng niên và tiền xuân phục của các quan viên.
:Chánh nhất phẩm:tiền 400 quan, gạo 300 phương, tiền xuân phục 70 quan.
::Tòng nhất phẩm: tiền 300 quan, gạo 250 phương, tiền xuân phục 60 quan.
:Lại dịch binh tượng: mỗi tháng tiền một quan, gạo một phương.
:Hậu bổ: mỗi tháng tiền 2 quan, gạo 2 phương.''
* Người [[Pháp]] tiếp tục áp dụng thuế thân ở [[Việt Nam]] trước năm [[1945]]. Thuế thân dưới [[pháp thuộc|thời Pháp thuộc]] đánh vào các "suất đinh", là đàn ông từ 13 đến 53 tuổi, trừ những người làm trong bộ máy chính quyền và một số trường hợp được miễn khác. Theo thống kê vào những năm 1890, thuế thân trung bình khoảng 5 [[đồng bạc Đông Dương]]/đinh, trong khi thu nhập bình quân trên đầu người chỉ khoảng 2 đồng<!-- trong một năm ?-->
:Ngày [[2 tháng 6]] năm [[1897]] Toàn quyền Đông Dương là Paul Dumer đã ra nghị định về chính sách thuế thân đối với người dân ở Bắc Kỳ. Nội dung như sau: ''"thuế thân đánh vào người từ 18 tuổi đến 60 tuổi. Tất cả những ai trong diện đóng thuế thân đều phải có thẻ thuế thân. Trên thẻ có chữ ký hoặc điểm chỉ, có dấu triện của Lý trưởng. Mỗi nǎm thay thẻ một lần, màu sắc thẻ cũng phải thay đổi hàng nǎm. Đi đâu cũng phải mang thẻ. Trường hợp không mang thẻ mà bị cảnh sát bắt giữ thì phải nộp tiền để lấy thẻ mới. Nếu dùng thẻ của người khác phải nộp phạt. Người cho mượn thẻ cũng bị phạt."''<ref name="Ngược dòng lịch sử">Xem [http://www.bbc.co.uk/vietnamese/news/030603_history0206.shtml Ngược dòng lịch sử...]</ref>
 
*Dưới thể chế [[Đế quốc Việt Nam]], [[nội các Trần Trọng Kim (tháng 4, 1945)|chính phủ Trần Trọng Kim]] bãi bỏ thuế thân đối với những ai không có tài sản hoặc có lợi tức dưới 100 đồng một tháng.<ref>Ngô Văn. ''Việt Nam 1920-1945, Cách mạng và Phản Cách mạng''. Montreuil, Pháp: L'Insomniaque Chuông Rè, 2000. tr 301</ref>
 
*Với sắc lệnh 11 ký ngày [[7 tháng 9]] năm [[1945]], [[Chính phủ Việt Nam|Chính phủ lâm thời Việt Nam]] đã bãi bỏ thuế thân ngay sau khi thành lập [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa|Việt Nam Dân chủ Cộng hoà]].<ref name="laws.dongnai.gov.vn">Xem [http://laws.dongnai.gov.vn/1945_to_1950/1945/194509/194509070001/lawdocument_view Sắc lệnh 11, ký ngày [[7 tháng 9]] năm [[1945]] ]</ref>
 
==Những nhận định==
986.568

lần sửa đổi