Khác biệt giữa các bản “Cáo đảo”

n
→‎Mô tả: AlphamaEditor, thêm ref thiếu nội dung, Excuted time: 00:00:16.9290000
n (Thay thế ‘(?mi)\{\{(Liên kết chọn lọc|Link FA)\|.+?\}\}\n?’ bằng ‘’.: deprecated template)
n (→‎Mô tả: AlphamaEditor, thêm ref thiếu nội dung, Excuted time: 00:00:16.9290000)
 
==Mô tả==
Chúng là loài nhỏ hơn so với cáo xám và có lẽ cáo đảo là loài cáo nhỏ nhất ở [[Bắc Mỹ]], một con cáo đảo có kích thước trung bình còn nhỏ hơn đáng kể so với loài [[cáo chạy nhanh]] hay [[cáo Kit]]. Cáo đảo có chiều dài cơ thể là 48–50&nbsp;cm (18-20 inch), chiều cao từ 12–15&nbsp;cm (4-6 inch), và đuôi có chiều dài là 11–29&nbsp;cm (4-11 inch), ngắn hơn cả đuôi của cáo xám có chiều dài từ 27–44&nbsp;cm (10-17 inch). Điều này thực tế là do cáo đảo thường có hai đốt sống đuôi, ít hơn so với cáo xám.<ref>{{chú thích sách|last=Grambo|first=Rebecca L|title=The World of the Fox|year=1995|publisher=Greystone Books|location=Vancouver|isbn=0-87156-377-0|page=102}}</ref> Khối lượng của chúng chỉ từ 1 đến 2,8&nbsp;kg (2,2 và 6,2&nbsp;lb). Con đực có khối lượng thường lớn hơn so với con cái.<ref name = "Morris">{{chú thích tạp chí | author = Moore, C.M. and Collins, P.W. | year = 1995 | title = Mammalian Species|title=Urocyon littoralis|url=http://www.science.smith.edu/departments/Biology/VHAYSSEN/msi/pdf/i0076-3519-489-01-0001.pdf | volume = 489 | pages = 1–7}}</ref> Phân loài lớn nhất là tại đảo Santa Catalina và nhỏ nhất là ở đảo Santa Cruz.<ref name = "Morris">{{cite journal | author = Moore, C.M. and Collins, P.W. | year = 1995 | title = Mammalian Species|title=Urocyon littoralis|url=http://www.science.smith.edu/departments/Biology/VHAYSSEN/msi/pdf/i0076-3519-489-01-0001.pdf | volume = 489 | pages = 1–7}}</ref>
 
Cáo đảo có lông màu xám ở phần đầu, một màu đỏ hồng trên mặt, lông trắng ở dưới bụng, cổ họng và nửa dưới của phần mặt, và một sọc đen trên lưng và đuôi.<ref name = "Morris">{{cite journal | author = Moore, C.M. and Collins, P.W. | year = 1995 | title = Mammalian Species|title=Urocyon littoralis|url=http://www.science.smith.edu/departments/Biology/VHAYSSEN/msi/pdf/i0076-3519-489-01-0001.pdf | volume = 489 | pages = 1–7}}</ref> Cáo đảo mỗi năm thay lông một lần vào giữa tháng 8 và tháng 11. Trước khi thay lông, thì con non có bộ lông thường sẫm màu hơn so với con trưởng thành.
[[Tập tin:Urocyon littoralis pup.jpg|nhỏ|Một con cáo nép mình trong bui cây]]
Cáo đảo sống thành từng cặp vợ chồng vào mùa sinh sản của chúng bắt đầu vào tháng giêng và qua mùa sinh sản, tới cuối tháng 2 đến đầu tháng 3. Thời kỳ mang thai là 50-63 ngày. Con cái sinh đẻ trong một cái hang, một lứa thường có 1-5 con non, với trung bình là từ 2 tới 3 con. Con non được sinh ra vào mùa xuân và ló ra khỏi hang vào đầu mùa hè, sống với mẹ chúng trong 7-9 tuần. Chúng đạt độ tuổi sinh sản khi được 10 tháng tuổi, và con cái thường sinh sản ngay trong năm đầu tiên. Cáo đảo có tuổi thọ từ 4-6 năm trong tự nhiên và có thể sống tới 8 năm trong tình trạng nuôi nhốt.<ref name = "Morris">{{cite journal | author = Moore, C.M. and Collins, P.W. | year = 1995 | title = Mammalian Species|title=Urocyon littoralis|url=http://www.science.smith.edu/departments/Biology/VHAYSSEN/msi/pdf/i0076-3519-489-01-0001.pdf | volume = 489 | pages = 1–7}}</ref>
[[Tập tin:Urocyon littoralis with prey*corrected*.jpg|trái|nhỏ|Hình ảnh chụp vào ban đêm.]]
Môi trường sống ưa thích của cáo đảo là thảm thực vật kết hợp với mật độ cao cây thân gỗ và cây bụi. Chúng sống ở tất cả các đảo có quần xã sinh vật có rừng ôn đới, ôn đới đồng cỏ và vùng cây bụi, không có hòn đảo nào có hơn 1.000 cá thể cáo đảo sinh sống. Thức ăn của chúng là trái cây, côn trùng, chim, trứng, cua, thằn lằn và động vật có vú nhỏ. Cáo đảo thường hoạt động vào ban đêm, mặc dù nhiều nhất là vào lúc bình minh và hoàng hôn. Hoạt động cũng chúng cũng biến động theo mùa, đó là tích cực hơn vào ban ngày trong mùa hè hơn là vào mùa đông.<ref name = "Morris">{{cite journal | author = Moore, C.M. and Collins, P.W. | year = 1995 | title = Mammalian Species|title=Urocyon littoralis|url=http://www.science.smith.edu/departments/Biology/VHAYSSEN/msi/pdf/i0076-3519-489-01-0001.pdf | volume = 489 | pages = 1–7}}</ref>
Cáo đảo không đe dọa tới con người, mặc dù lúc đầu chúng cho thấy sự hung hăng nhưng nhìn chung là chúng là loài hiền lành và khá dễ dàng để tiếp cận.<ref name = "Morris">{{cite journal | author = Moore, C.M. and Collins, P.W. | year = 1995 | title = Mammalian Species|title=Urocyon littoralis|url=http://www.science.smith.edu/departments/Biology/VHAYSSEN/msi/pdf/i0076-3519-489-01-0001.pdf | volume = 489 | pages = 1–7}}</ref> Chúng truyền thông tin bằng cách sử dụng thính giác, khứu giác và tín hiệu hình ảnh. Cáo đảo phát ra âm thanh như tiếng sủa và gầm gừ.<ref name=NPS>{{chú thích web|title=Island Fox|url=http://www.nps.gov/chis/naturescience/island-fox.htm|work=Channel Islands National Park|publisher=National Park Services|accessdate=ngày 18 tháng 1 năm 2013}}</ref> Chúng đánh dấu lãnh thổ bằng nước tiểu và phân.
== Hình ảnh ==
<gallery>