Khác biệt giữa các bản “Sấu (thực vật)”

hình, lk bài con
n (Cây sấu đổi thành Sấu (thực vật): nhất quán cách đặt tên)
(hình, lk bài con)
{{Taxobox
| colorname = lightgreenSấu
| image = Fruits of Dracontomelon duperreanum.JPG
| name = Cây sấu
| image_caption = [[Quả sấu]]
| image_width = 220px
| regnum = [[Thực vật|Plantae]]
| divisio = [[Thực vật có hoa|Magnoliophyta]]
}}
 
Cây '''sấu''' hay '''sấu tía''', '''sấu trắng''' hoặc '''long cóc''' ([[danh pháp khoa học]]: '''''Dracontomelon duperreanum''''') là một loài cây sống lâu năm, lá thường xanh/bán rụng lá thuộc [[họ Đào lộn hột]] (''[[Anacardiaceae]]'')
Cây '''sấu''' hay '''sấu trắng''' hoặc '''long cóc''' ([[danh pháp khoa học]]: '''''Dracontomelon duperreanum''''' là một loài cây sống lâu năm, lá thường xanh/bán rụng lá thuộc [[họ Đào lộn hột]] (''[[Anacardiaceae]]''), có thể cao tới 30 m. Cành nhỏ có cạnh và có lông nhung màu xám tro. Lá mọc so le, hình lông chim dài 30-45 cm, với 11-17 lá chét mọc so le. Phiến lá chét hình trái xoan, đầu nhọn gốc tròn, dài 6-10 cm, rộng 2,5-4 cm, dai, nhẵn, mặt dưới có gân nổi rõ. Cụm hoa thuộc loại hoa chùm, mọc ở ngọn hay gần ngọn; hoa nhỏ, màu trắng xanh, có lông mềm. Quả là loại [[quả hạch]] hình cầu hơi dẹt, đường kính khoảng 2 cm, khi chín màu vàng sẫm; chứa một hạt. Ra hoa vào [[mùa xuân]] - [[mùa hè|hè]] và có quả vào mùa hè - [[mùa thu|thu]], quả được thu hái vào giai đoạn [[tháng 7]] đến [[tháng 9]]. Quả dùng tươi để nấu canh hay lấy cùi thịt của quả để làm tương giấm hay mứt sấu, ô mai, sấu dầm v.v. Nó cũng có một số tác dụng trong điều trị một số chứng bệnh và được sử dụng trong [[y học cổ truyền]] phương Đông. Xem thêm bài [[quả sấu]].
 
==Mô tả==
{{chính|Quả sấu}}
Cây '''sấu''' hay '''sấu trắng''' hoặc '''long cóc''' ([[danh pháp khoa học]]: '''''Dracontomelon duperreanum''''' là một loài cây sống lâu năm, lá thường xanh/bán rụng lá thuộc [[họ Đào lộn hột]] (''[[Anacardiaceae]]''), có thể cao tới 30 m. Cành nhỏ có cạnh và có lông nhung màu xám tro. Lá mọc so le, hình lông chim dài 30-45 cm, với 11-17 lá chét mọc so le. Phiến lá chét hình trái xoan, đầu nhọn gốc tròn, dài 6-10 cm, rộng 2,5-4 cm, dai, nhẵn, mặt dưới có gân nổi rõ. Cụm hoa thuộc loại hoa chùm, mọc ở ngọn hay gần ngọn; hoa nhỏ, màu trắng xanh, có lông mềm. Quả là loại [[quả hạch]] hình cầu hơi dẹt, đường kính khoảng 2 cm, khi chín màu vàng sẫm; chứa một hạt. Ra hoa vào [[mùa xuân]] - [[mùa hè|hè]] và có quả vào mùa hè - [[mùa thu|thu]], quả được thu hái vào giai đoạn [[tháng 7]] đến [[tháng 9]]. Quả dùng tươi để nấu canh hay lấy cùi thịt của quả để làm tương giấm hay mứt sấu, ô mai, sấu dầm v.v. Nó cũng có một số tác dụng trong điều trị một số chứng bệnh và được sử dụng trong [[y học cổ truyền]] phương Đông. Xem thêm bài [[quả sấu]].
 
==Thành phần hóa học==
Quả sấu chín chứa 80% nước, 1% [[axít]] hữu cơ, 1,3% protein, 8,2% gluxit, 2,7% [[xenluloza]], 0,8% tro, 100 mg% [[canxi]], 44 mg% [[phốtpho]], [[sắt]] và 3mg % [[vitamin C]].
 
==Tại Việt Nam==
Các cây mọc trong rừng thuộc loại bán rụng lá, trên đất đỏ sâu hoặc sâu trung bình, ở cao độ từ khoảng 0-600 m trong khu vực [[Lạng Sơn]], [[Bắc Kạn]], [[Thái Nguyên]] tới vùng đồng bằng ven biển và cao nguyên Trung Bộ; ít gặp ở vùng Nam Bộ. Cây cũng hay được trồng ở nhiều nơi để lấy bóng mát và lấy quả, ưa trồng ở nơi đất cát pha.
35.527

lần sửa đổi