Khác biệt giữa các bản “Chính thống giáo Đông phương”

n
fixing, replaced: Chính Thống giáo → Chính thống giáo (46) using AWB
n (Greenknight dv đã đổi Chính Thống giáo Đông phương thành Chính thống giáo Đông phương qua đổi hướng)
n (fixing, replaced: Chính Thống giáo → Chính thống giáo (46) using AWB)
'''Chính Thốngthống giáo Đông phương''' là nhánh Kitô giáo lớn thứ nhì trên thế giới, sau [[Giáo hội Công giáo Rôma]]. Đây là nhóm các giáo hội Kitô giáo đại diện cho truyền thống [[Kitô giáo Đông phương]]. Chính Thốngthống giáo truy nguyên nguồn gốc của họ về Kitô giáo sơ khai và tuyên bố họ mới là sự tiếp nối duy nhất và chính thống của giáo hội do Chúa Kitô thiết lập, xem chính mình là [[Giáo hội Duy nhất, Thánh thiện, Công giáo và Tông truyền]]. Trong thiên niên kỉ đầu của Kitô giáo, Chính Thốngthống giáo Đông phương và [[Giáo hội Công giáo Rôma|Công giáo Rôma]] cùng là một giáo hội, mặc dù có một số khác biệt giữa đông phương và tây phương. Vào [[thế kỷ 11]], các khác biệt này dẫn đến cuộc [[Ly giáo Đông - Tây]] năm [[1054]], phân chia thành Chính Thốngthống giáo Đông phương và Công giáo Rôma.
[[Tập tin:The Descent Of The Holy Spirit.png|250px|nhỏ|phải|Các [[mười hai sứ đồ|tông đồ]] và bà [[Maria]] trong ngày lễ Ngũ Tuần.]]
Tín hữu Chính Thốngthống giáo vẫn xem giáo hội của mình là truyền thống Kitô giáo trung thành nhất với các giá trị thần học bắt nguồn từ thời hội thánh tiên khởi. Giáo hội cấu trúc tổ chức bao gồm các giáo phận độc lập cùng chia sẻ một nền thần học, đặt dưới quyền cai quản của các Giám mục có nhiệm vụ bảo vệ các truyền thống giáo hội được lưu truyền từ [[Mười hai sứ đồ|Mười hai Sứ đồ]] qua quyền [[tông truyền]], đặc biệt là [[Thánh Anrê]].
 
Tín hữu Chính Thốngthống giáo xem giáo hội của họ là:
*Hội thánh nguyên thủy được thiết lập bởi [[Giê-su|Chúa Giê-su Ki-tô]] và các sứ đồ.
*Giáo huấn và truyền thống giáo hội được bảo tồn bởi các tín hữu thời kỳ hội thánh sơ khai được lưu truyền từ các sứ đồ, cùng các truyền thống khác được phát triển sau này nhằm mở rộng và làm sáng tỏ các giáo huấn nguyên thủy.
Theo dòng lịch sử, các giáo hội Chính Thống chịu ảnh hưởng [[văn hóa Hi Lạp]] liên kết với [[Alexandria]], [[Constantinopolis]] (nay là [[Istanbul]]), cùng các thành phố khác thuộc nền văn minh Hi Lạp; trong khi đó Giáo hội Rôma liên kết với [[Đế quốc La Mã|La Mã]] thuộc [[văn hóa Latin]] và phương Tây. Sự khác biệt ngày càng gia tăng khi [[Đế quốc La Mã|Đế chế La Mã]] bị chia cắt thành hai phần: phương Đông và phương Tây.
== Cấu trúc ==
Chính Thốngthống giáo xem [[Cuộc đời Chúa Giê-xu theo Tân Ước|Chúa Giê-su]] là đầu của hội thánh và hội thánh là thân thể của ngài. Người ta tin rằng thẩm quyền và [[ân điển]] của [[Thiên Chúa]] được truyền trực tiếp xuống các [[Giám mục]] và chức sắc giáo hội qua việc đặt tay – một nghi thức được khởi xướng bởi các sứ đồ, và sự nối tiếp lịch sử liên tục này là yếu tố căn bản của giáo hội (Công vụ 8:17; 1Tim 4:14; Heb 6:2). Mỗi Giám mục cai quản giáo phận của mình. Nhiệm vụ chính của Giám mục là gìn giữ các truyền thống và qui tắc của giáo hội khỏi bị vi phạm. Các Giám mục có thẩm quyền ngang nhau và không được can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Về mặt hành chính, các Giám mục và các giáo phận được tổ chức thành các nhóm tự quản, trong đó các Giám mục họp ít nhất hai lần mỗi năm để bàn bạc về các vấn đề liên quan đến giáo phận của họ. Khi xuất hiện các học thuyết dị giáo, một "đại" công đồng được triệu tập qui tụ tất cả Giám mục. Giáo hội xem bảy công đồng đầu tiên (từ [[thế kỷ 4]] đến [[thế kỷ 8]]) là quan trọng nhất mặc dù các hội nghị khác cũng góp phần định hình quan điểm của Chính Thốngthống giáo. Những công đồng này không thiết lập giáo lý cho hội thánh nhưng chỉ so sánh các học thuyết mới với các xác tín truyền thống của giáo hội. Học thuyết nào không phù hợp với truyền thống giáo hội bị xem là dị giáo và bị loại trừ khỏi giáo hội. Các công đồng được tổ chức theo thể thức dân chủ dựa trên nguyên tắc mỗi Giám mục một lá phiếu. Dù được phép dự họp và phát biểu tại công đồng, quan lại triều đình Rôma hay [[Đế quốc Đông La Mã|Byzantine]], tu viện trưởng, [[linh mục]], tu sĩ hoặc tín đồ không có quyền bầu phiếu. Trước cuộc Đại Ly giáo năm 1054, Giám mục thủ đô [[Đế quốc La Mã|La Mã]], tức [[Giáo hoàng]], dù không có mặt tại tất cả công đồng, vẫn được xem là chủ tọa công đồng và được gọi là "Người đứng đầu giữa những người bình đẳng". Một trong những nghị quyết của công đồng thứ nhì, được khẳng định bởi các công đồng sau, là Giám mục thành Constantinople (Constantinople được xem là Rôma mới) được dành vị trí thứ hai. Sau khi tách khỏi Rôma, vị trí chủ tọa công đồng được dành cho [[Thượng phụ thành Constantinople]] với danh hiệu "Người đứng đầu giữa những người bình đẳng", thể hiện sự bình đẳng của chức vụ này trong phương diện hành chính và tâm linh. Người đảm nhiệm chức vụ này không được xem là đầu của hội thánh hoặc giáo chủ.
 
Theo các ước tính, số tín hữu Chính Thốngthống giáo là từ 150-350 triệu người<ref>[http://www.adherents.com/Na/Na_264.html]</ref>. Chính Thống Đông phương cũng là tôn giáo phổ biến nhất ở [[Belarus]] (89%), [[Bulgaria]] (86%), [[Cộng hòa Síp|Cộng hòa Cyprus]] (88%), [[Gruzia]] (89%), [[Hy Lạp]] (98%), [[Macedonia]] (70%), [[Moldova]] (98%), [[Montenegro]] (84%), [[România]] (89%), [[Nga]](76%)<ref>{{chú thích web|url=http://wciom.ru/novosti/press-vypuski/press-vypusk/single/8954.html|title=RUSSIAN PUBLIC OPINION RESEARCH CENTER (tiếng Nga) |accessdate=2007-11-10}}</ref>, [[Serbia]] (88%), và [[Ukraina]] (83%)<ref>[https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/fields/2122.html]</ref>. Tại [[Bosna và Hercegovina|Bosnia và Herzegovina]], tỷ lệ này là 31%, tại [[Kazakhstan]] là 48%, tại [[Estonia]] là 13% và 18% ở [[Latvia]]. Thêm vào đó là các cộng đồng Chính Thốngthống giáo ở [[châu Phi]], [[châu Á]], [[Úc]], [[Bắc Mỹ]] và [[Nam Mỹ]].
 
== Giáo lý ==
{{Kitô giáo}}
=== Ba Ngôi ===
Tín hữu Chính Thốngthống giáo tin một [[Thiên Chúa]] duy nhất, hiện hữu trong [[Ba Ngôi|Ba Ngôi vị]] (''Hypostases'') là Cha và Con và Thánh Linh. [[Chúa Cha]] tự hữu, [[Giê-su|Chúa Con]] sinh bởi Chúa Cha và [[Chúa Thánh Linh]] nhiệm xuất từ Chúa Cha. Thiên Chúa là Ba Ngôi hiệp nhất trong một Bản thể (''Ousia''), không lẫn giữa các ngôi với nhau, cũng không phân chia bản thể – Thiên Chúa duy nhất là Đấng tự hữu, hằng hữu, vĩnh cửu, và phi vật chất.<ref>Ware, pp. 208–211</ref> Xác tín này được trình bày trong bản [[Tín điều Nicea|Tín điều Nicaea]].<ref>Ware p. 202</ref>
 
=== Tội lỗi và sự Cứu rỗi ===
Bản chất của con người, trước khi sa ngã, là tinh tuyền và vô tội. Nhưng hành động bất tuân Thiên Chúa của [[Adam]] và [[Eva (kinh thánh)|Eva]] trong [[Vườn Eden]] đã để [[tội lỗi]] và sự bại hoại thâm nhập vào bản chất tinh tuyền ấy. Tình trạng bất khiết này đã ngăn cản con người hưởng [[Vương quốc Thiên đàng]]. Song, khi Thiên Chúa hóa thân thành người trên dương thế, ngài đã thay đổi bản chất ấy bằng cách hiệp nhất con người với Thiên Chúa; do đó, Chúa Kitô thường được gọi là "Adam mới". Bằng cách trở thành người, chết trên cây thập tự, và sống lại, ngài đã thánh hóa các phương tiện ân điển, nhờ đó chúng ta được trở lại với tình trạng tinh tuyền nguyên thủy và phục hòa với [[Thiên Chúa]]. Điều này Chính Thốngthống giáo gọi là được cứu khỏi tình trạng bệnh tật của tội lỗi. Quyền năng của sự [[cứu rỗi]] giải thoát mọi người công chính khỏi quyền lực trói buộc của tội lỗi, kể từ buổi sáng thế, trong đó có cả Adam và Eva.
 
=== Phục sinh ===
[[Sự Phục sinh của Chúa Giê-xu|Sự Phục sinh của Chúa Giê-su]] là sự kiện quan trọng nhất mà lịch phụng vụ Chính Thốngthống giáo đặt làm trọng tâm. Thống giáo tin đây là một sự kiện lịch sử và Chúa Giê-su thật sự sống lại trong thân xác. Chúa Giê-su, Con Thiên Chúa, bị đóng đinh, sau khi chết, đến ngày thứ ba Ngài sống lại để cứu rỗi nhân loại. Ngài đã giải thoát loài người khỏi quyền lực của [[hỏa ngục]]. Như thế, mọi kẻ tin Ngài đều có thể thông phần vào sự sống vĩnh hằng.
 
=== Thánh Kinh và Thánh Truyền ===
Chính Thốngthống giáo xem mình là sự nối tiếp lịch sử từ hội thánh tiên khởi được thành lập bởi Chúa Giê-su và các sứ đồ.<ref>Ware, p. 8</ref> Đức tin được truyền dạy bởi Chúa Giê-su và các sứ đồ mặc lấy sức sống bởi Chúa Thánh Linh trong ngày [[Lễ Ngũ Tuần]], được lưu truyền qua nhiều thế hệ, được gọi là Thánh Truyền ([[Truyền thống thánh]]).<ref>Ware, pp. 195–196</ref> Lời chứng chủ yếu và có thẩm quyền cho Thánh Truyền là [[Kinh Thánh]], được viết ra và được chuẩn thuận bởi các sứ đồ để ký thuật chân lý được mặc khải và lịch sử tiên khởi của hội thánh. Bởi vì Thánh Kinh được linh hứng, nên được xem là trọng tâm của sự sống hội thánh.
 
Theo quan điểm Chính Thốngthống giáo, Thánh Kinh luôn được giải thích trong nội hàm của Thánh Truyền. Thánh Truyền đã hình thành và quy điển Thánh Kinh. Tín hữu Chính Thốngthống giáo tin rằng Thánh Kinh không độc lập với giáo hội, do dó, cách duy nhất để hiểu Thánh Kinh là giải thích Thánh Kinh trong nội dung truyền thống giáo hội.<ref>Ware, pp. 199–200</ref>
 
Thánh Truyền còn bao gồm lễ nghi, ảnh thánh, phán quyết của các công đồng và giáo huấn của các Giáo phụ. Từ sự đồng thuận của các [[Giáo phụ]] (''consensus patrum'') mà người ta có thể hiểu biết sâu sắc và đầy đủ hơn về đời sống của giáo hội. Tín hữu Chính Thốngthống giáo tin rằng quan điểm của từng giáo phụ riêng lẻ không được xem là vô ngộ (không sai lầm), nhưng sự đồng thuận của các giáo phụ sẽ giúp mang đến một sự hiểu biết chân xác về Thánh Kinh và các giáo thuyết, nhờ sự hướng dẫn của Chúa.<ref>Ware, pp. 202–207</ref>
 
=== Theotokos và các Thánh ===
[[Tập tin:Vladimirskaya.jpg|nhỏ|180px|''Đức Mẹ Vladimir'', một trong những bức ikon được tôn kính nhất của Nga.]]
Chính Thốngthống giáo tin rằng sự chết và sự tách rời linh hồn khỏi thể xác vốn là điều không bình thường, là hậu quả của tình trạng sa ngã của loài người. Họ cũng tin rằng hội thánh bao gồm người sống và người đã khuất. Mọi người đang sống trên thiên đàng đều là thánh, dù tên tuổi của họ có được biết đến hay không. Tuy nhiên, có những vị thánh đặc biệt mà Chúa muốn chúng ta biết để noi theo. Khi một vị thánh được đa số trong giáo hội thừa nhận, một buổi lễ vinh danh được cử hành cho vị thánh này. Điều này không có nghĩa là phong thánh cho vị ấy, nhưng chỉ đơn giản là thừa nhận vị thánh và công bố cho toàn thể hội thánh được rõ. Các thánh được tôn kính nhưng không được sùng bái. Sự thờ phượng chỉ dành cho Thiên Chúa.<ref>Ware, pp. 255–256</ref>
 
Nổi bật giữa các thánh là [[Maria|Nữ Đồng trinh Maria]], ''Theotokos'' ("Mẹ Thiên Chúa"). Theotokos là người được Thiên Chúa tuyển chọn để trở nên Mẹ của Chúa Giê-su, Đấng là Chúa thật và là Người thật. Chính Thốngthống giáo tin rằng ngay từ lúc hoài thai, Đức Giê-su đã vừa là Thiên Chúa trọn vẹn vừa là Người trọn vẹn. Maria được gọi là ''Theotokos'' là sự xác quyết thần tính của Đấng được hoài thai trong thân xác của bà. Tín hữu Chính Thốngthống giáo tin rằng Maria là đồng trinh khi sinh hạ Chúa Giê-su, bà không bị đau đớn, cũng không bị tổn thương, và bà đồng trinh mãi mãi. Do vị trí đặc biệt của Maria trong công cuộc cứu rỗi, bà được tôn trọng hơn các thánh khác.<ref>Ware, pp. 257–258</ref>
Do sự thánh khiết trong cuộc đời các thánh, thân thể và vật dụng của họ được giáo hội xem là thánh tích. Người ta thuật lại nhiều phép lạ liên quan đến các thánh tích, như chữa bệnh và chữa lành các vết thương.
 
=== Chung Thời học ===
Chính Thốngthống giáo tin rằng khi chết linh hồn "tạm thời" tách rời khỏi thể xác, có thể sẽ ở một thời gian ngắn trên đất; sau khi chịu xét xử tạm thời sẽ được đưa đến một trong hai nơi chốn (trạng thái): trong lòng tổ phụ Abraham là nơi an lạc (''Paradise'') hoặc trong bóng tối của âm phủ (''Sheol'' hay ''Hades''). Linh hồn ở trong tình trạng này cho đến ngày Phán xét Cuối cùng, khi đó linh hồn và thể xác được hợp nhất.<ref>[http://www.pravoslavieto.com/docs/eng/Orthodox_Catechism_of_Philaret.htm ''The Longer Catechism of The Orthodox, Catholic, Eastern Church''], an Eastern Orthodox catechism from 1830, by [[Filaret, Metropolitan of Moscow|Metropolitan Philaret]]. Start with item 366 or 372.</ref> Theo quan điểm này, tình yêu và lời cầu nguyện của người công chính có thể mang lại lợi ích cho các linh hồn đang ở âm phủ cho đến khi họ ứng hầu trong ngày phán xét chung thẩm.<ref>[http://www.pravoslavieto.com/docs/eng/Orthodox_Catechism_of_Philaret.htm ''The Longer Catechism''], Item 377.</ref> Đó là lý do giáo hội dành những ngày đặc biệt để cầu nguyện cho người chết. Chính thống giáo không công nhận giáo lý về Luyện ngục (''Purgatory'') như Công giáo Rôma nhưng cả hai giáo hội đều nhấn mạnh tới sự cầu nguyện cho những người đã chết là những người trong âm phủ hoặc những người được cứu rỗi nhưng đang được thanh luyện trong Luyện ngục.
 
Dù được xem là một phần của Kinh Thánh, sách [[Sách Khải Huyền|Khải Huyền]], theo quan điểm Chính Thốngthống giáo, là sách thần bí. Không chỉ có rất ít luận giải về nội dung, sách Khải Huyền không bao giờ được đọc trong các lễ thờ phượng trong nhà thờ.
 
== Truyền thống ==
==== Kiến trúc Giáo đường ====
[[Tập tin:Temple Saint Sava.jpg|nhỏ|170px|[[Nhà thờ chính tòa thánh Sava]], [[Beograd|Belgrade]], [[Serbia]] là thánh đường Chính thống giáo lớn nhất thế giới]]
Kiến trúc giáo đường mang nhiều ý nghĩa biểu tượng; có lẽ hình ảnh lâu đời nhất và nổi bật nhất là khái niệm xem nhà thờ là biểu trưng cho con tàu [[Noah]] (từng cứu nhân loại khỏi họa diệt vong gây ra bởi cơn [[Đại Hồng thủy]]), nay hội thánh cứu con người khỏi bị nhấn chìm trong cơn lũ của nhiều loại cám dỗ. Vì vậy, hầu hết nhà thờ Chính Thốngthống giáo được xây dựng theo hình chữ nhật, hoặc hình thập tự giá với cánh ngang là chỗ dành cho ca đoàn.
 
==== Ảnh thánh ====
Thuật từ ''Icon'' (hay ''Ikon'') có nguồn gốc từ Hi văn ''eikona'', có nghĩa là hình ảnh. Chính Thốngthống giáo tin rằng những bức tranh thánh (icon) đầu tiên của Chúa Giêsu và Nữ Đồng trinh Maria được ghi lại bởi Thánh sử Luca, tác giả quyển Tin Mừng thứ ba.
 
Các bức tượng với thế đứng tự do (miêu tả ba chiều) hầu như không được chấp nhận trong Chính Thốngthống giáo, một phần do giáo hội chống lại tục lệ thờ lạy ngẫu tượng của người Hy Lạp ngoại giáo thời cổ đại. Trong khi đó, tranh ảnh thánh thường được dùng để trang trí vách nhà thờ.<ref>Ware p. 271</ref> Phần lớn nhà ở của tín hữu Chính Thốngthống giáo đều dành một chỗ cho gia đình cầu nguyện, thường là bức vách về hướng đông, ở đây người ta treo nhiều tranh thánh.
 
Tranh ảnh thường được trưng bày chung với nến hoặc đèn dầu. (Nến sáp ong và đèn dầu olive được chuộng hơn do tự nhiên và sạch sẽ). Ngoài công dụng chiếu sáng, nến và đèn dầu còn biểu trưng cho "Ánh Sáng Thế gian", tức là Chúa Giêsu.
== Huyền nhiệm ==
[[Tập tin:Epiphany Mass in the Monastery of Prophet Elias of Santorini.jpg|trái|nhỏ|280px|Lễ Hiển Linh tại tu viện ngôn sứ Elias, [[Santorini]], Hy Lạp]]
Theo thần học Chính Thốngthống giáo, mục tiêu của đời sống Kitô giáo là đạt đến theosis, sự hợp nhất huyền nhiệm giữa con người và Thiên Chúa, theo như cách diễn đạt của [[Athanasius thành Alexandria]] trong tác phẩm ''Incarnation'', "Ngài (Chúa Giê-su) là Thần Linh trở thành người để con người có thể trở thành thần linh (θεοποιηθῶμεν)".<ref>Athanasius of Alexandria, ''[http://www.ccel.org/ccel/schaff/npnf204.vii.ii.i.html On the Incarnation of the Word]'', [http://www.ccel.org/ccel/schaff/npnf204.vii.ii.liv.html §54].</ref><ref>"Và bởi sự vinh hiển nhân đức ấy, Ngài lại ban lời hứa rất quí rất lớn cho chúng ta, hầu cho nhờ đó anh em được lánh khỏi sự hư nát của thế gian bởi tư dục đến, mà trở nên người dự phần bản thể của Thiên Chúa." – 2Peter 1:4</ref><ref>"Ta đã nói: Các ngươi là thần, Hết thảy đều là con trai của Đấng Chí Cao." – Thi thiên 82:6</ref><ref>"Chúa Giê-su đáp rằng: Trong luật pháp của các ngươi há chẳng chép rằng: Ta đã phán: Các ngươi là thần, hay sao? Nếu luật pháp gọi những kẻ được lời Thiên Chúa phán đến là thần…" – Phúc âm Gioan 10: 34-35</ref>
 
Trong ngôn ngữ của Chính Thốngthống giáo, thuật từ "Sự Huyền nhiệm" được dùng để chỉ tiến trình hợp nhất với Thiên Chúa. Nước, dầu, bánh, rượu nho…. là các phương tiện được Chúa sử dụng để đem con dân Chúa đến gần ngài. Tiến trình này được vận hành như thế nào là một sự "huyền nhiệm" khó có thể diễn đạt trong ngôn ngữ loài người.
 
Những nghi thức tôn giáo mà Kitô giáo phương Tây gọi là Bí tích (''Sacraments''), phương Đông gọi là [[Huyền nhiệm Thiêng liêng]] (''Sacred Mysteries''). Trong khi [[Giáo hội Công giáo Rôma]] có bảy bí tích, và phần lớn cộng đồng [[Tin Lành|Kháng Cách]] công nhận hai bí tích ([[Thanh Tẩy|Báp têm]] và [[Tiệc Thánh]]), Chính Thốngthống giáo không hạn chế số lượng. Tuy nhiên, có bảy Huyền nhiệm lớn trong Chính Thốngthống giáo: Tiệc Thánh, Báp têm, Kiên tín, Xưng tội, Xức dầu thánh, Hôn phối, và Tấn phong.
 
== Chức sắc ==
[[Tập tin:Orthodox clergy.jpg|phải|nhỏ|200px|Các chức sắc Chính Thốngthống giáo: (Từ trái sang phải) Linh mục, hai Phó tế, Giám mục]]
Từ buổi sơ khai, giáo hội phát triển đến nhiều nơi, các nhà lãnh đạo hội thánh tại mỗi địa phương được gọi là ''episkopoi'' (người cai quản – [[Tiếng Hy Lạp|Hi văn]] ἐπίσκοπος), tức là Giám mục. Một chức vụ khác được thiết lập trong hội thánh là ''presbyter'' (trưởng lão – Hi văn πρεσβύτερος), sau trở thành "''prester''", rồi "''priest''" (thầy tư tế hoặc linh mục), và ''diakonos'' (διάκονος, người phục vụ), về sau thành deacon (chấp sự hoặc phó tế).
 
 
=== Các Công đồng ===
Chính Thốngthống giáo công nhận chín công đồng, được triệu tập từ năm 325 (Công đồng Nicaea) đến năm 1341 hoặc 1351 (Công đồng Constantinople thứ hai). Các công đồng này được triệu tập để giải quyết các tranh chấp thần học, đồng thời xác lập giáo lý và giáo luật cho Chính Thốngthống giáo.
=== Các Dân tộc Slav ===
[[Tập tin:Cross Procession in Novosibirsk 04.jpg|nhỏ|300px|Đoàn rước Thánh giá ở [[Novosibirsk]], Siberia]]
Trong thế kỷ thứ 9 và 10, Chính Thốngthống giáo phát triển về phía đông châu Âu, đến lãnh thổ Rus’ ở Kiev (một quốc gia thời Trung Cổ - tiền thân của [[Nga]], [[Ukraina]] và [[Belarus]]) nhờ những nỗ lực của các thánh [[Kyrillos và Methodios]]. Khi Rastislav, vua Moravia, yêu cầu Byzantium gởi giáo viên đến dạy người Moravia bằng ngôn ngữ của họ, Hoàng đế Byzantine, Michael III, chọn hai anh em Kyrillos và Methodios. Vì mẹ của họ là người [[Người Slav|Slav]] đến từ Thessaloniki, cả hai đều có thể sử dụng phương ngữ Slav để dịch [[Kinh Thánh]] và các sách kinh cầu nguyện. Khi các bản dịch của họ được những người sử dụng các phương ngữ khác sao chép, một ngôn ngữ văn chương gọi là [[tiếng Slav]] giáo hội cổ được hình thành. Được sai phái truyền giáo cho người Slav ở vùng Đại Moravia, Kyrillos và Methodios phải cạnh tranh với các giáo sĩ [[người Frank]] đến từ giáo phận Rôma. Năm 886, các môn đồ của họ bị trục xuất khỏi [[Morava|Moravia]].
 
Một số trong những môn đồ của Kyrillos và Methodios như Clement, Naum (thuộc dòng dõi quý tộc Bulgaria), và Angelarius, trở lại [[Bulgaria]]. Tại đây, họ được Tsar Boris I đón tiếp. Trong một thời gian ngắn, những người này dạy các chức sắc Bulgaria bảng [[mẫu tự Glagolitic]] và các văn bản Kinh Thánh. Năm 893, ngôn ngữ Slav được công nhận là ngôn ngữ chính thức của giáo hội và nhà nước. Những thành công tại Bulgaria giúp đẩy mạnh các hoạt động qui đạo của các dân tộc Slav, đáng kể nhất là dân tộc Rus’, thủy tổ của các sắc dân Belarus, Nga, và Ukraine.
 
Một trong những yếu tố dẫn đến sự thành công trong công cuộc truyền giáo cho các dân tộc Slav là các nhà truyền giáo sử dụng ngôn ngữ địa phương thay vì tiếng Latin, không giống cách các giáo sĩ Roma vẫn làm. Hiện nay, [[Chính Thốngthống giáo Nga|Giáo hội Chính Thống Nga]] là giáo hội lớn nhất trong cộng đồng Chính Thốngthống giáo.
 
=== Đại Ly giáo ===
Cuộc ly giáo được cho là dẫn tới sự chiếm đóng và cướp phá thành Constantinople trong cuộc thập tự chinh thứ tư vào năm [[1204]]. Sự kiện cướp phá Nhà thờ [[Hagia Sophia]] (''Thánh Trí'') và nỗ lực thiết lập [[Đế quốc La Tinh|Đế quốc Latin]] nhằm thay thế [[Đế quốc Đông La Mã|Đế quốc Byzantine]] vẫn là một mối hiềm khích giữa hai phía kéo dài cho đến ngày nay. Năm [[2004]], Giáo hoàng [[Giáo hoàng Gioan Phaolô II|John Paul II]] chính thức xin lỗi về việc tàn phá thành Constantinople năm 1204; và lời xin lỗi được Thượng phụ Bartholomew thành Constantinople chấp nhận. Tuy nhiên, nhiều đồ vật bị đánh cắp như thánh tích, tài sản và nhiều món đồ khác, vẫn chưa được hoàn trả, nhưng còn lưu giữ ở phương Tây, nhất là ở [[Venezia|Venice]].
 
Năm [[1272]] tới năm [[1274]] đã có những nỗ lực hàn gắn phương Đông và phương Tây tại Công đồng Lyon II, cũng như năm [[1439]] tại Công đồng Florence. Nhưng cả hai công đồng đều bị cộng đồng Chính Thốngthống giáo bác bỏ. Năm 1964, Giáo hoàng Phaolô VI và Thượng phụ Đại kết Athenagoras I đã có cuộc gặp ở Jerusalem và vào năm sau đó, vạ tuyệt thông năm 1054 đã được hai giáo hội xóa bỏ.
 
== Giáo hội Ngày nay ==
[[Tập tin:Eastern-orthodoxy-world-by-country.png|phải|nhỏ|350px|Phân bổ dân số Chính Thốngthống giáo theo quốc gia
{{legend|#CC7662|Đa số}}
{{legend|#E8AA30|Thiểu số (trên 10%)}}]]
Mặc dù tính độc lập và quyền tự trị của các giáo phận là đặc điểm của cấu trúc tổ chức và văn hóa bản địa của Chính Thốngthống giáo, hầu hết các giáo phận này đều hiệp thông với nhau. Gần đây, các mối quan hệ đã được phục hồi giữa Giáo hội Chính Thống ngoài Nga và Thượng phụ Moscow, hai cộng đồng này của Chính Thốngthống giáo Nga đã tách rời khỏi nhau từ thập niên 1920, do các lý do chính trị trong thời [[Xô viết|Soviet]].
 
Những bất đồng ngấm ngầm vẫn tồn tại trong vòng các giáo hội cấp quốc gia, một phần là do sự khác biệt trong lập trường đối với [[Phong trào Đại Kết|Phong trào Đại kết]]. Trong khi [[Thượng phụ thành Constantinople]] và các Giám mục ở [[Bắc Mỹ]] tập hợp xung quanh Hội đồng Giám mục Chính Thốngthống giáo [[châu Mỹ]], thì các Giám mục [[România]] mở các cuộc đàm phán với [[Giáo hội Công giáo Rôma]]. Mặt khác, nhiều người, trong đó có các tu sĩ [[Núi Athos]], các [[Giám mục]] [[Nga]], [[Serbia]], cùng các chức sắc [[Hy Lạp|Hi Lạp]] và [[Bulgaria]] xem phong trào đại kết là một sự thỏa hiệp về [[thần học]]. Thay vì vậy, theo họ, Chính Thốngthống giáo nên rao giảng chân lý trong tình yêu thương hầu có thể lôi kéo các tín hữu thuộc các giáo phái khác nhau đến với đức tin Chính Thốngthống giáo.
 
Hiện nay, Chính Thốngthống giáo Đông phương có khoảng 350 triệu tín hữu.
 
== Chú thích ==
* ''The Orthodox Church; 455 Questions and Answers''. Harakas, Stanley H. Light and Life Publishing Company, 1988. (ISBN 0-937032-56-5)
== Liên kết ngoài ==
{{wikisourcecat|Eastern Orthodox Church|Chính Thốngthống giáo Đông phương}}
{{Commonscat|Eastern Orthodoxy}}
* [http://www.osbpress.com The Orthodox Study Bible]
{{Các chủ đề|Cơ Đốc giáo}}
 
[[Thể loại:Chính Thốngthống giáo Đông phương| ]]
[[Thể loại:Kitô giáo Đông phương]]
[[Thể loại:Đế quốc Byzantine]]
2.053

lần sửa đổi