Khác biệt giữa các bản “Vệ Thanh”

n
→‎top: sửa chính tả 3, replaced: tên chữtên tự using AWB
n (→‎top: sửa chính tả 3, replaced: tựtên chữ using AWB)
n (→‎top: sửa chính tả 3, replaced: tên chữtên tự using AWB)
'''Vệ Thanh''' ([[Trung văn giản thể]]: 卫青, [[Trung văn phồn thể|phồn thể]]: 衛青, ?-[[106 TCN]]), còn gọi là '''Trịnh Thanh''', nguyên là người huyện Bình Dương, Hà Đông<ref>Nay nằm ở phía tây nam Lâm Phần, [[Sơn Tây]], [[Trung Quốc]]</ref>, [[Tên chữ (người)|tên chữtự]] là '''Trọng Khanh''' (仲卿), là tướng lĩnh [[nhà Hán]] trong [[lịch sử Trung Quốc]], em trai của hoàng hậu [[Vệ Tử Phu]]. Dưới thời [[Hán Vũ Đế]] (140 TCN - 87 TCN), ông vào cung làm thị vệ, trải qua các chức vụ Kiến Chương giám, Thị trung, Thái trung đại phu, Xa kị tướng quân rồi Quan nội hầu, Đại tướng quân và Đại tư mã, đồng thời được [[Hán Vũ Đế]] phong tước Trường Bình hầu, thực ấp lên tới 16700 hộ, ngoài ra Vũ Đế còn đem Bình Dương công chúa gả cho Vệ Thanh. Trong những năm từ 129 TCN đến 119 TCN, Vệ Thanh từng bảy lần đại thắng quân [[Hung Nô]] ở phía bắc, lập được công to cho triều đình. Ông qua đời vào năm 106 TCN, được truy tôn là Trường Bình Liệt hầu, con cháu tiếp tục được kế tập tước hầu. Vệ Thanh được xem là một trong các đại danh tướng trong lịch sử phong kiến Trung Quốc, cùng với [[Bạch Khởi]], [[Hàn Tín]], [[Lý Tĩnh]], [[Nhạc Phi]] và [[Từ Đạt]], do có công đánh quân rợ phía bắc mở rộng bờ cõi cho nhà Hán và là tấm gương cho các tướng lĩnh đời sau.
 
== Thân thế ==