Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Trận Bắc Lệ”

n
Robot: Sửa đổi hướng
n (Bot: Di chuyển 2 liên kết ngôn ngữ đến Wikidata tại d:q5005745 Addbot)
n (Robot: Sửa đổi hướng)
{{Thông tin chiến tranh
|conflict= Trận Bắc Lệ
|partof=[[Chiến tranh Pháp-Đại Nam|Pháp xâm lược Đại Nam]]
|image=
|caption=
|place= Bắc Lệ, [[Bắc Giang]], [[Việt Nam]]
|result= Quân [[Pháp]] đại bại
|combatant1= [[Tập tin:Flag of Vietnam (1802-78).gif|25px]] [[Tên gọi Việt Nam#Đại Nam|Đại Nam]]<br>{{flagicon|Qing Dynasty|1860}} [[Nhà Thanh|Đại Thanh]]
|combatant2={{flagicon|Pháp}} [[Pháp]]
|commander1= [[Tập tin:Flag of Vietnam (1802-78).gif|25px]] Lã Xuân Oai<br>[[Tập tin:Flag of Vietnam (1802-78).gif|25px]] [[Nguyễn Thiện Thuật]]<br>[[Tập tin:Flag of Vietnam (1802-78).gif|25px]] [[Tạ Hiện]]<br>[[Tập tin:Flag of Vietnam (1802-78).gif|25px]] Phạm Huy Quang<br>{{flagicon|Qing Dynasty|1860}} [[Phan Đỉnh Tân]]<br>{{flagicon|Qing Dynasty|1860}} Sầm Dục Anh<br>{{flagicon|Qing Dynasty|1860}} Vương Đức Bảng
 
==Bối cảnh==
Sau mấy trận thất bại ở [[Bắc Kỳ]], Thanh đình đã trị tội các tướng tá của mình, rồi sai Phan Đình Tân (Tuần phủ [[Quảng Tây]], nguyên tướng lĩnh Hoài quân) chỉ huy cuộc chiến đấu. [[Tháng tư|Tháng 4]] năm [[Giáp Thân]] ([[1884]]), Phan Đình Tân kéo quân qua cửa quan họp binh với Sầm Dục Anh (Tổng đốc Vân Quí), rồi phái Vương Đức Bảng (Bố Chánh), Phương Hữu Thăng, Huỳnh Nguyện Xuân đem 17 doanh quân đóng ở Nam Quan, [[Lạng Sơn]] và Quan Âm.
 
Ở [[Lạng Sơn]], các tướng Thanh đã liên lạc với các quan Việt là [[Lã Xuân Oai]] (Tuần phủ Lạng Sơn) [[Nguyễn Thiện Thuật]] (Tán tướng) [[Tạ Hiện]] (Đề đốc), [[Phạm Huy Quang]] (Ngự sử) để cùng kháng Pháp.
Để tránh các cuộc xung đột giữa đôi bên, Pháp và Thanh cùng ký kết tại [[Thiên Tân]] ([[Trung Quốc]]) bản quy ước ngày [[11 tháng 6]] năm [[1884]] gồm 5 khoản, mà trong đó có khoản Thanh triều sẽ lần lượt rút hết quân ra khỏi [[Bắc Kỳ]].
 
Biết nước Việt sau quy ước này, sẽ mất chỗ dựa duy nhất là nhà Thanh, và biết [[nhà Nguyễn]] cũng đã mệt nhoài vì mấy năm chiến tranh, nên nội các Tules Ferry (Pháp) đã cử Jules Patenôtre sang [[Huế]] để ký kết bản một hiệp ước mới, đó là hòa ước Patenôtre (hay còn gọi là [[Hòa ước Giáp Thân (1884)|Hòa ước Giáp Thân 1884]]) vào ngày [[6 tháng 6]] năm [[1884]]. Hòa ước này, gồm 19 khoản, ngoài mục đích phân chia Việt Nam ra thành ba kỳ, xoa dịu sự công phẫn của nhân dân Việt Nam, nó còn nhằm cắt đứt hoàn nhà Nguyễn với toàn mọi mối quan hệ giữa nhà Thanh (Trung Quốc).
 
==Giao tranh==
Tin vậy, nên ngày [[13 tháng 6]] năm [[1884]], tướng Millot phái Thiếu tá Dugenne dẫn hơn ngàn binh lính và khoảng ngần ấy phu khuân vác, từ [[Phủ Lạng Thương]] kéo lên tiếp quản các tỉnh thành trên.
 
Ngày [[22 tháng 6]], đoàn quân Pháp đi đến đồn Bắc Lệ<ref>Bắc Lệ nay ở xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn còn có thông Bắc Lệ và ga Bắc Lệ.</ref>. Nhưng khi quân Pháp đến bờ sông Hóa (một nhánh của [[sông Thương]]), cách cầu Quan Âm khoảng 8 [[dặm Anh|dặm]] thì bị chặn lại. Ở phía bên kia cầu, quân Thanh và quân khởi nghĩa người Việt do Nguyễn Thiện Thuật, Tạ Hiện, Phạm Huy Quang cùng chỉ huy, vẫn còn đang đóng giữ.
 
Ngày 23, sau khi thăm dò được một quãng sông không sâu lắm, dưới làn mưa đạn, quân Pháp vẫn cố vượt sông. Trước tình thế căng thẳng, tướng nhà Thanh sai quân đưa thư, đại ý nói rằng đã biết có hòa ước, nhưng vì chưa được lệnh rút quân về, vậy xin hoãn lại mấy ngày nữa để đợi chỉ dụ của [[Bắc Kinh]].
Trận cầu Quan Âm mà Pháp gọi là sự kiện Bắc Lệ, có tiếng vang rất lớn ở Pháp và Việt Nam, khiến thực dân Pháp rất hoang mang, lo ngại. Đây thật sự là một thất bại nặng nề của quân Pháp, một thắng lợi to lớn của liên quân Việt – Thanh. Cho nên khi nhận được tin, thủ tướng Jules Ferry liền đánh điện khẩn cho Lý Hồng Chương, để phản đối kịch liệt sự việc này. Và sau đó, đã hai lần (12 tháng 7 & 19 tháng 8) Jules Ferry gửi tối hậu thư đòi quân Thanh phải rút ngay khỏi Bắc Kỳ và phải đòi thường thiệt hại cho Pháp 250 triệu francs (khoản tiền này sau cứ giảm dần đi). Nhưng mặc dù tình hình giao thiệp giữa Pháp và Thanh rất căng thẳng, nhưng cả đôi bên đều muốn dùng con đường thương thuyết để tránh một cuộc chiến tranh lớn.
 
Nhưng trước những yêu sách quá đáng của Pháp, triều đình Bắc Kinh không thể nào nhượng bộ được nữa, cuối cùng, cuộc chiến tranh Trung - Pháp cũng đã nổ ra ([[tháng tám|tháng 8]] năm 1884).
 
Sau trận Bắc Lệ, Trung tướng Millot bị triệu hồi, Thiếu tướng Brière de l'Isle lên thay thế, để tiếp tục công việc đánh dẹp và bình định Bắc Kỳ...<ref>Tổng hợp từ các sách ghi ở mục tham khảo.</ref>
 
==Xem thêm==
* [[Chiến tranh Pháp-Thanh|Chiến tranh Pháp - Thanh]]
== Chú thích ==
{{Tham khảo}}
 
==Sách tham khảo==
*[[Trần Trọng Kim]], ''Việt Nam sử lược'', Nxb Tân Việt, [[Thành phố Hồ Chí Minh|Sài Gòn]], 1968 (tr. 543-544).
*[[Trần Văn Giàu]], ''Tổng tập'' (phần I), Nxb Quân đội Nhân dân, [[Hà Nội]], 2006 (tr.400)
*[[Phạm Văn Sơn]], ''Việt sử tân biên'', quyển 5, tập thượng, Sài Gòn, 1962 (tr. 438-440).
986.568

lần sửa đổi