Khác biệt giữa các bản “Tăng đoàn”

n
sửa chính tả 3, replaced: Thượng Tọa → Thượng tọa using AWB
n (sửa chính tả 3, replaced: Thượng Tọa → Thượng tọa using AWB)
===Ni đoàn===
Mặc dù, Phật Thích Ca không hoan hỉ trong việc cho phụ nữ xuất gia, nhờ sự can thiệp của [[A-nan-đà]] (Ananda) mà Phật chấp nhận thành lập ni đoàn, Phật dạy đại đức rằng:
:"Này Ananda, nếu phụ nữ không được phép [[xuất gia]] và sống trong Pháp và Luật của Ta, thì cuộc sống Thánh hạnh của các đệ tử của Ta có thể giữ vững dài lâu, Chánh pháp cao cả của Ta có thể duy trì một ngàn năm, nhưng vì phụ nữ được phép xuất gia, cuộc sống Thánh của các đệ tử Ta sẽ không duy trì dài lâu, và từ nay Chánh pháp cao cả của Ta chỉ còn tồn tại 500 năm nữa mà thôi".
 
:"Cũng như, này Ananda, có những ngôi nhà có nhiều phụ nữ và ít đàn ông, những ngôi nhà đó rất dễ bị mất trộm. Nếu để phụ nữ xuất gia, sống trong Pháp và Luật của Như Lai, cuộc sống Thánh của các đệ tử sẽ khó mà duy trì dài lâu. Cũng như một người đắp một con đê để ngăn một bể nước lớn, không để cho nước tràn qua. Ta cũng vậy, Ta chế định ra 8 giới điều nghiêm khắc trên là để ngăn ngừa không để cho [[Tỳ kheo ni]] vi phạm".<ref name="lichsu">[http://www.buddhistedu.org/viet/index.php/phat-phap/lich-su-phat-giao-1/454-lich-su-duc-phat-thich-ca Lịch sử đức Phật Thích Ca]</ref>
==Danh xưng và phân cấp==
[[Tập tin:Almsbowl2.jpg|thumb|trái|130px|Một bình bát, thường được sử dụng bởi các vị tăng]]
Phẩm trật của các vị tu sĩ có thể được phân chia theo [[tuổi hạ]], tức là cách tính thời gian công đức tu hành của họ. Theo Tứ Phần Luật, Tỳ kheo được phân chia làm 4 cấp theo tuổi hạ được tính: Hạ Tọa (0 đến 9 hạ), Trung Tọa (10 đến 19 hạ), Thượng Tọatọa (20 đến 49 hạ) và Trưởng Lão (50 hạ trở lên),<ref name="sen2">[http://thuvienhoasen.org/D_1-2_2-156_4-12202/06-danh-xung-hoa-thuong-ni-trong-dao-phat.html Danh xưng Hòa thượng Ni trong đạo Phật]</ref> từ đó có thể được tấn phong thành [[Đại đức]], [[Thượng toạ|Thượng tọa]] hay là [[Hòa thượng]].
 
Tại Việt Nam, những người mới xuất gia, nếu nhỏ tuổi ở miền Bắc gọi là ''Chú Tiểu'', miền Trung gọi là ''Chú Ðiệu'', miền Nam gọi là ''Ông Ðạo nhỏ''. Những tu sĩ đã thọ Tỳ Kheo Giới từ 20 tuổi đến 60 tuổi đời đều gọi là ''Thầy'' và nếu trên 60 tuổi đời, ở miền Trung gọi là ''Ôn'', còn ở miền Bắc gọi là ''Sư Ông'', ''Sư Cụ'' và nếu lớn tuổi mới xuất gia thì gọi là "''Sư bác''". Các nữ tu sĩ thường được gọi là ''ni sư'', ''sư cô, ni cô'' hay là ''[[Tỳ Kheo ni]]''. Ngược lại các vị được gọi thì tự xưng mình là "''bần tăng''" hay "''bần ni''" mà không tự xưng mình là ''Thầy''.<ref name="sen2"/> Nếu trên 80 tuổi đời và có 60 tuổi hạ, còn có thể được gọi là "''[[Hòa thượng|đại lão hòa thượng]]''".
 
 
==Xem thêm==