Khác biệt giữa các bản “Kim Ai Tông”

clean up, replaced: → (36) using AWB
n (→‎Thân thế và cuộc sống ban đầu: clean up, replaced: phụ thân → cha, Mẫu thân → Mẹ using AWB)
(clean up, replaced: → (36) using AWB)
{{Thông tin nhân vật hoàng gia
| tên = Kim Ai Tông (金哀宗)
| tước vị = [[Hoàng đế]] [[Tên gọi Trung Quốc|Trung Hoa]]
| thêm = china
| hình =
| cỡ hình =
| ghi chú hình =
| chức vị = Hoàng đế [[nhà Kim]]
| tại vị = [[1224]] – [[1234]]
| tên đầy đủ = Tên phiên sang tiếng Trung: Hoàn Nhan Ninh Giáp Tốc (完顏寧甲速)<br>Tên chữ Hán: Hoàn Nhan Thủ Lễ (完颜守禮), đổi thành Hoàn Nhan Thủ Tự<ref>Đổi năm 1216 khi được tấn phong hoàng thái tử.</ref> (完颜守緒)
| kiểu tên đầy đủ = Tên thật
| miếu hiệu = Ai Tông (哀宗), Nghĩa Tông (義宗)<ref>Theo [[Đại Kim quốc chí]].</ref>
| thông tin niên hiệu = ẩn
| niên hiệu = Chính Đại: 1/1224-1232<br>Khai Hưng: 1232<br>Thiên Hưng: 1232-1234
| thời gian của niên hiệu =
| tước hiệu = [[Hoàng đế]]
| thụy hiệu = Ai Tông <ref>[http://zh.wikisource.org/wiki/%E9%87%91%E5%8F%B2/%E5%8D%B718 Kim sử], Quyển 18: Bản kỷ - Ai Tông hạ.</ref>(哀宗)<br>Trang hoàng đế<ref name="Đại Kim quốc chí, quyển 26">Đại Kim quốc chí, quyển 26</ref> (莊皇帝)<br>Mẫn hoàng đế<ref name="Đại Kim quốc chí, quyển 26"/>(閔皇帝)
| hoàng tộc = [[nhà Kim]]
| vợ = Xem văn bản.
| thông tin con cái = ẩn
| con cái = Xem văn bản.
| kiểu hoàng tộc = Triều đại
'''Kim Ai Tông ''' ([[chữ Hán]]: 金哀宗, [[bính âm]]: ''Jin Aizong'', [[25 tháng 9]] năm [[1198]] - [[9 tháng 2]] năm [[1234]]), tên Hán là '''Hoàn Nhan Thủ Lễ''' (完顏守禮) hay '''Hoàn Nhan Thủ Tự''' (完顏守緒), [[tên Nữ Chân]] là '''Ninh Giáp Tốc''' (寧甲速), là vị [[hoàng đế]] thứ 9 của triều đại [[nhà Kim]] trong [[lịch sử Trung Quốc]]. Ông là con trai thứ ba của [[Kim Tuyên Tông]] Hoàn Nhan Tuân, mẹ là Vương thị, chào đời năm [[1198]]. Khi Tuyên Tông đăng cơ ([[1213]]), Thủ Lễ được nhận tước vị Toại vương. Do thái tử [[Hoàn Nhan Thủ Trung]] và thái tôn [[Hoàn Nhan Khanh]] mất sớm nên vào tháng giêng năm [[1216]], Hoàn Nhan Thủ Lễ được Tuyên Tông lập làm thái tử, đổi tên là Hoàn Nhan Thủ Tự. Tháng giêng ÂL năm [[1224]], Tuyên Tông qua đời, Hoàn Nhan Thủ Tự lên nối ngôi, tức là Kim Ai Tông.
 
Kim Ai Tông là một vị vua có lòng chấn hưng đất nước nhưng tiếc là không gặp thời. Lúc ông lên ngôi, nước Kim đã ở trong tình thế ngặt nghèo: một mặt là quân [[Mông Cổ]] liên tục xâm lấn, phần đất phía bắc sông [[Hoàng Hà]] gần như đã bị cướp sạch, người Mông đã bắt đầu đưa quân vượt sông tràn vào [[Trung Nguyên]]. Mặt khác trên mặt trận phía nam, triều Kim cũng thất bại trong các cuộc chiến tranh với [[Nam Tống]], mất đất đai và khoản tiền triều cống, phía tây lại bị [[Tây Hạ]] liên tục quấy nhiễu, nước Kim đã ở trong tình thế sắp diệt vong. Để cứu vãn tình hình, Ai Tông chủ trương khuyến khích, phục hưng nông nghiệp, vỗ về dân chúng, tiến hành cải cách nội bộ, bỏ gian dùng hiền, bên ngoài đình chỉ chiến tranh với triều Tống, thiết lập lại quan hệ hữu hảo với [[Tây Hạ]], bổ nhiệm nhiều tướng giỏi cho mặt trận chống Mông, ban đầu đã có những chuyển biến tốt đẹp, triều Kim dần thu lại không ít đất đai bị mất.
 
Nhưng mặc dù đã rất cố gắng nhưng Ai Tông cũng không thể cứu vãn một triều đại sắp tàn vong. Năm [[1227]], [[Mông Cổ]] tiêu diệt được Tây Hạ và dồn thêm sức để tận diệt triều Kim. Năm [[1232]], sau thất bại trong trận Tam Phong Sơn, Ai Tông phải bỏ cả Biện Kinh, ban đầu chạy về phủ Quy Đức<ref>Thương Khâu, [[Hà Nam]], [[Trung Quốc]] hiện nay</ref>, sau cùng lại chạy về Thái châu<ref>Nhữ Nam, [[Hà Nam]], [[Trung Quốc]] hiện nay</ref>, vùng đất giáp với nước Tống. Tháng 8 năm [[1233]], [[Mông Cổ]] liên quân với Tống tấn công và chiếm được Đường châu<ref>Đường Hà, [[Hà Nam]], [[Trung Quốc]] hiện nay</ref>, Ai Tông cố gắng tìm cách giảng hòa và lập liên minh với Tống nhưng không được. Đầu năm [[1234]], liên quân Mông - Tống tấn công vào Thái châu; Ai Tông trước tình thế nguy ngập đã nhường ngôi cho nguyên soái [[Hoàn Nhan Thừa Lân]] để hi vọng duy trì nước Kim. Sau đó liên quân tấn công vào thành, Ai Tông thắt cổ tuẫn quốc. Cùng hôm đó, Mạt Đế [[Hoàn Nhan Thừa Lân]] tử trận, nước Kim diệt vong.
 
== Thân thế và cuộc sống ban đầu ==
 
Kim Ai Tông chào đời ngày [[25 tháng 9]] năm [[1198]] (tức 23 tháng 8 ÂL năm Thừa An thứ ba) đời thúc phụ [[Kim Chương Tông]] Hoàn Nhan Cảnh ở Dực để<ref name="KS17">''[[Kim sử]]'', [[:zh:s:金史/卷17|quyển 17]].</ref>, vì khi đó cha ông là [[Kim Tuyên Tông]] còn là Dực vương<ref>Tuyên Tông là anh của Chương Tông, do một người thiếp của thái tử [[Hoàn Nhan Doãn Cung]] sinh ra. Nhưng theo tục lệ người [[Nữ Chân]] chỉ lập con trưởng của người vợ cả nên Tuyên Tông không được chọn nối ngôi</ref>. Mẹ của ông là Vương thị<ref>Được ban họ [[Nữ Chân]] là Ôn Đôn thị</ref>, người Hán về sau được truy phong Minh Huệ hoàng hậu. Vương thị là con gái người anh của Nhân Thánh hoàng hậu, vợ cả của Tuyên Tông. Vì Nhân Thánh không có con nên nuôi những người con do những người vợ khác của Tuyên Tông sinh ra làm con mình, trong đó có Thủ Lễ.
 
Giữa những năm Thái Hòa đời [[Kim Chương Tông]] ([[1201]] - [[1208]]), Hoàn Nhan Thủ Lễ được phong chức Kim tử Quang lộc đại phu<ref name="KS17" />. Nói thêm về tình hình nước Kim lúc này: Vào năm [[1208]], [[Kim Chương Tông]] qua đời, không con nối dõi nên hoàng thúc Vệ Thiệu vương [[Hoàn Nhan Vĩnh Tế]] được lập nối ngôi<ref>''[[Kim sử]]'', [[:zh:s:金史/卷12|quyển 12]]</ref><ref>''[[Tục tư trị thông giám]]'', [[:zh:s::續資治通鑑/卷158|quyển 158]]</ref>. Bấy giờ trong cung có hai phi tần là Giả thị và Phạm thị đã có mang, Chương Tông có di chiếu nếu sinh con trai thì lập làm thái tử. Vĩnh Tế lo sợ cho ngôi báu của mình, nên cùng [[Bộc Tán Đoan]] tính kế. [[Bộc Tán Đoan]] giả truyền chiếu chỉ của tiên đế, nói Giả thị sinh vào tháng 11 mà nay đã quá hạn; Phạm thị phải sinh vào tháng giêng mà nay ngự y chuẩn đoán không thấy thai, hai người bị ép làm ni cô. Nguyên phi Lý thị vốn có thâm tình với Giả thị biết được sự việc có điều mờ ám nên cũng bị Vĩnh Tế bức chết. Trong ngoài đều hoài nghi, lòng dân không yên. Sau đó lại có chuyện [[Nguyên Thái Tổ]] [[Thiết Mộc Chân]] dẫn quân xâm lược nước Kim, nước Kim nhanh chóng thất thế trong cuộc giao tranh. Giữa lúc đó trong cung lại có chính biến. Năm [[1213]] tướng [[Hồ Sa Hổ]] giết chết vua Vĩnh Tế, lập Hoàn Nhan Tuân lên ngôi, tức [[Kim Tuyên Tông]]<ref>''[[Kim sử]]'', [[:zh:s:金史/卷13|quyển 13]]</ref>. Năm [[1214]], trước sự tấn công của người Mông, Tuyên Tông quyết định chạy về phía nam sông Hoàng Hà, định đô ở Biện Kinh. Năm [[1215]], Trung Đô của nước Kim (tức Yên Kinh) bị quân Mông chiếm được, nước Kim ngày một suy yếu, không thể chống đỡ nổi quân Mông.
=== Trị vì thời kì đầu ===
 
Không lâu sau khi lên ngôi, Ai Tông hạ chiếu đại xá trong nước và bắt tay vào công cuộc phục hưng. Vào đầu năm ÂL [[1224]], Bí thư giám, Lại bộ thị lang [[Bồ Sát Hợp Trụ]] cùng Tả tư viện ngoại lang Nê Bàng Cổ Hoa Sơn (những người nắm nhiều quyền lực và làm nhiều việc ác dưới thời Tuyên Tông) bị Ai Tông nghi ngờ và cách chức lưu đày đến Hằng và Trinh châu. Việc hai gian thần bị biếm chức khiến sĩ đại phu đều phấn khích. Mấy hôm sau, Ai Tông bàn định với quần thần phương sách khôi phục phủ Hà Trung vừa bị mất vào tay [[Mông Cổ]]; các đại thần [[Triệu Bỉnh Văn]], [[Dương Vân Dực]] cho rằng tình hình [[Thiểm Tây]] chưa yên nên sự việc bị đình chỉ. Tôn hoàng hậu Ôn Đôn thị và Nguyên phi Ôn Đôn thị đều là hoàng thái hậu, trong đó hoàng hậu Ôn Đôn thị sống ở cung Nhân Thánh còn mẹ đẻ của vua Kim sống ở cung Từ Thánh<ref name="TTTTG162" />. Ai Tông lại dùng [[Lý Hề]] làm Thái thường khanh, quyền Tham tri chính sự và bãi chức của hoàng huynh Anh vương Thủ Thuần, đổi làm Kinh vương, đưa đến phủ Mục Thân<ref name=KS17 />.
 
Thừa tướng nước Kim [[Cao Nhữ Lệ]] khi đó tuổi đã có nhưng vẫn ở ngôi vị không từ gian, gián quan nhiều lần đàn hặc là tham quyền cố vị và xin bãi chức để tránh lệ xấu về sau, Ai Tông không theo, đến tháng 3 ÂL năm đó thì [[Cao Nhữ Lệ]] qua đời. Lại dùng [[Trương Hành Tín]] làm Tả thừa, [[Hoàn Nhan Hợp Đạt]] có công chinh chiến được phong Tham tri chính sự, điều hành thượng thư tỉnh ở Kinh Triệu. Sau đó có người tố cáo Kinh vương Thủ Thuần mưu phản, Ai Tông bắt Thủ Thuần hạ ngục. Từ Thánh thái hậu biết việc, bèn dẫn chuyện [[Kim Chương Tông]] trước kia giết oan các hoàng thúc để can ngăn, vì thế Thủ Thuần được tha<ref name="TTTTG162" />.
 
Tháng 5 ÂL, dùng Xu mật phó sứ [[Hoàn Nhan Tái Bất]] làm Bình chương chính sự, Thạch Trản Úy Hãn làm thượng thư hữu thừa, [[Lý Hề]] kiêm quyền tham chính. Lúc trước kia quần thần liên danh xin lập hậu, Ai Tông lấy việc tang sự mà từ chối. Tháng 6 ÂL năm đó, mới sắc phong phi Đồ Đan thị làm hoàng hậu. Đồng thời ông cho chấm dứt cuộc chiến tranh kéo dài 6 năm với triều Tống vốn gặp nhiều bất lợi, sai sứ đến phía nam bàn việc thông hảo, bỏ việc nam xâm.
 
=== Kháng cự Mông Cổ ===
Tháng 3 ÂL năm [[1226]], do Thiểm Tây có hạn hán, Bình chương chính sự [[Tư Đỉnh]] xin được từ chức, Ai Tông không theo và hạ lệnh cho Thượng thư tỉnh giảm bớt hình phạt. Tháng 7 ÂL năm này, Tư Đỉnh hoăng<ref name=KS17 />. Cuối năm này, triều Kim dùng [[Lý Hề]] giữ chức Tham tri chính sự. Về phần triều Tống lúc này tướng [[Lý Toàn]] làm phản, sai người liên hệ với Kim, hứa dâng Vu Thai, vua Kim sai sứ phong Toàn làm Hoài Nam vương, nhưng Toàn giả vờ không nhận và từ đó chiếm cứ lưu vực sông Hoài tự trị; tuy nhiên chỉ ít lâu thì bị triều Tống tiêu diệt.
 
Lúc này Hạ chủ phụ [[Lý Tuân Húc]] đã tồ, Nam Bình vương [[Lý Hiện]] làm hoàng đế nước Hạ, triều Kim cử sứ sang dự tang. Trong lúc này Kim đình bàn việc nghị hòa với Tống cho yên mặt nam, nhưng lại gặp các tướng Tống là [[Vương Nghĩa Thâm]], [[Hạ Toàn]], [[Trương Huệ]], [[Phạm Thành Tiến]] ở Sở châu dâng thành đầu hàng, Ai Tông phong luôn bốn người làm quận vương, cải Sở châu thành Bình Hoài phủ, từ đó Kim - Tống lại xảy ra xung đột. Trong khi đó Mông chủ [[Thiết Mộc Chân]], lấy cớ người Hạ bội ước, đem quân tấn công [[Tây Hạ]], các tướng [[Hoàn Nhan Ngoa Khả]], [[Ngột Thạch Liệt Nha Ngô Tháp]] được triệu về Biện Kinh bàn việc xuất binh cứu Hạ, nhưng lúc này triều Kim đến bản thân cũng khó bảo toàn thì cũng chẳng thể giúp được ai. Chiến sự ở Lưỡng Hà vẫn thất lợi, từng vùng đất của Kim rơi vào tay người Mông. Ai Tông bắt đầu bàn tới việc nghị hòa với Mông Cổ, nhưng có Đồng phán phủ Mục Thân Tản Cáp phản đối, những đại thần khác tán thành. Tháng 6 ÂL năm [[1227]], ông quyết định cử [[Hoàn Nhan Hợp Chu]] làm Nghị hòa sứ sang Mông<ref name="TTTTG164">''[[Tục tư trị thông giám]]'', [[:zh:s::續資治通鑑/卷164|quyển 164]].</ref>.
 
Lúc đó quân Mông Cổ đã tiến rất gần kinh đô nước Hạ. [[Thiết Mộc Chân]] bỗng lâm bệnh nặng, sai sứ trách cứ và đòi Hạ chủ gửi con tin để giảng hòa, Hạ chủ không theo. Mông chủ tức giận, dù ốm vẫn gượng dậy đốc chiến, người Hạ đại bại. Hạ chủ thế cùng lực kiệt phải dâng đất xin hàng. Triều Hạ từ Cảnh Tông [[Lý Nguyên Hạo]] đến Hậu chủ [[Lý Hiện]] là hơn 200 năm, cùng với Tống - Kim (trước đó là Liêu) ba nước hình thành thế chân vạc, kềm kẹp lẫn nhau, đến đó thì bị diệt vong. Quân Mông Cổ bắt vô số thiếu nữ và vàng bạc châu báu đem về nước. Nhưng không may Mông chủ [[Thiết Mộc Chân]] vốn đã mang bệnh, đến tháng 8 năm này thì bệnh tình trở nặng rồi qua đời ở Lục Bàn Sơn, thọ 66 tuổi, truy miếu hiệu là Thái Tổ. Trước lúc lâm chung Thái Tổ nói với tả, hữu
[[Thiết Mộc Chân]] chết đi, con trai thứ tư là [[Đà Lôi]] làm giám quốc, quân Mông lại theo hướng Phượng Tường tiến vào Kinh Triệu, cả Quan Trung trở nên chấn động. Triều Kim cho đốc thúc dân chúng Thiểm Tây chuẩn bị chống giặc, đốc thúc tiền thuế và quân lương, nhưng lại có đình nghị rằng quân Mông chưa tới nơi nên sự việc không được tiến hành khẩn trương.
 
Tháng 4 ÂL năm [[1228]], Hữu thừa Sư An Thạch dâng sớ xin giết ba kẻ gian nịnh bên cạnh Ai Tông khiến Ông tức giận, bỏ lên triều bốn ngày và còn trách cứ An Thạch. An Thạch âu sầu sinh bệnh mà chết, Ai Tông tỏ ra hối hận và thương tiếc. Vào mùa hạ năm [[1231]], thái hậu Ôn Đôn thị qua đời, thụy là Minh Huệ hoàng hậu.
 
Năm [[1229]], người Mông tôn con thứ ba của Thái Tổ [[Thiết Mộc Chân]] là [[Oa Khoát Đài]] lên làm Đại Hãn<ref name="TTTTG164" />. Cuối năm này Ai Tông sai sứ sang Mông nghị hòa. Mông chủ [[Oa Khoát Đài]] không cho và còn quyết định đem quân phạt Kim. Tháng 10 ÂL năm này, quân Mông tấn công Khánh Dương của Kim. Kim sai người đến dâng lễ vật xin bãi binh nghị hòa, Mông chủ không cho; Ai Tông phải cử Y Lạt Bố Cáp cầm quân giải vây Khánh Dương nhưng thua trận, các thành lũy ở phía nam Hoàng Hà của Kim như Kinh Triệu, Vệ châu bị mất. Năm [[1230]], [[Oa Khoát Đài]] cùng em là [[Đà Lôi]] đích thân đưa quân nam hạ, cả Quan Trung chấn động. Quân Mông tiến tới Thiểm Tây, đóng hơn 60 trại dưới chân núi, uy hiếp đến Phượng Tường, Thiểm Tây bị uy hiếp nặng nề. Nhưng ở mặt trận Đồng Quan, Lam Quan thì quân Mông lại gặp thất lợi, nên sai sứ đến Tống bàn việc hợp binh đánh Kim, nhưng do triều Tống ban đầu cự tuyệt nên Mông - Tống xảy ra xung đột ít lâu, quân Mông tiến vào đất Tống. Nhưng không được bao lâu thì Mông Chủ triệu [[Đà Lôi]] về đánh Nhiêu Phong quan. Cuối năm [[1231]], quân Mông Cổ tấn công Hà Trung, đến tháng 8 ÂL thì thành bị phá. Mông chủ đánh Nhiêu Phong quan tiến thẳng Biện Kinh<ref name="TTTTG165">''[[Tục tư trị thông giám]]'', [[:zh:s::續資治通鑑/卷165|quyển 165]].</ref>. Ai Tông thất kinh, triệu chư tướng vào triều bàn việc phòng thủ, rồi chia quân đóng đồn ở Tương, Đặng: [[Hoàn Nhan Hợp Đạt]] và [[Y Lý Bố Cáp]] đóng ở Đặng châu, [[Hoàn Nhan Di]], [[Dương Ốc Diễn]], [[Trần Hòa Thượng]] dẫn quân hội hợp ở Thuận Dương. Quân Mông Cổ nhanh chóng vượt Hán Giang, quân của [[Hoàn Nhan Hợp Đạt]] bị thua trận, nhưng may thay có bộ tướng [[Bồ Sát Đình Trụ]] liều chết chống địch nên quân Mông phải rút lui<ref name="TTTTG165" />. Nhưng Hợp Đạt sau đó lại dẫn quân lui về Đặng châu, quân Mông đuổi theo, Hợp Đạt và Bố Cáp bị quân Mông đánh bại nhưng giấu việc này đi nói bại thành thắng. Quần thần nước Kim trở nên phấn chấn, mở tiệc tượu chúc mừng.
 
=== Chiến sự bất lợi ===
 
Đầu năm [[1232]], Ông cải niên hiệu là Khai Hưng, đến tháng 4 cải nguyên Thiên Hưng. Không bao lâu sau, quân [[Mông Cổ]] lại từ Đường châu tiến đến Biện Kinh. Nguyên soái nước Kim [[Hoàn Nhan Lưỡng Lạc]] thua trận Tương Thành, chạy thẳng về Biện. Ai Tông hạ lệnh quần thần đến bàn bạc rồi quyết định tuyển mộ đinh tráng bảo vệ kinh thành, lại sai Qua Nhĩ Giai Tát Cáp dẫn 3 vạn quan tuần tra vùng phía nam Hoàng Hà... Quân Mông Cổ từ huyện Hà Thanh vượt sông, tiến đến Trịnh châu. Mông chủ sai [[Tốc Bất Đài]] tiến quân vào Biện<ref name="TTTTG166">''[[Tục tư trị thông giám]]'', [[:zh:s:續資治通鑑/卷166|quyển 166]].</ref>. Ai Tông cử [[Hoàn Nhan Hợp Đạt]], [[Y Lý Bố Cáp]] từ Đặng châu đưa quân cứu việc kinh thành, nhưng lại gặp [[Đà Lôi]] cùng 3000 quân kị đánh từ phía sau, lại có thêm mưa to tuyết lớn khiến cánh quân Đặng châu không thể tiến nhanh về kinh thành. Đến lúc tuyết tan, Hợp Đạt mới cho quân tiến nhanh hơn. Nhưng khi quân cứu viện vừa đến núi Tam Phong thì quân Mông Cổ từ đâu ùa tới chặn đánh, bao vây quân Kim suốt ba ngày, quân Kim đại bại. Các tướng Kim [[Dương Ốc Diễn]], [[Phàn Trạch]], [[Trương Huệ]] tử trận, [[Hoàn Nhan Hợp Đạt]] bỏ chạy về Quân châu<ref name="TTTTG166" />. Mông chủ hạ lệnh đánh sang cả Quân châu và phá thành, giết chết [[Hoàn Nhan Hợp Đạt]], [[Y Lý Bố Cáp]] cũng bị bắt giết trên đường bỏ trốn về Biện, nước Kim tướng giỏi đã mất gần hết, từ đó không còn có thể vực dậy được nữa.
 
Mông Cổ quân tiến đánh các câu Quắc, Tung, Nhữ, Thiểm, Lạc, Hứa, Trịnh, Trần, Bạc, Dĩnh, Thọ, Tuy, Vĩnh bắt dân chúng dời lên phía bắc, nhiều người bị chết ở dọc đường. Lại đánh sang cả Đồng Quan và Thiểm châu, giết tướng [[Hoàn Nhan Ô Đăng]], rồi lấy Tuy châu, bao vây phủ Quy Đức. Ai Tông thấy thế nguy cấp, có lần túng quẫn đến nỗi muốn tự vẫn, may mà tả hữu cứu kịp. Ông theo kiến nghị từ quần thần, cho triệu tập 20 vạn dân quân bảo vệ Biện Kinh.
 
Đến tháng 3 ÂL, quân Mông lại kéo pháo tới bao vây Lạc Dương<ref name="TTTTG166" />. Tướng giữ Lạc Dương Triệt Hợp mắc bệnh ung thư qua đời, người trong thành đưa Cường Thân làm chủ huy, kiên trì cố thủ, người Mông đánh suốt ba tháng không được. Lúc này Mông Cổ chủ muốn về nước, lệnh [[Hoàn Nhan Hợp Đạt]] đánh Biện gây sức ép và buộc Ai Tông phải nhanh chóng hàng phục. Ông phong cho con trai Kinh vương Thủ Thuần là [[Hoàn Nhan Ngoa Khả]] là Tào vương cùng Thượng thư Tả thừa Lý Hề, Gián nghị đại phu [[Bùi Mãn A Hổ Đái]], Thái phủ giám quốc Thế Vinh cùng đến Trịnh châu dâng thư xưng cháu, nộp lễ vật nghị hòa, lấy [[Dương Tháo]] làm Quyèn Tham tri chính sự. Nhưng [[Tốc Bất Đài]] không đồng tình, cho giữ Tào vương lại, thả Lý Hề về và ra sức đánh Biện, Ai Tông phải ra khỏi Thừa Thiên Môn đến cửa tây gặp tướng sĩ, Thiên hộ Lưu Thọ nói lời không cung kính, Ai Tông có chiếu bỏ qua không hỏi đến. Mấy hôm sau lại đến cửa đông gặp tướng sĩ, ban rượu thịt và thuốc cho những người ra trận bị thương, lại xuất tiền trong kho thưởng cho tướng sĩ, giảm các cuộc vui, thả bớt cung nữ. [[Tốc Bất Đài]] ra sức đánh Biện suốt 16 ngày, nhưng Biện Kinh thành lũy kiên cố khó phá, cuối cùng Bất Đài cũng phải lui quân. Kim sai [[Dương Cư Chân]] đem lễ vật là rượu thịt, châu báu ra khao thưởng quân Mông, [[Tốc Bất Đài]] mới cho lui về phía bắc.
 
=== Vứt Biện Kinh đào tẩu ===
 
Trước kia Bình chương chính sự Bạch Tán bị tướng sĩ oán ghét, đến khi người Mông rút đi thì quân sĩ muốn giết ông ta, Ai Tông phải hạ lệnh do 200 thân quân đến bảo vệ. Vào tháng 6 ÂL, các tướng ở Từ châu là [[Vương Hựu]], [[Trương Hưng]]... tác loạn đuổi Hành tỉnh Đồ Đan Y Đổ đến Túc châu. Tướng Mông Quốc An Dụng thừa cơ vào Từ châu, giết bọn Vương Hựu và nắm giữ Từ châu. Sau đó Mông chủ sai [[Đường Khánh]] đến Kim thông hảo, Ông thác bệnh không gặp. Khi đến Kim đình, Đường Khánh tỏ ra vô lễ, xúc phạm Ai Tông khiến quần thần phẫn nộ, đầu mục Phi Hổ quân [[Thân Phúc]] giết chết [[Đường Khánh]], Ai Tông hạ chiếu không hỏi tội, vì thế người Mông tức giận, hòa nghị cũng tan tành<ref name="TTTTG166" />. Tướng Mông [[Quốc An Dụng]] lúc này bị Mông chủ nghi kị, chạy sang hàng Kim, được ban họ Hoàn Nhan, đổi tên Dụng An, phong Cổn vương. [[Oa Khoát Đài]] tức giận quyết định đánh tiếp xuống phía nam, nhanh chóng đến sát Biện Kinh. Lại sai sứ sang Tống đề nghị kết minh, hứa sau khi diệt Kim sẽ trả Hà Nam lại cho Trung Quốc. [[Tống Lý Tông]] cử [[Châu Thân Chi]] đến Kim, bằng lòng ra quân. Lúc này Biện Kinh đã nguy cấp, nguyên soái [[Nhiệm Thủ Chân]] đem quân cứu viện kinh thành và bị giết chết. Quân lương ít ỏi, sĩ khí sút kém, Biện Kinh tỏ ra khó giữ. Ai Tông thấy thế nên nghe kế của nội thị Bạch Hoa quyết định dời đô tránh giặc. Bèn hạ lệnh để Kinh vương Thủ Thuần trấn giữ kinh sư và tìm nơi để chạy. Quần thần cho rằng phủ Quy Đức bốn phía là sông nước, địa thế hiểm trở có thể ngăn địch nên đề nghị dời đô sang đó. Cuối cùng thì Kim chủ, lệnh Hữu thừa tướng [[Bạch Triệt]], Tả thừa [[Lý Hề]] dẫn quân hộ giá, để Tham tri chính sự [[Hoàn Nhan Nô Thân]], Xu mật phó sứ [[Tập Niết A Bất]] trấn giữ Biện Kinh. Đầu mùa đông năm [[1232]], Ai Tông từ biệt thái hậu, hoàng hậu, phi tần rồi rời khỏi Biện Kinh<ref name="TTTTG166" />. Nhưng vừa ra ngoài thành thì lại không biết nên chạy về đâu, bất giác khóc rống lên. Quần thần bàn rằng nên đi về Hà Sóc, vượt sông từ Bồ Thành.
 
Đầu năm [[1233]], thống soái Quy Đức [[Thạch Trản Nữ Lỗ Hoan]] đưa lương đến Bồ Thành và mời Ai Tông đến phủ Quy Đức, nhưng giữa đường đi thì giông tố nổi lên, sóng nước dữ dội. Lúc Ai Tông qua được bờ bắc, tướng Mông là Hồi Cổcho quân đuổi theo truy kích, tướng Kim Hạ Đức Hỉ liều chết bảo vệ rồi tử trận ở bờ nam, hơn ngàn quân Kim tử vong. Mông chủ cử Bạch Triệt đánh Vệ châu bị tướng Mông [[Sử Thiên Trạch]] đánh bại, Bạch Triệt bỏ chạy về đông, bị Ông xử tội, nhốt vào ngục. Thấy quân Mông tới gần Biện, Ai Tông cảm thấy lo lắng, nên sai người về Biện nghênh đón hoàng hậu, thái hậu, phi tần đến Quy Đức, nhưng khi họ vừa tới Trần Lưu thì thấy quân Mông đang ở đó nên phải chạy về Biện. Rủi thay ở phía tây thành, nguyên soái [[Thôi Lập]] làm phản, cùng [[Hàn Đạc]] và [[Dược An Quốc]] tác loạn, giết chết hai tể tướng [[Hoàn Nhan Nô Thân]], [[Tập Niết A Bất]] và hơn 10 người khác. Lại giả lệnh thái hậu, triệu con cố chủ Vĩnh Tế là [[Hoàn Nhan Tòng Khác]] làm giám quốc, phong tước Lương vương; còn mình tự phong làm thái sư, Thượng thư lệnh.
 
Quy Đức lúc này cũng bị quân Mông áp sát. Nguyên soái [[Bồ Sát Quan Nô]] cùng [[Hoàn Nhan Dụng An]] muốn đưa Ai Tông về Hải châu, nhưng Ai Tông và [[Thạch Trản Nữ Lỗ Hoan]] không chấp nhận. Ai Tông sai người giám sát động tĩnh của họ, Quan Nô biết được rất tức giận, liền cho quân vào cung, giết chết Nữ Lỗ Hoan, [[Lý Hề]] và hơn 300 người, cấm cố Ai Tông ở Chiếu Bích đường. Ai Tông cùng kế phải phong hắn làm Quyền Tham tri chính sự, Tả phó nguyên soái.
=== Nội loạn và nam thiên ===
 
Ai Tông bị [[Bồ Sát Quan Nô]] cấm cố lấy làm phẫn nộ, liền liên hệ với nội thị [[Tống Khuê]], Phụng ngự nữ [[Hề Liệt Hoàn Xuất]], [[Ô Cổ Tôn Ái Thực]] cùng nhau diệt tặc và chuyển đến Thái châu. Lúc đó Thái, Trần, Tức, Dĩnh đẳng châu tiện nghi tổng soái [[Ô Khố Lý Hạo]] vận chuyển 400 đấu mì đến Quy Đức cũng khuyên Ai Tông về nam. Tháng 6 ÂL năm đó, [[Bồ Sát Quan Nô]] từ Bạch châu về Quy Đức can ngăn không cho Ai Tông về nam, lại nói với bộ chúng
:''Ai còn bàn chuyện nam thiên thì sẽ chém''.
 
:''Trẫm sở dĩ đem ngôi báu nhường cho khanh là vì vạn bất đắc dĩ. Trẫm thì cơ thể béo đẫy chả ngựa nào chịu nổi, còn khanh tài giỏi thao lược, nếu vạn nhất mà thoát được thì tông miếu giữ được, đó chính là ý của trẫm''<ref name="TTTTG167" />.
 
Sáng hôm sau, [[Hoàn Nhan Thừa Lân]] lên ngôi, tức là [[Kim Mạt Đế]]<ref name="TTTTG167" />. Vừa lúc đó quân Tống đánh vào thành nam. [[Hoàn Nhan Hốt Tà Hổ]] cùng khoảng 1000 quân ra nghênh chiến, quân lính bị thương vong gần hết. Vua Kim tuyệt vọng liền lui về Lan Hiên tự vẫn. Năm đó Kim ông được 37 tuổi, giữ ngôi 11 năm. [[Hoàn Nhan Hốt Tà Hổ]] được tin, nói với tướng sĩ
:''Chúa thượng đã băng, ta còn chiến đấu vì cái gì nữa. Nhưng ta có chết cũng phải chết rõ ràng không chết trong loạn binh. Nay ta đi theo chủ thượng, các ông hãy tự mà lo liệu lấy''.
 
:''Tiên đế ở ngôi 10 năm, cần kiệm khoan nhân, có chí khôi phục nghiệp cũ, nhưng chí chưa thành mà đã mất, thực là ai oán, nên truy trụy là Ai''.
 
Lễ tôn thụy vừa xong thì liên quân đánh vào, [[Hoàn Nhan Thừa Lân]] chết trong loạn quân<ref name="TTTTG167" />. [[Hoàn Nhan Phong Sơn]] theo di chiếu đã cho hỏa thiêu di hài Kim chủ. Tướng Tống Giang Hải vào cung bắt được tham chính [[Trương Thiên Cương]]. [[Mạnh Củng]] vào hỏi nơi ở của Ai Tông thì mới biết Ai Tông đã chết. [[Mạnh Củng]] cho quân dập lửa và nhìn thấy thi hài khô đét của Kim chủ. Rồi cùng [[Tháp Sát Nhi]] đem hài cốt Ai Tông và vàng bạc châu báu của Kim chia làm hai, mỗi bên lấy một, lấy tây bắc Trần Thái làm ranh giới, bắc thuộc Mông, nam thuộc Tống. Nước Kim diệt vong. Tháng 4 ÂL, [[Trương Thiên Cương]] cùng phần thi hài Ai Tông bị đưa về Tống. Tri Lâm An phủ [[Tiết Quỳnh]] vấn tội Thiên Cương, Thiên Cương tỏ ra bất khuất và hỏi vặn việc triều Tống mất nhị đế khi trước. Quần thần nước Tống ép Thiên Cương viết tờ biểu thú tội, coi Ai Tông như một chủ rợ, Thiên Cương không nghe và ghi và hộp đứng hài cốt bốn chữ ''cố chủ tuẫn quốc''. Thi hài Ai Tông bị đưa vào kho ngục Đại lý tự<ref name="TTTTG167" />. Nước Kim từ [[Kim Thái Tổ|Thái Tổ A Cốt Đả]] đến Ai Tông là được gần 120 năm, trải 6 đời, truyền 9 chủ.
 
== Tham khảo ==